1
LỜI CẢM ƠN
Với tình cảm chân thành, tôi xin được bày tỏ sự biết ơn sâu sắc đến Ban lãnh
đạo, các Giáo sư, Tiến sĩ, các thầy cô giáo của Khoa Quản trị Kinh doanh và Viện
Đào tạo Sau đại học, Viện Đại Học Mở Hà Nội đã tận tình hướng dẫn, giảng dạy,
dìu dắt, giúp đỡ và tạo điều kiện trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn
thành luận văn khoa học.
Tôi xin chân thành cảm ơn sâu sắc nhất đến Phó Giáo Sư - Tiến Sĩ Vũ Thị
Mai, người trực tiếp hướng dẫn khoa học, đã hết lòng chỉ bảo, hướng dẫn, dìu dắt và
động viên tôi hoàn thành luận văn.
Tôi xin trân trọng biết ơn Ban Giám hiệu và các cán bộ, công nhân viên chức
quốc phòng, Công đoàn, Phụ nữ, Đoàn thanh Cộng sản Hồ Chí Minh Trường Trung
cấp nghề số 17/Bộ Quốc phòng, đã nhiệt tình cung cấp những tư liệu quý, giúp tôi
hoàn thành luận văn.
Xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ từ gia đình thân yêu của tôi.
Mặc dù, với sự nỗ lực cao nhất song chắc chắn luận văn không thể tránh khỏi
những thiếu sót, tôi kính mong được sự chỉ dẫn, góp ý của Thầy, Cô trong Hội đồng
khoa học, cùng các đồng nghiệp để luận văn được hoàn thiện.
Hà Nội, ngày….tháng…. năm 2013 Mai Thị Hường
Bộ Quốc Phòng 40
3
2.2. CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO NGHỀ
TẠI TRƯỜNG TRUNG CẤP NGHỀ SỐ 17 - BỘ QUỐC PHÒNG 47
2.2.1. Chủ trương, chính sách của nhà nước và trường trung cấp nghề số
17 - Bộ Quốc Phòng về nâng cao chất lượng đào tạo nghề. 47
2.2.2. Đặc điểm nguồn nhân lực của trường 50
2.2.3. Cơ sở vật chất , kỹ thuật của cơ sở dậy nghề. 59
2.2.4. Nhu cầu đào tạo nghề của xã hội. 64
2.2.5. Chương trình, giáo trình dạy nghề. 66
2.2.6. Học Sinh của Trường trung cấp nghề số 17- BQP. 70
2.3. THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO NGHỀ CỦA TRƯỜNG
TRUNG CẤP NGHỀ SỐ 17 - BỘ QUỐC PHÒNG. 72
2.3.1.Vận dụng tiêu chí về chất lượng đào tạo để đánh giá chất lượng đào
tạo của trường. 72
2.3.1.1. Về khối lượng, nội dung và trình độ kiến thức được đào tạo. 72
2.4. ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO 83
2.4.1. Những kết quả đạt được 83
2.4.2. Những hạn chế 83
2.4.3. Nguyên nhân của những kết quả và hạn chế 85
CHƯƠNG 3: CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO
NGHỀ TRƯỜNG TRUNG CẤP NGHỀ SỐ 17 - BỘ QUỐC PHÒNG 89
3.1. QUAN ĐIỂM VỀ ĐÀO TẠO NGHỀ. 89
3.1.1. Quan điểm 1: Thực hiện chủ trương xã hội hóa về dạy nghề 89
3.1.2. Quan điểm 2: Đào tạo nghề phải xuất phát từ nhu cầu sản xuất xã
hội gắn với giải quyết việc làm 90
3.1.3. Quan điểm 3: Liên thông trong đào tạo nghề 90
3.1.4. Quan điểm 4: Đào tạo nghề phải xuất phát từ nhu cầu sản xuất xã
hội gắn với giải quyết việc làm 91
BẢNG
Bảng 2.1: Số lượng sinh viên/giáo viên tính tại thời điểm tháng 12/2012 50
Bảng 2.2: Đội ngũ giáo viên tháng 12/2012 51
Bảng 2.3: Năng lực chuyên môn, trình độ ngoại ngữ và tin học của đội ngũ cán
bộ, giáo viên 52
