Phát triển nguồn nhân lực cho các khu công nghiệp tỉnh yên bái giai đoạn 2013 - 2020 - Pdf 29



BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CHO CÁC KHU
CÔNG NGHIỆP TỈNH YÊN BÁI GIAI ĐOẠN 2013-2020 PHẠM DUY HƯNG CHUYÊN NGÀNH: QUẢN TRỊ KINH DOANH

MÃ SỐ:

60340102

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
GS.TS. NGUYỄN KẾ TUẤN
làm luận văn.
Tôi cũng xin trân trọng cảm ơn bạn bè, gia đình và đồng nghiệp – những
người đã luôn ủng hộ và động viên tôi nghiên cứu và hoàn thành luận văn.
Tuy nhiên, do bản thân mới bắt đầu trên con đường nghiên cứu đầy
thách thức, chắc chắn bản luận văn còn nhiều thiếu sót. Rất mong nhận được
sự góp ý của các thầy cô giáo và đồng nghiệp.
Tôi xin trân trọng cảm ơn!

iii

MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT v
DANH MỤC CÁC BẢNG vi
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KHU CÔNG NGHIỆP
VÀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CHO CÁC KHU CÔNG NGHIỆP 5
1.1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ KHU CÔNG NGHIỆP 5
1.1.1. Quan niệm về khu công nghiệp 5
1.1.2. Vai trò của khu công nghiệp 8
1.1.3. Những điều kiện bảo đảm phát triển có hiệu quả khu công nghiệp 12
1.2. PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CHO CÁC KHU CÔNG NGHIỆP . 13
1.2.1. Nguồn nhân lực 13
1.2.2. Phát triển nguồn nhân lực 16
1.2.3. Đặc điểm của nguồn nhân lực cho các khu công nghiệp 18

công nghiệp 48
2.2.4. Công tác đào tạo và dịch vụ cung cấp nguồn nhân lực cho các KCN 53
2.2.5. So sánh cung, cầu về lao động cho các KCN 57
2.3. ĐÁNH GIÁ TỔNG QUÁT VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC
CHO CÁC KHU CÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH YÊN BÁI 58
2.3.1. Những kết quả đạt được 58
2.3.2. Những hạn chế yếu kém và nguyên nhân 58
Kết luận chương 2 61
Chương 3: ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN CÁC KHU CÔNG NGHIỆP VÀ
GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CHO CÁC KHU CÔNG
NGHIỆP CỦA TỈNH YÊN BÁI GIAI ĐOẠN 2013 – 2020 62
3.1. ĐỊNH HƯỚNG, MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CHO
CÁC KHU CÔNG NGHIỆP TỈNH YÊN BÁI ĐẾN NĂM 2020 62
3.1.1. Định hướng phát triển các khu công nghiệp giai đoạn 2013-2020 62
3.1.2. Mục tiêu phát triển nguồn nhân lực cho các khu công nghiệp của tỉnh
Yên Bái đến năm 2020 63
3.2. MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CHO CÁC
KHU CÔNG NGHIỆP CỦA TỈNH YÊN BÁI ĐẾN NĂM 2020 65
3.2.1. Giải pháp về quy hoạch khu công nghiệp và tăng cường thu hút đầu
tư phát triển khu công nghiệp 65
3.2.2. Giải pháp về đào tạo nguồn nhân lực cho các khu công nghiệp 66
3.2.3. Giải pháp về sử dụng nguồn nhân lực ở các khu công nghiệp 67
3.2.4. Giải pháp về chế độ chính sách đối với người lao động trong khu
công nghiệp 69
3.3. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ 70
3.3.1. Đối với Nhà nước, bộ, ban ngành 70
3.3.2. Đối với cơ quan quản lý địa phương 71
3.3.3. Đối với các cơ sở đào tạo 74
3.3.4. Đối với các doanh nghiệp 74
Kết luận chương 3 75

