1
Mục tiêu của-Giáo dục Việt Nam được ghi rõ trong Điều 2 Luật Sửa đổi, bổ sung
một số điều của Luật Giáo đục ( đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam khóa XII thông qua kỳ họp thứ 6 ngày 25/11/2009 vả có hiệu lực thi hành từ ngày
01/07/2010) là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức,
sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ
nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân,
đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc.
Hội nghị lần thứ II Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII tháng 12 năm
1996 nêu rõ nhiệm vụ và mục tiêu cơ bản của giáo dục là : xây dựng những con người
và thế hệ thiết tha gắn bó với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có đạo đức
trong sáng, có ý chí kiên cường xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước; giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa nhân loại; phát huy tiềm năng của
dân tộc và con người Việt Nam, có ý thức cộng đồng và phát huy tính tích cực của cá
nhân làm chủ tri thức khoa học và công nghệ hiện đại, có tư duy sáng tạo, có kỷ năng
thực hành giỏi, có tác phong công nghiệp, có tính tố chức và kỷ luật, có sức khỏe, là
người .
Trong đường lối, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011-2020, Đại
hội XI của Đảng cộng sản Việt Nam (2011) khẳng định ― phát triển giáo dục là quốc
sách hàng đầu. Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn
hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế, trong đỏ quản lý giáo
dục, phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý là khâu then chốt. Tập trung nâng
cao chất lượng giáo dục, đào tạo, coi trọng giáo dục đạo đức, lối sống, năng lực sáng
tạo, kỹ năng thực hành, khả năng lập nghiệp. Đổi mới cơ chế tài chính giáo dục. Thực
hiện kiểm định chất lượng giáo dục và đào tạo ở tất cả các cấp học, bậc học. Xây dựng
môi trường giáo dục lành mạnh, kết hợp chặt chẽ giữa nhà trường - gia đình và xã hội ―.
Xuất phát từ tình hình thực tế của trường trung học cơ sở Mạc Đỉnh Chi trong
2
1
*
- Giáo dục: Là quá trình thống nhất của sự hình thành tinh thần và thể chất của
mỗi cá nhân trong xã hội. Giáo dục là một mặt không thể tách rời của cuộc sống con
người, của xã hội, nó là một hiện tượng đặc trưng của xã hội loài người. Trong quá trình
tiến hoá của nhân loại, giáo dục xuất hiện cùng với sự xuất hiện của loài người, khi con
người có quan hệ với tự nhiên bằng công cụ và phương tiện lao động thì nhu cầu về sự
truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm của thế hệ trước cho thế hệ sau mới xuất hiện. Giáo
dục như là một phương thức của xã hội đảm bảo việc kế thừa văn hoá, phát triển nhân
cách.
- Chất lượng giáo dục: Có nhiều quan điểm khác nhau về chất lượng giáo dục.
Tuy nhiên, phổ biến nhất hiện nay về chất lượng giáo dục là sự đáp ứng mục tiêu đề ra
của giáo dục. Chẳng hạn như mục tiêu giáo dục Việt Nam được qui định tạỉ Điều 2 Luật
sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục.
- Quản lý giáo dục: là hệ thống những tác động có chủ đích, có kế hoạch, hợp quy
luật của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, nhân viên, học sinh, cha mẹ học sinh và
các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu
quả mục tiêu giáo dục.
- Chất lượng giảng dạy:
Chất lượng dạy và học là mối quan tâm hàng đầu của nền giáo dục trên thế giới,
hầu hết các nước đều ra sức tìm mọi biện pháp để nâng cao chất lượng dạy và học. Với
mong muốn là làm sao để người dạy truyền đạt được kến thức một cách dễ dàng, người
học nắm bắt và vận dụng được kiến thức đó trong thời gian ngắn nhất vào thực tế sản
xuất, nghiên cứu một cách có hiệu quả, và do vậy càng lúc càng đặt ra những yêu cầu
4
gay gắt trong việc nâng cao chất lượng giảng dạy và cách đánh giá người học như thế
nào là khách quan, công bằng, là động lực thúc đẩy để người học thấy đó là động lực,
quy hoạch, kế hoạch và chính sách phát triên kinh tế - xã hội, Chiến lược phát triển kinh
tế - xã hội 2011 - 2020 đã đề ra mục tiêu về giáo dục và đào tạo là ―giáo dục và đào tạo,
khoa học và công nghệ đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước; đến năm 2020, có một số lĩnh vực khoa học và công nghệ, giáo dục, y tế đạt trình
độ tiên tiến, hiện đại; số sinh viên đạt 450 trên một vạn dân‖. Để đạt được mục tiêu trên,
trong khâu đột phá thứ hai, Chiến lược xác định: ―Phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất
là nguồn nhân lực chất lượng cao, tập trung vào việc đổi mới căn bản và toàn diện nền
giáo dục quốc dân; gắn kết chặt chẽ phát triển nguồn nhân lực với phát triển và ứng
dụng khoa học, công nghệ‖.