Bảng 2.4. Tổng hợp kết quả chấp hành các quy định, quy chế chuyên môn
trong giáo dục của giáo viên dạy trung cấp nghề năm 2012. 54
Bảng 2.5: Biên chế cán bộ quản lý các phòng ban và chức năng 57
nhiệm vụ năm 2012 57
Bảng 2.6: Thống kê diện tích xây nhà xưởng của trường 60
Bảng 2.7: Thống kê cơ sở vật chất của trường 61
Bảng 2.8. Kết quả tư vấn việc làm 70
Bảng 2.9: Số lượng học sinh được đào tạo từ 1/1/2007 đến 31/12/2012 71
Bảng 2.10: Kết quả đào tạo các ngành giai đoạn 2008-12/2012 71
Bảng 2.11: Chương trình đào tạo nghề Hàn 73
Bảng 2.12: Thực trạng kỹ năng, kỹ xảo của học sinh tốt nghiệp 75
Bảng 2.13: Thực trạng năng lực nhận thức và tư duy của học sinh tốt nghiệp 78
Bảng 2.14: Thực trạng phẩm chất nhân văn của học sinh tốt nghiệp 81
7
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Yếu tố quyết định thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
chính là chất lượng nguồn lực con người , chất lượng nguồn lực con người lại phụ
thuộc chủ yếu về chất lượng giáo dục. Cùng với khoa khoc công nghệ , giáo dục
đào tạo là nhân tố quyết định tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội.
Để nâng cao chất lượng đào tạo hiện nay là nhiệm vụ trọng tâm,cần thiết đối với
ngành giáo dục đào tạo nói chung và đối với trường trung cấp nghề số 17-BQP nói
riêng.
Trường Trung cấp nghề số 17/Bộ Quốc phòng là một cơ sở dạy nghề trong
hệ thống các trường dạy nghề quân đội có chức năng và nhiệm vụ đào tạo nghề.
Thực tế cho thấy, hoạt động đào tạo của nhà trường còn nhiều hạn chế và bất cập.
Do đó, nâng cao chất lượng đào tạo đang là yêu cầu cấp bách đối với Nhà trường
hiện nay. Tuy nhiên cho tới nay, chưa có một công trình nghiên cứu nào về nâng
cao chất lượng đào tạo nghề của các cơ sở đào tạo nghề trong quân đội. Nhận thức
rõ được vấn đề này, tôi mạnh dạn chọn và nghiên cứu đề tài: “Nâng cao chất lượng
đào tạo nghề của trường Trung cấp nghề số 17/Bộ Quốc phòng" để làm luận
văn thạc sĩ chuyên ngành quản trị kinh doanh và hy vọng rằng qua luận văn này, tôi
có thể góp phần thêm vào cơ sở nghiên cứu lý luận cũng như đánh giá thực tiễn và
đề xuất một số biện pháp nâng cao chất lượng đào tạo nghề trong quân đội nói
chung và với trường Trung cấp nghề số 17/Bộ Quốc phòng nói riêng.
2. Đối tượng nghiên cứu
Các vấn đề về chất lượng đào tạo nghề của trường trung cấp nghề số 17- Bộ
Quốc phòng.
2.1. Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: Chất lượng công tác đào tạo nghề của Trường Trung cấp nghề số
17/Bộ Quốc phòng.
- Về thời gian: từ năm 2010 – 2012.
2.2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
9
+ Làm rõ các phạm trù lý luận về đào tạo nghề, chất lượng đào tạo nghề , các
yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo nghề và phương phát nâng cao chất
lượng đào tạo nghề.
+ Phân tích thực trạng chất lượng đào tạo nghề của trường trung cấp nghề số
17- Bộ Quốc Phòng.
+ Đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo nghề của trường 17-
Bộ Quốc Phòng.
khái niệm này được nhiều ngành khoa học khác nhau nghiên cứu từ nhiều góc độ
khác nhau
Ở Việt Nam, nhiều định nghĩa nghề được đưa ra, song chưa được thống nhất.
Chẳng hạn như: Nghề là một tập hợp lao động do sự phân công lao động xã hội quy
định mà giá trị của nó trao đổi được. Nghề mang tính tương đối, nó phát sinh, phát
triển hay mất đi do trình độ của nền sản xuất và nhu cầu xã hội.
Mặc dù khái niệm nghề được hiểu dưới nhiều góc độ khác nhau, song chúng ta có
thể nhận thấy một số nét đặc trưng nhất định sau:
- Đó là hoạt động, là công việc về lao động của con người được lặp đi lặp lại.
- Là sự phân công lao động xã hội, phù hợp với yêu cầu xã hội.
- Là phương tiện để sinh sống.
- Là lao động kỹ năng, kỹ xảo chuyên biệt có giá trị trao đổi trong xã hội, đòi
hỏi phải có một quá trình đào tạo nhất định.
Hiện nay, xu thế phát triển của nghề chịu tác động mạnh mẽ của tác động khoa học,
kỹ thuật và văn minh nhân loại nói chung và về chiến lược phát triển khoa học, kỹ
11
thuật của mỗi quốc gia nói riêng. Bởi vậy, phạm trù "Nghề" biến đổi mạnh mẽ và
gắn chặt với xu hướng phát triển khoa học, kỹ thuật của đất nước.
1.1.2. Khái niệm đào tạo nghề
Đào tạo nghề là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và
thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học nghề để có thể tìm được việc làm hoặc
tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khóa học ( Điều 5.1 Luật dạy nghề, NXB: Chính
trị Quốc gia, 2006 ).
Theo khái niệm này, đào tạo nghề không chỉ dừng lại trang bị những kiến
thức, kỹ năng cơ bản mà còn đề cập đến thái độ lao động cơ bản. Điều này thể hiện
tính nhân văn, tinh thần xã hội chủ nghĩa, đề cao người lao động trong quan niệm về
lao động, nó thể hiện đầy đủ hơn về vấn đề tinh thần và kỷ luật lao động- một yếu tố
vô cùng quan trọng trong hoạt động sản xuất với công nghệ, kỹ thuật tiên tiến hiện
nay.
*Căn cứ vào trình độ đào tạo nghề
- Quyết định 48/2002/QĐ- TTg ngày 11 tháng 4 năm 2002 về việc phê duyệt quy
hoạch mạng lưới dạy nghề giai đoạn 2002- 2010 quy định trình độ đào tạo:
+ Trình độ bán lành nghề: trang bị một số kiến thức, kỹ năng nghề nhất định. Tổ
chức đào tạo cấp trình độ này nhằm cung cấp lao động cho nhu cầu phát triển ngành
nghề đơn giản, doanh nghiệp vừa và nhỏ, chuyển đổi cơ cấu lao động tại chỗ, phát
triển kinh tế trang trại, kinh tế gia đình và phát triển cơ hội có việc làm cho người
lao động.
+ Trình độ lành nghề: người học được trang bị đầy đủ kiến thức lý thuyết tổng
hợp và kỹ năng thực hành chuyên sâu giúp họ có khả năng đảm nhận được những
công việc phức tạp.
+ Trình độ cao: người học được hệ thống lý thuyết và kỹ năng thực hành đầy đủ
mà họ còn được tiếp cận với những khoa học mới, với công nghệ tiên tiến, hiện đại
từ đó họ có thể thực hiện công việc trên những thiết bị mới, những công việc cần
trình độ cao và khéo léo.
13
- Theo điều 6, điều 10,điều 17, điều 24, Luật dạy nghề, NXB Chính trị Quốc gia,
2006 Dạy nghề có ba trình độ đào tạo.
+ Trình độ sơ cấp nghề: trang bị cho người học nghề năng lực thực hành một
nghề đơn giản hoặc năng lực thực hành một số công việc của một nghề; có đạo đức,
lương tâm nghề nghiệp, ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp, có sức khỏe và tạo
điều kiện cho người học sau khi tốt nghiệp có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc
làm hoặc tiếp tục học lên trình độ cao hơn.