Bảng 2.7: Cơ cấu lao động các KCN phân theo nhóm ngành công nghiệp 46
Bảng 2.8: Số lao động các KCN phân theo trình độ 47
Bảng 2.9: Hệ thống đào tạo, dạy nghề trên địa bàn tỉnh Yên Bái năm 2012 54 1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của nước ta, các khu công nghiệp có
vai trò rất quan trọng vì những giá trị thiết thực đóng góp vào đời sống của hàng
chục triệu người lao động, góp phần to lớn vào việc ổn định tình hình kinh tế -
chính trị - xã hội ở của đất nước.
Phát triển các khu công nghiệp là điều kiện để phát triển một nền kinh tế toàn
diện, không chỉ nhằm mục tiêu kinh tế mà còn có ý nghĩa xã hội to lớn, do vậy nhà
nước thông qua việc mở rộng, phát triển các khu công nghiệp, để thu hút các dự án,
nguồn vốn đầu tư trong nước và nước ngoài đầu tư vào các khu công nghiệp, mở ra
một không gian kinh tế rộng lớn, một kênh mới rất có tiềm năng để thu hút lao
động, giải quyết việc làm. Về cơ bản, khu công nghiệp sản xuất sản phẩm dùng cho
xuất khẩu, ở đó doanh nghiệp được thử thách trong môi trường cạnh tranh sôi động
không chỉ trong nước, mà còn cả trong môi trường cạnh tranh quốc tế rất gay gắt,
tạo động lực để người lao động không ngừng phấn đấu, nâng cao tay nghề mới có
thể làm việc lâu dài trong các khu công nghiệp.
Việc xây dựng các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Yên Bái là một trong các
giải pháp phát triển kinh tế địa phương, rút ngắn khoảng cách chênh lệch về phát triển
kinh tế giữa Yên Bái với một số tỉnh trong khu vực tiến đến xây dựng tỉnh thành một
trong những trung tâm kinh tế phát triển mạnh, bền vững trong khu vực Tây Bắc. Các
khu công nghiệp tỉnh Yên Bái được hình thành và phát triển từ tháng 5/2007. Khởi
đầu là khu công nghiệp phía Nam tỉnh Yên Bái với quy mô 400 ha. Tiếp đến là các
khu công nghiệp Minh Quân với quy mô là 112 ha; Khu công nghiệp Âu Lâu là
118,35 ha; Khu công nghiệp Bắc Văn Yên là 72 ha và Khu công nghiệp Mông Sơn

- Thực trạng phát triển nguồn nhân lực cho các khu công nghiệp của tỉnh Yên
Bái như thế nào?
- Nhu cầu và những điều kiện bảo đảm nguồn nhân lực cho phát triển các khu
công nghiệp trong những năm tới là gì? 3
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Nguồn nhân lực cho các khu công nghiệp (về số
lượng, chất lượng và cơ cấu).
- Phạm vi nghiên cứu :
+ Về địa bàn nghiên cứu: Các khu công nghiệp của tỉnh Yên Bái.
+ Thời gian nghiên cứu: Phân tích thực trạng và đánh giá nguồn nhân lực từ
năm 2008 đến năm 2012, định hướng và giải pháp phát triển nguồn nhân lực phù
hợp với quy hoạch phát triển các khu công nghiệp đến năm 2020.
5. Phương pháp nghiên cứu
5.1. Thu thập dữ liệu
5.1.1. Dữ liệu thứ cấp:
Qua nghiên cứu, báo cáo có liên quan đến các khu công nghiệp tỉnh Yên Bái.
5.1.2. Dữ liệu sơ cấp: Thu thập qua 2 cách:
- Quan sát, đánh giá về nguồn nhân lực của các khu công nghiệp.
- Phỏng vấn sâu: Phỏng vấn các cán bộ quản lý của các phòng của Ban quản lý
các khu công nghiệp tỉnh Yên Bái để tìm ra yêu cầu phát triển nguồn nhân lực và
đánh giá nguồn nhân lực hiện tại.
5.2. Xử lý số liệu thu thập:
- Phương pháp thống kê: Tập hợp số liệu theo từng lĩnh vực, địa bàn và trình
tự thời gian
- Phương pháp tổng hợp: Từ các dự báo, phân tích đánh giá về thực trạng phát
triển nguồn nhân lực của các khu công nghiệp trong thời gian qua và đề ra các giải
pháp cho đến năm 2020.