Trong giai đoạn 2011 - 2015, Báo cáo chính trị tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ
XI cũng đã xác định phương hướng phát triển giáo dục và đào tạo là: ―đổi mới căn bản
và toàn diện giáo dục, đào tạo‖. Để thực hiện mục tiêu đó, Báo cáo cũng xác định các
nhiệm vụ, giải pháp cụ thể, trong đó nhấn mạnh một số nhiệm vụ như: phát triển và nâng
cao chất lượng giáo dục, đào tạo; phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đặc biệt là
đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý giỏi; đội ngũ cán bộ khoa học, công nghệ, văn hoá ; đội
ngũ doanh nhân và lao động lành nghề; đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, đào tạo trên
tinh thần tăng cường tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các cơ sở giáo dục, đào tạo
Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh An Giang lần thứ IX, nhiệm kỳ 2010 — 2015 đã
đề ra mục tiêu, phương hướng, nhiệm vụ về giáo dục - đào tạo là: Tiếp tục phát triển
mạnh mẽ giáo dục- đào tạo. Phát triển quy mô trường lớp trên Cơ sở quy hoạch, đa
dạng hóa loại hình học tập, hướng tới mục tiêu xã hội học tập. Xây dựng và triển khai có
hiệu quả Chương trình ― Phát triển nguồn nhân lực‖, nâng cao chất lượng giáo dục, đào
tạo, dạy nghề đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.
* t
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, nội dung cơ bản của giáo dục là phải đào tạo ra
những con người xây dựng chủ nghĩa xã hội "vừa hồng vừa chuyên". Đây là một tư
6
tưởng then chốt của Chủ tịch Hồ Chí Minh về giáo dục. Người nhấn mạnh, trong công
cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta, mỗi cô giáo, thầy giáo phải là những chiến sỹ
có nhiều quan điểm, thông tư, chỉ thị, về phát triển giáo dục và đào tạo nâng cao chất
lượng của các trường phổ thông như :
Văn kiện Đại hội các khóa VI, VII, VIII, IX, X, XI.
Chỉ thị số 40-CT/TW ngày 15-06-2004 Ban chấp hành Trung ương về việc xây
dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục.
Điều lệ trường trung học cơ sở, trường trung học phổ thông và trường phổ thông
có nhiều cấp học ( Ban hành kèm theo Thông tư số: 12/2011/TT BGDĐT ngày
28/03/2011 cùa Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo)
Thông tư 28/2009/TT-BGDĐT ngày 21 tháng 10 năm 2009, ban hành Quy định
về chế độ làm việc đối với giáo viên phổ thông.
Thông tư 58/2011/TT-BGDĐT ngày 12 tháng 12 năm 2011, ban hành Quy chế
đánh giá, xếp loại học sinh THCS và học sinh THPT.
Chỉ thị 19/2005/CT-UBND ngày 25-07-2005 của UBND tỉnh An Giang về việc
hạn chế các quy định, hoạt động mang tính hình thức, nhằm góp phần nâng cao chất
lượng dạy và học trong ngành giáo dục và đào tạo.
Kế hoạch số 27-KH/TU ngày 13/11/2009 của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh An
Giang ―về phương hướng phát triển giáo dục và đào tạo đến năm 2020‖.
Chỉ thị 03-CT/TW ngày 14 tháng 05 năm 2011 của Bộ chính trị, Ban bí thư về
tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh từ nay đến
năm 2015.
Chỉ thị 40/CT-BGDĐT về phong trào thi đua ― Trường học thân thiện học sinh
tích cực ― trong các trường phổ thông giai đoạn 2008 – 2013.