+ Trình độ trung cấp nghề: người học được trang bị kiến thức chuyên môn và
năng lực thực hành các công việc của một nghề; có khả năng làm việc độc lập và
ứng dụng kỹ thuật, công nghệ vào công việc; có thái độ nghề nghiệp; tạo điều kiện
cho người học tự tạo việc làm, tìm việc làm hoặc tiếp tục học lên trình độ cao hơn
sau khi tốt nghiệp.
+ Trình độ cao đẳng nghề: trang bị cho người học nghề kiến thức chuyên môn
THCS 4 năm
Từ lớp 6 - lớp 9
(Từ 11 đến 15 tuổi) Tiểu học 5 năm
Từ lớp 1 - lớp 5
(Từ 6 đến 11 tuổi) Mầm non
(Từ 3 đến 6 tuổi)
Dạy nghề:
TC,CĐ:
Từ 1 năm
đến 3 năm
Sơ cấp:
Dưới 1 năm Giáo
dục
thường xuyên
15
Theo sơ đồ hệ thống khung giáo dục quốc dân, đào tạo nghề được thực hiện ở
các cấp khác nhau, ở lứa tuổi khác nhau và được phân luồng để đào tạo nghề phù
máy chuyên trách mà dựa vào điều kiện tự nhiên sẵn có của doanh nghiệp. Chương
trình đào tạo gồm hai phần là lý thuyết và thực hành sản xuất. Phần lý thuyết được
giảng tập trung do các kỹ sư, cán bộ phụ trách. Phần thực hành được tiến hành ở các
phân xưởng thực tập và do các kỹ sư hoặc công nhân lành nghề hướng dẫn.
* Các trường dạy nghề trong quân đội
Để đáp ứng yêu cầu sản xuất ngày càng phát triển trên cơ sở kỹ thuật hiện
đại, Bộ Quốc phòng hoặc các ngành cần tổ chức các trung tâm dạy nghề, các trường
dạy nghề , quy mô tương đối lớn, đào tạo bộ đội xuất ngũ, dân sự có trình độ lành
nghề cao. Khi tổ chức các trường dạy nghề cần phải có bộ máy quản lý, đội ngũ
giáo viên chuyên trách và cơ sở vật chất riêng cho đào tạo. Để nâng cao chất lượng
đào tạo nghề của các trường, cần phải đảm bảo các điều kiện sau đây:
Phải có kế hoạch và chương trình đào tạo. Chương trình đào tạo bao gồm cả
hai phần lý thuyết và thực hành. Chương trình dạy nghề phải được Hiệu trưởng phối
hợp với Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ có liên quan, trên cơ sở thẩm
định của hội đồng thẩm định ngành về chương trình dạy nghề, quy định chương
trình khung cho từng trình độ nghề được đào tạo bao gồm cơ cấu nội dung, số
lượng, thời lượng các môn học và kỹ năng nghề, tỷ lệ giữa lý thuyết và thực hành,
bảo đảm mục tiêu cho từng ngành nghề đào tạo.
Phải có đội ngũ giáo viên dạy nghề có đủ khả năng chuyên môn và kinh
nghiệm giảng dạy.
Phải được trang bị máy móc, thiết bị phục vụ cho giảng dạy và học tập, các
phòng thí nghiệm, xưởng trường. Các tài liệu giảng dạy phải được biên soạn thống
nhất cho các nghề.