Theo Điều 3, khoản 20, Luật Đầu tư quy định: Khu công nghiệp là khu chuyên
sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh
giới địa lý xác định, được thành lập theo quy định của Chính phủ.
Doanh nghiệp KCN là doanh nghiệp được thành lập và hoạt động trong
KCN, bao gồm doanh nghiệp sản xuất và doanh nghiệp dịch vụ KCN.
- Doanh nghiệp sản xuất KCN là doanh nghiệp sản xuất hàng công nghiệp,
được thành lập và hoạt động trong khu công nghiệp;
- Doanh nghiệp dịch vụ KCN là doanh nghiệp được thành lập và hoạt động
trong KCN, thực hiện các dịch vụ công trình kết cấu hạ tầng khu công nghiệp, dịch
vụ sản xuất công nghiệp.
Ban quản lý khu công nghiệp cấp tỉnh là cơ quan quản lý trực tiếp các khu công
nghiệp, khu chế xuất trong phạm vi địa lý hành chính của một tỉnh, thành phố trực 6
thuộc Trung ương hoặc Ban quản lý khu công nghiệp trên địa bàn liên tỉnh hoặc Ban
quản lý một khu công nghiệp (trường hợp cá biệt) hoặc Ban quản lý khu công nghệ
cao do Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập.
Khu công nghiệp có các tiêu chí để hình thành gồm:
- KCN là nơi tập trung các doanh nghiệp có đủ cơ sở pháp lý, chuyên sản xuất
hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp.
- KCN là khu vực có ranh giới địa lý xác định, không có dân cư sinh sống, xây
dựng theo quy hoạch tổng thể đã được Chính phủ phê duyệt.
- KCN phải do Chính phủ hoặc do Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập.
Khi muốn hình thành KCN đã có trong quy hoạch tổng thể thì Ủy ban nhân dân
tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chỉ đạo việc lập báo cáo nghiên cứu khả thi
thành lập KCN và trình Thủ tướng Chính phủ xem xét quyết định thành lập.
- Trong KCN có thể có doanh nghiệp chế xuất. Đó là các doanh nghiệp chuyên
sản xuất hàng xuất khẩu, thực hiện các dịch vụ chuyên cho sản xuất hàng xuất khẩu
và hoạt động xuất khẩu.

điều kiện cho ngành công nghiệp địa phương từng bước phát triển.
Quy mô các KCN, KCX đa dạng và phù hợp với điều kiện và trình độ phát
triển cụ thể của mỗi địa phương.
1.1.1.2. Đặc điểm của khu công nghiệp
Khu công nghiệp trong giai đoạn hiện nay được hiểu là khu vực tập trung các
doanh nghiệp công nghiệp trong một khu vực có ranh giới xác định, sử dụng chung
kết cấu hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội. Về nguyên lý thì các doanh nghiệp trong
KCN có ưu thế tiết kiệm tối đa chi phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm, nên giá thuê
hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội sẽ rẻ hơn so với đầu tư ở khu vực khác.
Các doanh nghiệp trong KCN được hưởng một số quy chế riêng của Nhà nước
và của địa phương sở tại cho những ngành và doanh nghiệp loại nào được khuyến
khích phát triển.
Nhà nước chỉ quy định những ngành và doanh nghiệp nào được khuyến khích
phát triển và loại nào không được đặt trong khu công nghiệp do yêu cầu bảo vệ môi
trường và quốc phòng an ninh. 8
Khả năng hợp tác sản xuất giữa các doanh nghiệp trong khu công nghiệp rất
thuận lợi vì nằm trên một tiểu vùng.
Khu công nghiệp có Ban quản lý chung thống nhất, thực hiện quy chế quản lý
thích hợp, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả.
Với những đặc điểm cơ bản trên đây có thể thấy về thực chất KCN là một khu
vực đặc biệt để thu hút đầu tư trong và ngoài nước, áp dụng công nghệ mới, nâng cao
khả năng cạnh tranh của sản phẩm, thúc đẩy xuất khẩu, sử dụng có hiệu quả nguồn
vốn đầu tư vào những ngành và những vùng trọng điểm.
1.1.2. Vai trò của khu công nghiệp
1.1.2.1. Khu công nghiệp góp phần hiện đại hóa kết cấu hạ tầng
Sự hình thành và phát triển KCN hơn 20 năm qua đã tạo nên hệ thống kết cấu
hạ tầng tương đối đồng bộ, có giá trị lâu dài, góp phần hiện đại hóa hệ thống kết cấu