Các công văn hướng dẫn nhiệm vụ năm học 2009-2010, 2010-2011, 2011-2012,
2012-2013 của Sở GD-ĐT An Giang, Phòng GD-ĐT thành phố Long Xuyên.
8
Các báo cáo tổng kết nhiệm vụ năm học 2009-2010,2010-2011,2011-2012.
2
Số
lượng
Tỷ lệ
(%)
Số
lượng
Tỷ lệ
(%)
Số
lượng
Tỷ lệ
(%)
Số
lượng
Tỷ lệ
(%)
2010-2011
37
63.8
16
27.6
5
8.6
0
TL
Yếu
TL
Kém
TL
10 - 11
888
181
20.4
320
36.0
361
40.7
26
2.9
0
0
11 - 12
881
196
22.2
309
35.1
363
41.2
13
1.5
0
sát chặt chẽ các hoạt động hổ trợ cho việc học tập cho học sinh như: Đố vui dưới cờ, kể
chuyện tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh ở buổi chào cờ đầu tuần, các buổi thi hái hoa
dân chủ, học tập.
Nhà trường rất chú trọng đến công tác soạn giảng của giáo viên như: Việc soạn
giảng phải đảm bảo theo chuẩn kiến thức kỹ năng, đảm bảo phân loại được học sinh
trong lớp. Chú trọng đến những học sinh có năng lực tiếp thu chậm, chỉ đạo giáo viên có
kế hoạch phụ đạo thêm những học sinh yếu bộ môn, để các em bắt kịp chương trình,
tránh tình trạng để các em ngồi bên lề lớp học.
Nhà trường đã dành riêng môn phòng học được trang bị máy chiếu Projector để
giáo viên tham gia giảng dạy ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT), tạo hứng thú học
tập cho học sinh từ đó góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy. Đối với những tiết dạy
thực hành thí nghiệm, nhà trường cũng tạo điều kiện để cho học sinh thực hành, tuy
nhiên vẫn rất hạn chế.
Một số học sinh có ý thức trong học tập, tham gia tích cực tìm hiểu, xây dựng bài
cùng giáo viên theo phương châm lấy học sinh làm trung tâm .
* Nguyên nhân:
Được sự quan tâm kịp thời của các cấp lãnh đạo từ ngành đến địa phương. Đối
với địa phương, quan tâm giúp đỡ cho giáo viên gặp khó khăn, tham gia vận động học
sinh khi bỏ học, phối hợp với các tổ chức đoàn thể, khóm ấp, lực lượng chính trị khác và
quần chúng xã hội, trong việc tạo điều kiện thuận lợi cho con em học sinh đến lớp, hạn
chế tình trạng học sinh bỏ học. Đối với ngành, kịp thời chỉ đạo đúng lúc kịp thời trong
11
các hoạt động chuyên môn, giải đáp và chỉ đạo các hoạt động để nhà trường đi vào nề
nếp.
Sự phối hợp nhịp nhàng giữa đoàn thể nhà trường với địa phương, tổ chức các
buổi sinh hoạt tập thể, nhằm tăng cường giáo dục đạo đức, kỹ năng sống, giáo dục lòng
yêu quê hương tổ quốc. Giới thiệu mô hình người tốt việc tốt, tổ chức các hoạt động đền
ơn đáp nghĩa, phong trào học tập nhân các ngày lễ lớn trong năm, theo từng chủ điểm
tháng mà ngành đã qui định.
chế, bồi dưỡng học sinh giỏi, học sinh yếu tổ chức thực hiện không đồng đều giữa các
bộ môn, giữa các tổ với nhau.
Công tác dự giờ, kiểm tra giáo viên thiếu thường xuyên. Việc đổi mới phương
pháp giảng dạy còn nhiều vấn đề hạn chế như: Sự tiếp thu từ nhũng giáo viên lớn tuổi
trong dạy học ứng dụng CNTT; một bộ phận giáo viên có sức ỳ khá lớn trong việc đổi
mới; sự phối hợp với các đoàn thể ở một số mặt công tác chưa đảm bảo,
Tỷ lệ học sinh đạt học lực khá giỏi còn thấp, chưa đạt theo kế hoạch đề ra của nhà
trường.