Như vậy, muốn cho việc đào tạo có chất lượng phải đi từ vấn đề cơ bản của
công tác dạy nghề như: định rõ nhiệm vụ, mục tiêu của trường, lớp; tăng cường
trang thiết bị, máy móc, thiết bị phục vụ cho việc giảng dạy, học tập; đào tạo đội
ngũ giáo viên; ban hành những chế độ, chính sách cần thiết như quy chế trường lớp,
tiêu chuẩn giáo viên, tiêu chuẩn tuyển sinh…
17
18
thạc sỹ): 3.782 người; đại học: 16.474 người; cao đẳng: 5.927 người; nghệ nhân,
người có tay nghề cao: 5.344 người và trình độ khác: 4.435 người
Ngoài ra, còn có các hình thức đào tạo nghề khác đã mang lại một số kết quả
đáng nghi nhận trong đào tạo nguồn nhân lực, góp phần không nhỏ vào việc đáp
ứng nhu cầu của các doanh nghiệp.
Cơ cấu xã hội hóa nguồn lực cho hoạt động dạy nghề cũng có những chuyển
biến nhất định, chỉ tính riêng năm 2012, trong tổng số vốn đầu tư cho dạy nghề,
ngân sách nhà nước chiếm 63%, đầu tư nước ngoài chiếm 3%, doanh nghiệp chiếm
10%, người học chiếm 21%, các cơ sở đào tạo chiếm 3%. Mức đầu tư từ ngân sách
nhà nước đã tăng dần: năm 2001 tổng chi ngân sách nhà nước cho giáo dục - đào
tạo chiếm 15,5%, trong đó chi cho dạy nghề chiếm 4,9% (so với tổng chi ngân sách
nhà nước cho giáo dục - đào tạo), số liệu tương ứng của năm 2008 là 17,9% và
6,5%, năm 2010 là 20% và 7,0% .
Chất lượng đào tạo nghề từng bước được nâng cao, có khoảng 70% học sinh
học nghề tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm ngay sau khi tốt nghiệp, một số
nghề và một số cơ sở dạy nghề tỷ lệ này đạt trên 90%, thậm chí được doanh nghiệp
tiếp nhận 100% học sinh tốt nghiệp ra trường. Theo đánh giá của người sử dụng lao
động về kỹ năng nghề của lao động qua đào tạo nghề thì có khoảng 30% đạt loại
khá và giỏi; 58% trung bình; về ý thức kỷ luật và tác phong chuyên nghiệp: 51% đạt
loại tốt và khá.
Tuy nhiên, trong các cơ sở sản xuất ở nước ta, số lượng công nhân và lao
động giản đơn chiếm khoảng 80% đội ngũ lao động (riêng năm 2011 số lao động
qua đào tạo nghề chỉ khoảng 10 triệu người (chiếm 22%) trên 46,4 triệu người đang
hoạt động kinh tế thường xuyên), còn các nhà kỹ thuật, quản lý, phát minh và đổi
mới công nghệ chỉ chiếm khoảng 20%, ở các quốc gia phát triển, con số tương ứng
là 28% và 72%. Đặc biệt, đội ngũ lao động chất lượng cao ở các trình độ: chuyên
gia, kỹ sư, kỹ thuật viên và CNKT có tay nghề vừa thiếu lại vừa yếu, tỷ lệ lao động
đã được đào tạo nghề nghiệp và kỹ năng trong tổng số lực lượng lao động của nước
ta được coi là thấp nhất trong khu vực. Tốc độ xã hội hóa công tác dạy nghề còn
xây dựng và phát triển Quân đội nhân dân Việt Nam. Trong thời kỳ kháng chiến
20
chống Mỹ, cứu nước và 10 năm xây dựng CNXH trên phạm vi cả nước (1975-
1986), các trường dạy nghề quân đội được thành lập chủ yếu đáp ứng yêu cầu
nhiệm vụ của các quân khu, quân chủng, binh chủng, phục vụ cho nhiệm vụ chiến
đấu giải phóng dân tộc và chiến đấu bảo vệ Tổ quốc XHCN. Trang bị vật chất - kỹ
thuật của các trường gắn liền với sự giúp đỡ của các nước XHCN, khả năng sáng
tạo của cán bộ, chiến sĩ trong quân đội và những thành tựu khoa học, kỹ thuật của
ngành công nghiệp trong nước. Do vậy, trang bị vật chất - kỹ thuật ít có tính lưỡng
dụng, tập trung nhằm bảo đảm thực hiện thắng lợi chức năng của quân đội. Từ
những vấn đề trên đã khẳng định: tính chất xã hội hoá rất hạn chế, nhiệm vụ đào tạo
phục vụ chủ yếu theo yêu cầu của từng quân khu, quân chủng, binh chủng trong
từng giai đoạn, thời kỳ cách mạng. Chức năng chủ yếu của các trường dạy nghề
quân đội là đào tạo các nhân viên kỹ thuật như: lái xe, sửa chữa xe ô tô và vũ khí,
nhân viên lắp ráp vũ khí trang bị quân sự, nhân viên quân khí, y tá, quân nhu, ….