kiện thực tế của từng địa phương. Trong 283 KCN đã thành lập có 31 KCN do
doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài làm chủ đầu tư với tổng số vốn đăng ký
kinh doanh khoảng 2 tỷ USD. Các KCN còn lại do tổ chức kinh tế trong nước làm
chủ đầu tư với tổng số vốn đầu tư khoảng 7 tỷ USD, trong đó khoảng hơn 50 KCN
do các công ty phát triển hạ tầng KCN hoạt động theo mô hình đơn vị sự nghiệp có
thu làm chủ đầu tư với tổng số vốn đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng khoảng 1,5 tỷ
USD, còn lại là các KCN do doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp nhà nước làm chủ
đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng.
Trong 283 KCN được thành lập, có 180 KCN đi vào hoạt động. Tại các địa
phương đã hoàn thành việc xây dựng KCN kết cấu hạ tầng trong và ngoài KCN,
được đầu tư đồng bộ và hiện đại đã góp phần đáng kể hiện đại hóa hệ thống kết cấu
hạ tầng kinh tế - xã hội, góp phần thay đổi diện mạo của địa phương, tạo điều kiện
thuận lợi cho việc đẩy mạnh thu hút đầu tư vào KCN.
1.1.2.2. Là công cụ thu hút vốn đầu tư
Loại hình các KCN là nơi mà các nhà đầu tư trong và ngoài nước cùng đầu tư
sản xuất kinh doanh trên một vùng không gian lãnh thổ. Đây là sự kết hợp sức mạnh
của các nguồn lực trong nước khi có tác động từ các nguồn vốn ở bên ngoài, là nhân
tố quyết định cho sự phát triển kinh tế - xã hội. Sự kết hợp này được thể hiện bằng 10

liên kết kinh tế giữa các KCN với sản xuất nội địa, giữa thị trường trong nước và
quốc tế. Việc thực hiện tốt các điều kiện trên sẽ tăng cường thu hút các nguồn vốn
đầu tư vào các KCN.
Khi môi trường đầu tư trong nước hấp dẫn sẽ thúc đẩy thu hút vốn đầu tư nước
ngoài. Qua đó cũng kích thích, huy động các nguồn vốn đầu tư của các thành phần
kinh tế trong nước tham gia xây dựng phát triển hạ tầng các KCN, các chính sách
ưu đãi các doanh nghiệp đầu tư sản xuất trong các KCN cũng tạo ra sức hút đối với
các nhà đầu tư nước ngoài. Vì vậy, việc khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư

quá trình sản xuất, lượng xuất của xí nghiệp này đồng thời cũng là lương nhập của
xí nghiệp kia, nhờ đó mà giá thành của sản phẩm giảm đáng kể do tiết kiệm được
chi phí vận chuyển, lưu kho bãi từ đó đã nâng cao năng lực cạnh tranh trong quá
trình sản xuất sản phẩm xuất khẩu. Vì vậy các KCN có vai trò to lớn trong việc sản
xuất sản phẩm hướng về xuất khẩu làm tăng kim ngạch xuất khẩu, thu ngoại tệ cho
quốc gia, góp phần tích lũy vốn cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
1.1.2.5. Là đầu mới tạo việc làm và đào tạo nguồn nhân lực
Các doanh nghiệp hoạt động trong các KCN hầu hết là các doanh nghiệp mới
thành lập, nên đã thu hút được một lực lượng lao động lớn vào làm việc. Thông
thường việc giải quyết việc làm tại các KCN được thông qua các giai đoạn: Lúc mới
hình thành các KCN thu hút lao động từ các ngành xây dựng để đáp ứng việc san
lấp mặt bằng, xây dựng cơ sở hạ tầng, xây dựng nhà xưởng, lắp đặt máy móc thiết
bị. Giai đoạn tiếp theo là thu hút đáng kể lực lượng lao động theo tính chất ngành
nghề thuộc lĩnh vực đầu tư. Ngoài ra, các KCN còn tham gia vào việc huấn luyện,
đào tạo một đội ngũ các nhà quản lý giỏi, có kỹ năng nghề nghiệp bài bản để tiếp
thu tốt nhất trình độ công nghệ sản xuất và công nghệ quản trị tiên tiến, với tác
phong công nghiệp. Như vậy chính KCN là nơi đào tạo và tổ chức đội ngũ người
lao động công nghiệp có trình độ cao. Đội ngũ này là lực lượng tiên phong trong
quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế đất nước.
1.1.2.6. Góp phần phân công lại lao động ở trình độ cao hơn
Là nơi sản xuất tập trung, các KCN đã góp phần quy hoạch lại sản xuất công
nghiệp trong nước. Các doanh nghiệp ở đây có nhiều thuận lợi để mở rộng quy mô,
đầu tư mới, cả chiều rộng lẫn chiều sâu, nhờ đó đã giảm giá trị sản lượng công 12

nghiệp gia tăng đáng kể. Bên cạnh đó, thông qua việc cung cấp nguyên liệu, sản
phẩm từ bên ngoài vào các KCN cũng đã đưa đến sự hình thành các vùng sản xuất
nguyên liệu, các ngành sản xuất mới. Từ đó góp phần quy hoạch lại ngành nghề sản