Việc giữ mối liên hệ giữa ba môi trường ― Nhà trường - gia đình - xã hội‖ chưa
thực sự hài hòa, vẫn còn điều gì đó chưa ổn. Một bộ phận học sinh chưa quan tâm đến
việc học tập, còn tư tưởng học chỉ để biết chữ rồi nghỉ, chưa có tinh thần cầu tiến.
Chất lượng chuyên môn hàng năm chưa đều, giữa các môn có sự chênh lệch khá
cao như: Ngữ văn; Lịch sử; Địa lý; GDCD; với môn có chất lượng khá thấp như: Toán;
Lý; Hóa; Sinh; Anh,
* Nguyên nhân
:
Đội ngũ tổ trưởng chuyên môn ít được quan tâm bồi dưỡng về chuyên môn
nghiệp vụ trong những năm về trước, chỉ bằng kinh nghiệm thực tiển công tác thì cơ cấu
bổ nhiệm nhiệm vụ. Tuy nhiên, từ năm học 2011-2012 thì lãnh đạo Phòng Sở có quan
tâm đưa đi bồi dưỡng ngắn hạn về công tác quản lý tổ.
13
Công tác sinh hoạt tổ chuyên môn chất lượng chưa tốt, nguyên nhân là sinh hoạt
còn mang tính hành chính, ít quan tâm trao đổi về chuyên môn, tổ ghép nhiều môn nên
việc thống nhất chuyên môn giảng dạy theo chuẩn còn khó khăn, do đó cũng ảnh hưởng
đến chất lượng giảng dạy.
Sự cập rập trong chỉ đạo giữa các môn, môn quan tâm ít, môn quan tâm nhiều,
cũng làm cho các đồng chí giáo viên thấy khoảng cách giữa họ và lãnh đạo ngày càng
xa, họ không mặn mòi với công việc, chỉ làm qua loa chiếu lệ, cho xong việc.
* Mục tiêu chung:
Thực hiện thắng lợi các Nghị quyết đại hội đảng các cấp như: Đại hội XI của
Đảng; Đại hộỉ tỉnh Đảng bộ lần thứ IX; Đại hội Đại biếu Đảng bộ thành phố Long
Xuyên lần thứ X; Đại hội đảng viên Đảng bộ Phường Mỹ Hòa lần thứ XIV; Đại hội
đảng viên chi bộ Trường THCS Mạc Đỉnh Chi nhiệm kỳ 2012- 2015 Chất lượng giáo
dục là một mãng quan trọng trong sự nghiệp giáo dục, quyết định trình độ nhận thức, kỹ
năng lao động của con người qua đào tạo. Nâng cao chất lượng giảng dạy góp phần nâng
chất lượng giáo dục tại địa phương, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu học tập của
người dân. Phấn đấu giảm dần tình trạng học sinh bỏ học, hạn chế tối đa tỉ lệ lưu ban.
Từng bước xây dựng thương hiệu nhà trường trong khu vực.
Duy trì chất lượng học tập của một bộ phận học sinh có nhu cầu nâng cao, giáo
dục đạo đức, tinh thần dân tộc, tình thương đối vói tổ quốc, góp phần hạn chế học sinh
bỏ học. Từng bước nâng cao tay nghề cho cán bộ- giáo viên - nhân viên vì đây là lực
lượng quyết định chất lượng giảng dạy của đơn vị .
* Mục tiêu cụ thể của công tác nâng cao chất lượng giảng dạy
:
3-
15
Số
0
0
0
4
TS.HS
TL
Kh
TL
TB
TL
Y
TL
Kém
TL 13 – 14
1011
213
21.1
343
33.9
435
43.0
16
bỏ học hàng năm không quá 2,5%; phấn đấu tăng tỉ lệ hạnh kiểm của học sinh từ loại
Khá trở lên là 97%; phấn đẩu tăng tỉ học lực của học sinh từ loại Khá - Giỏi trở lên là
61%, Trung bình 37.5%, Yếu-Kém 1.5%, Học sinh tốt nghiệp THCS hàng năm từ 100%
trở lên.