Quy mô, cơ cấu các trường dạy nghề quân đội phụ thuộc vào nhiệm vụ của mỗi
quân, binh chủng. Đặc điểm chức năng, nhiệm vụ trên đã tác động, ảnh hưởng nhiều
tới chất lượng đào tạo bởi điều kiện của đất nước nói chung và quân đội nói riêng,
song chất lượng đào tạo nghề trong các trường dạy nghề quân đội vẫn được quan
tâm phù hợp và góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị trung tâm của
trường dạy nghề.
Trong công cuộc đổi mới của đất nước, do nguồn nhân lực lao động có kỹ
thuật cao của chúng ta rất hạn chế, vì vậy tác động ảnh hưởng lớn đến sự phát triển
kinh tế đất nước. Việc khai thác khả năng của các trường dạy nghề quân đội đóng
góp phần không nhỏ vào đào tạo nguồn nhân lực lao động kỹ thuật cao của đất nước
và của quân đội. Nhiệm vụ trên đặt ra nhiều vấn đề đối với các trường dạy nghề
quân đội như: quy mô tổ chức, cơ sở vật chất, kỹ thuật có trình độ tương xứng với
mặt bằng chung của đất nước và trong khu vực, đội ngũ nhân viên, cơ sở bảo đảm
…, trong đó đặc biệt quan trọng là trình độ năng lực, phẩm chất, khả năng tổ chức
lượng đội ngũ giảng viên không ngừng tăng. Đồng thời, cuộc cách mạng khoa học
công nghệ trên thế giới phát triển mạnh mẽ, khả năng ứng dụng các thành tựu khoa
22
học, kỹ thuật nhanh, do vậy các trường dạy nghề quân đội luôn chú trọng đào tạo, bồi
dưỡng đội ngũ giảng viên, bảo đảm giỏi cả về lý thuyết và thực hành. Do đối tượng
học viên không chỉ là quân nhân, còn bao gồm dân sự, chính vì vậy để các giảng
viên, giáo viên hoàn thành nhiệm vụ, các trường cũng chú trọng bồi dưỡng về
phương pháp tổ chức, phương pháp quản lý và cách thức xử lý các tình huống, rèn
luyện bản lĩnh… cho đội ngũ giáo viên. Công tác quản lý học viên đi vào nề nếp và
được nâng cao, đặc biệt đối với học viên là dân sự, quản lý trên cơ sở lấy chất lượng
là chính, giáo dục ý thức nghề nghiệp, ý thức tuân thủ kỷ luật trong học tập, lao động,
bảo đảm an toàn trong dạy - học. Do đặc điểm là học viên dân sự, có những vai trò
khác nhau trong xã hội, vì vậy tính kế hoạch trong dạy học luôn linh hoạt, tạo điều
kiện bảo đảm cho người học hoàn thành tốt các nội dung khoa học.