Hệ thống kết cấu hạ tầng như hệ thống giao thông, xử lý chất thải, hệ thống
điện, nước, thông tin liên lạc, phòng làm việc của Ban quản lý khu công nghiệp
chính hệ thống hạ tầng phần cứng này sẽ quyết định chủ yếu hiệu quả sản xuất kinh
doanh trong khu công nghiệp.
1.1.3.5. Các yêu cầu về hoạt động của bộ máy quản lý
Bộ máy quản lý khu công nghiệp phải hoạt động tích cực và tránh các thủ tục
phiền hà. Cần phải cố gắng thực hiện cơ chế một cửa, tại chỗ để tạo thuận lợi cho
nhà đầu tư tiết kiệm được cả thời gian và chi phí.
1.1.3.6. Xây dựng một hệ thống các chính sách khuyến khích, ưu đãi đối với các
nhà đầu tư vào khu công nghiệp
Việc xây dựng hệ thống dịch vụ thuận lợi và hệ thống kết cấu hạ tầng đầy đủ
là một trong những yếu tố để thu hút các nhà đầu tư. Nhưng nếu chỉ có như vậy thì
chưa đủ mạnh để hấp dẫn họ. Bên cạnh đó cũng cần phải có những ưu đãi hỗ trợ đối
với các nhà đầu tư vào KCN. Điều này là rất cần thiết vì việc xây dựng một KCN đã
khó nhưng thu hút đủ các nhà đầu tư trong và ngoài nước vào xây dựng nhà máy, xí
nghiệp để hoạt động trong KCN còn khó khăn hơn nhiều và đó mới chính là điều
quyết định sự thành bại trong hoạt động của khu công nghiệp.
1.2. PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CHO CÁC KHU CÔNG NGHIỆP
1.2.1. Nguồn nhân lực
Nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực là một trong những vấn đề cốt
lõi của sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội ở mỗi quốc gia. Đặc biệt, trong thời đại
ngày nay, đối với các nước đang phát triển giải quyết vấn đề này đang là yêu cầu
được đặt ra hết sức bức xúc, nó vừa mang tính thời sự, vừa mang tính chiến lược
xuyên suốt trong quá trình phát triển kinh tế xã hội của mỗi nước.
Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về nguồn nhân lực như:
- Nguồn nhân lực là nguồn lực con người của những tổ chức (với quy mô, loại
hình, chức năng khác nhau) có khả năng và tiềm năng tham gia vào quá trình phát 14


15

tuổi đối với nam, từ đủ 15 tuổi đến 55 tuổi đối với nữ.
Ở góc độ vi mô, chúng ta có nguồn nhân lực trong một tổ chức. Theo đó
nguồn nhân lực trong một tổ chức là lực lượng lao động của từng đơn vị, tổ chức,
cơ quan. Hay nói cách khác, đó là tổng số người (bao gồm lãnh đạo và quản lý,
công chức chuyên môn, nhân viên phục vụ ) có trong danh sách của tổ chức, hoạt
động theo các nhiệm vụ do tổ chức phân công và được tổ chức trả lương.
Có thể thấy các biểu hiện trên chỉ khác nhau về việc xác định quy mô nguồn
nhân lực song đều nhất trí với nhau đó là: nguồn nhân lực nói lên khả năng lao động
của xã hội, là yếu tố không thể thiếu của sự phát triển kinh tế - xã hội. Nguồn nhân
lực trong một tổ chức và xã hội có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Nguồn nhân lực
trong một tổ chức nằm trong nguồn nhân lực xã hội, là một bộ phận của nguồn lực
xã hội. Sử dụng tốt nguồn nhân lực xã hội và nguồn nhân lực trong một tổ chức sẽ
tạo ra hiệu quả chung cho toàn xã hội.
Qua các định nghĩa về nguồn nhân lực có thể thấy khi nói tới nguồn nhân lực
ta cần quan tâm tới là:
- Số lượng nhân lực: là lực lượng lao động và khả năng cung cấp lực lượng lao
động cho phát triển kinh tế - xã hội. Số lượng nguồn lực được biểu hiện thông qua
các chỉ tiêu quy mô và tốc độ tăng nguồn nhân lực. Các chỉ tiêu này có mối quan hệ
mật thiết với chỉ tiêu quy mô và tốc độ tăng dân số. Quy mô dân số càng lơn, tốc độ
tăng dân số càng cao thì quy mô và tốc độ tăng nguồn nhân lực càng lớn và ngược
lại. Số lượng nguồn nhân lực đóng vai trò quyết định đến sự phát triển kinh tế - xã
hội. Nếu số lượng không tương xứng với sự phát triển kinh tế - xã hội thì sẽ ảnh
hưởng đến sự phát triển đó.
- Chất lượng nhân lực: Là yếu tố tổng hợp của nhiều yếu tố bộ phận như trí
tuệ, trình độ, sự hiểu biết, đạo đức, kỹ năng, sức khỏe, thẩm mỹ của người lao
động. Trong các yếu tố trên thì thể lực và trí lực là hai yếu tố quan trọng trong việc
đánh giá chất lượng nguồn nhân lực.