Thực hiện tốt các phong trào học tập như: Học sinh giỏi; giáo viên dạy giỏi; viết
sáng kiến kinh nghiệm tiến đến các đề tài nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng.
công tác làm đồ dùng dạy học dự thi; hội thi ca múa hát cấp TP; hội khỏe Phù đổng hàng
năm đều đạt giỏi trên tất cả các lĩnh vực dự thi.
t l
Long Xuyên
công giáo viên
Đối với nhà trường khi phân công nhân sự, các nhà quản lý cần căn cứ vào Luật
giáo dục; Điều lệ trường trung học cơ sở, trường trung học phổ thông và trường phổ
thông cỏ nhiều cấp học; Thông tư 28 của Bộ GD&ĐT; các văn bản chỉ đạo của Sở
GD&DT làm cơ sở cho việc phân công. Việc phân công chuyên môn cho giáo viên được
thực hiện ở các vị trí cụ thể là phân công giáo viên làm công tác tổ trưởng chuyên môn,
phân công giáo viên giảng dạy bộ môn, phân công giáo viên làm công tác chủ nhiệm
lớp.
- Phân công giáo viên làm Tổ trưởng.
Ngay từ trong những tháng hè, từ trong những tháng đang hoạt động giáo dục
ngoài giờ, hiệu trưởng cần theo dõi thật chu đáo việc thực hiện công tác quản lý của tổ
chuyên môn, sau khi kết thúc một học kỳ, các tổ trưởng báo cáo công tác quản lý về mọi
mặt, hiệu trường xem xét kết quả, lấy phiếu tín nhiệm đối với tổ trưởng, đề từ đó có
những đề xuất hợp lý, kịp thời uống nắn các tổ chậm hoàn thành nhiệm vụ, giải quyết
các vấn đề tranh chấp trong nội bộ của tổ nếu có.
Trong việc xây dựng kể hoạch từ đầu năm học, hiệu trưởng cần đề ra các yêu cầu
17
môn đều quan trọng như nhau.
Ngoài việc chăm lo cho công tác mũi nhọn của trường như học sinh giỏi cấp
thành phố, tỉnh thì hiệu trưởng cũng cần quan tâm đến chất lượng giáo dục đại trà, quan
tâm đến việc bồi dưỡng học sinh yếu kém. Quan tâm đến tất cả các khối lớp không phân
biệt lóp chuyên, lóp chọn tránh sự mặc cảm của giáo viên và học sinh. Giáo viên giảng
dạy hàng năm mà học sinh yếu kém quá nhiều thì cần thiết phải phân công giáo viên có
tay nghề giỏi để có điều kiện giúp đỡ họ phát triển và đầu tư soạn giảng nâng cao chất
lượng giáo dục.
- Phân công giáo viên chủ nhiệm.
Khi phân công giáo viên làm công tác chủ nhiệm lớp cần quan tâm đến tất cả các
khối lóp, quan tâm đến tất cả các giáo viên trong nhà trường , đặc biệt quan tâm đến giáo
viên chủ nhiệm khối 6 vì đây là các em đầu cấp mới vào cần phải có sự quan tâm để đưa
các em vào nề nếp ổn định. Đôi với những lóp có học sinh cá biệt nhiều thì cần đưa
những giáo viên có kinh nghiệm lâu năm về công tác chủ nhiệm để có biện pháp giáo
dục các em tốt hơn. Tổ chức nhận xét rút kinh nghiệm hàng tuần ,tháng về công tác chủ
nhiệm.Tạo cảm giác an toàn thận thiện giữa hiệu trưởng với giáo viên chủ nhiệm tạo
điều kiện thuận lợi cho họ công tác và phát huy vài trò của mình.
Tăng cường kiểm tra tiết sinh hoạt chủ nhiệm, để từ đó hiệu trường đề ra các biện pháp
hỗ trợ tốt cho giáo viên chủ nhiệm, tổ chức trò chuyện về công tác chủ nhiệm để các
giáo viên có thể học tập lẫn nhau.
Giáo viên chủ nhiệm mạnh dạn xử lý các học sinh vi phạm nội qui trong giới hạn
cho phép của mình, kết hợp với giáo viên bộ môn, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí
Minh, Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh trong việc giáo dục cho học sinh về ý
thức học tập, giáo dục về các hành vi sai trái nên tránh (các tệ nạn xã hội, an toàn giao
thông, các kỷ năng sống, )
3.2.2
19
Phải tạo động lực đổi mới PPDH cho giáo viên, hoạt động đổi mới PPDH chỉ cỏ
Đổi mới các hình thức kiểm tra, đánh gía học sinh, phối họp giữa kiểm tra miệng, kiểm
tra kỹ năng thực hành, kết hợp hình thức kiểm tra tự luận với trắc nghiệm; đổi mới
cách ra đề kiểm tra theo hướng đòi hỏỉ ngưòi học phải hiểu bàỉ, vận dụng kiến thức, hạn
chế lối học vẹt, ghi nhớ máy móc. Đối vơi các môn xã hội khuyến khích ra đề kiểm tra
―mở‖ nhằm kiểm tra mức độ thông hiểu và vận dụng sáng tạo của học sinh.