Hiện tại trong Quân đội có tất cả 18 trường dạy nghề (bao gồm 02 trường cao
đẳng nghề và 16 trường trung cấp nghề)
Thực hiện chủ trương của Đảng, Nhà nước về “Chiến lược phát triển giáo dục
2002 - 2010” và Quyết định số 48/2002/QĐ-TTg ngày 14/4/2002 của Thủ tướng
Chính phủ về việc phê duyệt quy hoạch mạng lưới trường dạy nghề giai đoạn 2002
– 2010; Bộ Quốc phòng đã quy hoạch và mở rộng mạng lưới cơ sở dạy nghề trong
quân đội với mục đích là đào tạo nghề và giải quyết việc làm cho BĐXN và đào tạo
nguồn nhân lực cho sự nghiệp CNH, HĐH. Với 3 trường dạy nghề năm 2001, đến
năm 2007, BQP đã có 18 trường dạy nghề và 7 trung tâm dịch vụ việc làm để đáp
ứng ngày càng cao nhu cầu học nghề, giới thiệu việc làm của BĐXN. Những cơ sở
đào tạo, giới thiệu việc làm đều nằm trên các địa bàn, khu vực trọng điểm về quốc
phòng – an ninh và vùng trọng điểm phát triển kinh tế của cả nước.
Xuất phát từ nhu cầu đòi hỏi của công tác đào tạo nghề để đáp ứng với yêu
cầu của xã hội và chủ sử dụng lao động, trong những năm qua, các cơ sở đào tạo
nghề của Bộ Quốc phòng đã từng bước chuyển dần loại hình đào tạo, cùng với
nên bản chất sự vật, làm cho sự vật này khác sự vật kia” (Từ điển tiếng Việt thông
dụng – Nhà xuất bản Giáo dục – 1998).
24
+ Chất lượng là “mức hoàn thiện, là đặc trưng so sánh hay đặc trưng tuyệt
đối, dấu hiệu đặc thù, các dữ kiện, các thông số cơ bản” (Oxford Poket
Dictationary).
+ Chất lượng là “tiềm năng của một sản phẩm hay dịch vụ nhằm thỏa mãn
nhu cầu người sử dụng” (Tiêu chuẩn Pháp – NFX 50-109).
+ Chất lượng là “tập hợp các đặc tính của một thực thể (đối tượng) tạo cho
thực thể (đối tượng) đó khả năng thỏa mãn những nhu cầu đã nêu ra hoặc nhu cầu
tiềm ẩn” (TCVN- ISO 8402).
Tóm lại: Chất lượng là khái niệm trừu tượng, phức tạp và là khái niệm đa
chiều, nhưng chung nhất đó là khái niệm phản ánh bản chất của sự vật và dùng để
so sánh sự vật này với sự vật khác.
Khái niệm “chất lượng” đã trừu tượng và phức tạp thì khái niệm về “chất
lượng đào tạo nghề ” càng phức tạp hơn bởi liên quan đến sản phẩm là giá trị của
con người, một sự vật, sự việc. Như vậy, có thể hiểu chất lượng là để chỉ sự hoàn
hảo, phù hợp, tốt dẹp. Chất lượng đào tạo nghề là khái niệm đa chiều, không thể
trực tiếp đo đếm được và cảm nhận được. Chất lượng đào tạo nghề phản ánh trạng
thái đào tạo nghề nhất định và trạng thái đó thay đổi phụ thuộc vào các yếu tố tác
động đến nó. Sẽ không thể biết được chất lượng đào tạo nếu chúng ta không đánh
giá thông qua một hệ thống các chỉ tiêu và các yếu tố ảnh hưởng. Khái niệm chất
lượng đào tạo nghề là để chỉ chất lượng các công nhân kỹ thuật được đào tạo trong
hệ thống giáo dục nghề nghiệp theo mục tiêu và chương trình đào tạo xác định trong
các lĩnh vực ngành nghề khác nhau, biểu hiện một cách tổng hợp nhất ở mức độ
chấp nhận của thị trường lao động, của xã hội đối với kết quả đào tạo. Chất lượng
đào tạo nghề còn phản ánh kết quả đào tạo của các cơ sở đào tạo nghề, của cả hệ
thống đào tạo nghề. Chất lượng đào tạo nghề biến đổi theo thời gian và theo không
gian dưới tác động của các yếu tố.
tả tóm tắt thông tin thu nhận được.
- Áp dụng: áp dụng được các thông tin, kiến thức vào tình huống khác với
tình huống đã học.