Bên cạnh đó có định nghĩa cho rằng phát triển nguồn nhân lực là gia tăng giá
trị con người trên các mặt trí tuệ, kỹ năng lao động, thể lực, đạo đức, tâm hồn để 17

họ có thể tham gia vào lực lượng lao động. Do vậy, phát triển nguồn nhân lực phải
được tiến hành trên cả ba mặt: phát triển nhân cách, phát triển sinh thể, đồng thời
tạo ra môi trường xã hội thuận lợi cho nguồn nhân lực phát triển.
- Phát triển nguồn nhân lực là quá trình tạo ra sự biến đổi về số lượng và chất
lượng nguồn nhân lực, biểu hiện ở sự hình thành và hoàn thiện từng bước về thể
lực, kỹ năng, thái độ và nhân cách nghề nghiệp, đáp ứng những nhu cầu hoạt động,
lao động của cá nhân và sự phát triển của xã hội.
- Phát triển nguồn nhân lực về cơ bản được hiểu là làm tăng giá trị con người
về mặt trí tuệ, đạo đức, thể lực và thẩm mỹ, làm cho con người trở thành con người
có năng lực và phẩm chất mới cao hơn.
- Phát triển nguồn nhân lực là việc tạo ra tăng trưởng bền vững về hiệu quả
của mỗi thành viên người lao động và hiệu quả chung của tổ chức, gắn liền với việc
không ngừng tăng lên về chất lượng và số lượng của đội ngũ cũng như chất lượng
sống của nhân lực.
Có rất nhiều định nghĩa và quan điểm khác nhau về phát triển nguồn nhân lực;
trên góc độ vĩ mô phát triển nguồn nhân lực là sự phát triển của nguồn lao động xã
hội dựa trên tốc độ tăng dân số, chất lượng giáo dục đào tạo, các quy định chính
sách, các vấn đề an sinh xã hội đảm bảo phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế -
xã hội. Còn trên góc độ vi mô phát triển nguồn nhân lực là quá trình nâng cao chất
lượng lao động, số lượng lao động trên cơ sở thực hiện các chính sách thu hút tuyển
dụng, đào tạo lại, đào tạo mới, thực hiện các chế độ đãi ngộ. Tạo điều kiện, có cơ
hội thăng tiến trong công việc nhằm thay đổi cơ cấu lao động phù hợp với nhu cầu
và kế hoạch của doanh nghiệp đồng thời giữ chân người lao động gắn bó lâu dài với
doanh nghiệp.

dung phát triển nguồn nhân lực cho các KCN là chuẩn bị cho người lao động các
điều kiện để có thể làm việc tốt trong các KCN. Nhu cầu là vậy, còn hiện nay, KCN
là nơi đào tạo nguồn nhân lực Việt Nam từ lao động phổ thông, lao động nông
nghiệp, lao động trình độ thấp trở thành đội ngũ lao động của nền công nghiệp hiện
đại, phù hợp với trình độ công nghệ áp dụng vào sản xuất đạt trình độ khu vực và
quốc tế. Trong số lao động được tuyển vào doanh nghiệp thì lao động phổ thông cơ

Trích đoạn Quá trình hình thành và phát triển của các khu công nghiệp tỉnh Yên Bái Kết quả hoạt động của các khu công nghiệp trong thời gian qua THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CHO CÁC KHU Định hướng phát triển các khu công nghiệp giai đoạn 2013-2020 Mục tiêu phát triển nguồn nhân lực cho các khu công nghiệp của tỉnh
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status