Rèn luyện khả năng tự kiểm tra đánh giá của học sinh để học sinh tự đánh giá kết
quả tự học của mình theo sự hướng đẫn của giáo viên trong yêu cầu của đổi mới PPDH.
Tô chức các hội thảo về việc đổi mới phương pháp kiểm tra đánh giá để thúc đẩy đổi
mới PPDH, sử dụng kết quả kiểm tra đánh giả để điều chỉnh PPDH.
3.2.4
Để thực hiện tốt yêu cầu trên, trong mỗi năm học: Hỉệu trưởng và mỗi phó Hiệu
trưởng dự giờ giáo viên về hoạt động giáo dục trên lớp ít nhất 02 tiết dạy/ 01 giáo viên
và thăm lóp ít nhất 01 lần/ GV; mỗi tổ trưởng và tổ phó dự giờ giáo viên trong tổ chuyên
môn về hoạt động giáo dục trên lớp ít nhất 04 tiết dạy/ 01 giảo viên và thăm lóp ít nhất
02 lần/ lớp do giáo viên trong tồ chuyên môn phụ trách chủ nhiệm; mỗi giáo viên có ít
nhất 5% sổ bàỉ giảng trên lởp được sử, dụng CNTT hoặc phần mềm công nghệ thông tin
trong dạy học bộ môn trong tổng số tiểt dạy, 01 tiết đạy của 01 lần hội giảng hoặc thao
giảng trong trường và 18 tiết dự giờ đồng nghiệp.
Các tổ chuyên môn lên kế hoạch mở chuyên đề, thao giảng hàng năm theo kế
hoạch, tập trung vào những vấn đề cấp thiết đặt ra như: Đổi mới phương pháp; bồi
dưỡng học sinh yếu kém; học sinh giỏi; nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy.
Tổ chức rút kinh nghiệm sau khi dự giờ, mở chuyên đề, thao giảng, yêu cầu phân
tich sâu nội dung, phương pháp thực hiện. Đánh giá ưu khuyết điểm, đánh giá khả năng
ứng đụng của chuyên đề, thao giảng vào tiết học tương tự. Đánh giá khả năng nhận thức
của học sinh, mức tiếp thu kiến thức, kỹ năng vận dụng kiến thức vào bài tập.
21
3.2.5 y thông qua các phong
.
Nhà trường tiếp tục tạo điều kiện cho CB-GV theo học các chương trình cử nhân
ĐHSP và CĐSP, các lớp sơ, trung cấp chính trị
Tiếp tục các chuyên đề CNTT, tập huấn cho GV sử dụng tin học và các thiết bị để
soạn giảng các tiết dạy có ứng dụng CNTT, giáo án và bài giảng điện tử ( mỗi khối có từ
1 đến 2 bài giảng điện tử/ tháng, động viên GV sử dụng các bài giảng này được nhiều
lớp trong khối.
Sử dụng ĐDDH trong các tiết dạy, làm ĐDDH dự thi (mỗi khối 1 ĐDDH tự làm)
Học sinh được khuyến khích đề xuất sáng kiến và cùng các thầy cô giáo thực
hiện các giải pháp để việc dạy và học có hiệu quả ngày càng cao
Hướng dẫn học sinh tự học ở nhà. Tổ chức HS hoạt động theo tổ nhóm trên lớp,
khuyến khích học sinh chủ động, sáng tạo trong học tập để việc dạy và học ngày càng
tiến bộ (giáo án GV có ghi đầy đủ những nội dung yêu cầu hướng dẫn HS chuẩn bị và tự
học ở nhà, tổ chức HS hoạt động trên lớp)
Học sinh có thể được thầy cô giao việc theo nhóm để các em có cơ hội cùng nhau
chia sẻ và đóng góp kiến thức của cá nhân mình cho nhóm. Người thầy cũng có thể nêu
trước vấn đề và cho học trò về nhà tự nghiên cứu từ sách giáo khoa và sách tham khảo
khác để đến buổi học trên lớp, các em thảo luận và tranh luận với nhau trong cặp và
trong nhóm. Việc tranh luận đó sẽ giúp các em hiểu sâu hơn và nhớ nhanh hơn
Tạo nhu cầu tự học tự nghiên cứu bên ngoài lớp học và rèn luyện cho người học
thói quen đào sâu suy nghĩ về một vấn đề nào đó. Dần dần học sinh sẽ hình thành thói
quen suy nghĩ một cách chủ động, độc lập sáng tạo và biết chia sẻ những suy nghĩ của
mình với người khác. Đề xuất ý tưởng, sáng kiến học tập với thầy cô để phố biến cho
bạn bè.
23
Thực hiện hoạt động ngoài lớp học ngay trong tiết dạy nếu thấy phù hợp và hiệu
quả. Đặc biệt đối với những môn học như Mĩ thuật, Âm nhạc, Thể dục, TNXH …
Để có phương pháp kiểm tra thân thiện hơn mà vẫn đánh giá đúng học lực và
khuyến khích học sinh tự vươn lên trong học tập, GV cần phân biệt hai loại hình kiểm
tra: kiểm tra đánh giá sự tiến bộ và kiểm gia đánh giá kết quả học tập. Các bài kiểm tra
tạo ra thương hiệu của nhà trường, tạo nên bầu không khí tâm lý sư phạm của nhà
trường thịnh hay suy phụ thuộc rất lớn vào tài lãnh đạo, quản lý của người đựng đầu đơn
vị. Ở trường phổ thông, vai trò của người hiệu trường rất lớn là đầu tàu trong quá trinh
thực hiện nhiệm vụ quản lý giáo đục tại địa phương. Hoạt động dạỳ học gĩữ vị trí trung
tâm bời nó chiếm hết thời gian, khối lượng công việc của giáo viên và học sinh trong
suốt năm học. Nó là nền tản quan trọng để thhực hiện thành công mục tiêu giáo dục toàn
diện của nhà trường phổ thông, đồng thời quyết định hiệu quả đào tạo của nhà trường.
Người quản lý giáo dục cần phải nhận thức rõ ví trí tầm quan trọng của hoạt động
giáo dục để có những biện pháp khoa học, sáng tạo nhằm nâng cao chất lượng đào tạo
của nhà trường. Qua đây, hy vọng rằng bản thân tôi sẽ đúc kết đựợc những kinh nghiệm
quý báo trong công tác quản lý, giúp tôi có những định hướng đúng trong công tác,
nhằm mang lại hiệu quả cao với nhiệm vụ được giao góp phần nâng cao dân tri, bồi
dưỡng nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài theo sự đòi hỏi ngày càng cao của sự nghiệp
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
2
Phòng Giáo dục cần phải liên kết với trường Cán bộ quản lý giáo dục mở các
chuyên đề về công tác quản lý tài chính vì đây là công tác nóng nhất trong quản lý hiện
nay. Mở các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý cho cảc lực lượng trong diện qui hoạch
hàng năm của tỉnh ,tạo nguồn nhân lực kế thừa có chất lượng góp phần đưa sự nghiệp
giáo dục địa phương phát triển.
25
Cần hoàn thiện cơ chế để đẩy mạnh phân cấp trong công tác quản lý nhà nước về
giáo dục và đào tạo cùng với việc giao quyền tự chủ thực sự cho các cớ sở giáo dục.
Hiện nay, về phân cấp trong công tác quản lý nhà nước, Chính phủ đã ban hành Nghị
quyết số 08/2004/NQ'CP ngày 30 thảng 6 năm 2004 quy định về đẩy mạnh phân câp
quản lý nhà. nước giữa Chính phủ và chính quyền tỉnh, thành phố trực thuộc Trung
ương; về công tác quản lý nhà nước đối với giáo dục và đào tạo, Chính phủ đã ban hành
Nghị định số 115/2010/NĐ-CP ngày 24 tháng 12 năm 2010 quy định trách nhiệm quản
lý nhà nước về giáo dục; về tự chủ trong giáo dục, đã có Nghị định sô 43/2006/NĐ-CP