MỤC LỤC
I. ĐỊNH NGHĨA:
1.Khái niệm:
Công ước quốc tế là văn bản ghi rõ những việc cần tuân theo và những điều bị cấm thi hành,
liên quan đến một lĩnh vực nào đó, do một nhóm nước thoả thuận và cùng cam kết thực hiện,
nhằm tạo ra tiếng nói chung, sự thống nhất về hành động và sự hợp tác trong các nước thành
viên.
Công ước quốc tế có hiệu lực trọn vẹn với các nước thành viên, nhưng cũng có tác
động rất lớn đối với các nước trong khu vực chưa tham gia công ước.
Hiện nay, có khoảng 300 công ước quốc tế về bảo vệ môi trường.
2.Ý nghĩa:
Tham gia vào các công ước là các nước đã thể hiện được sự quan tâm, trách nhiệm của
quốc gia mình đối với vấn đề chungcủa thế giới đồng thời qua đó thể hiện được vị trí, tiếng
nói cũng như đưa hình ảnh của mình trên trường quốc tế. Tham gia công ước các nước thành
viên sẽ có được phương hướng hành động ứng phó với những vấn đề đặt ra, đồng thời có cơ
hội nhận được sựbảo vệ,hỗ trở về khoa học, công nghệ, vốn của cộng động quốc tế.
II. CÁC CÔNG ƯỚC VIỆT NAM ĐÃ THAM GIA
1. Công ước về bảo vệ di sản văn hóa và tự nhiên thế giới
1.1 Giới thiệu
− Công ước được thông qua tại kỳ họp thứ 17 của Đại hội đồng UNESCO tại Paris ngày
16-11-1972.
− Công ước đã được 186 nước tham gia kí kết.
− Hiện có 911 Di sản thế giới nằm tại 151 quốc gia thành viên. Trong số này, 704 là văn
hóa, 180 tự nhiên và 27 là di sản hỗn hợp.
− Việt Nam tham gia kí kết vào ngày: 19/10/1987.
1.2 Các di sản của Việt Nam
Hiện tại, Việt Nam đã có 6 di tích được UNESCO công nhận là Di sản thế giới gồm:
− Vịnh Hạ Long 1994
− Vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng 2003
− Quần thể di tích cố đô Huế 1993
− Phố cổ Hội An 1999
có giá trị quốc tế đặc biệt về phương diện khoa học, bảo tồn hoặc vẻ đẹp thiên nhiên.
1.3.2 Thực trạng
Nhận thấy rằng: di sản văn hoá và di sản tự nhiên ngày càng có nguy cơ bị phá hoại không chỉ
bởi nguyên nhân xuống cấp vì “ lão hóa” theo thời gian mà còn bởi sự tiến triển của đời sống
xã hội và kinh tế làm quá trình xuống cấp của các di sản nhanh và nghiêm trọng hơn
Xét rằng: việc bảo vệ di sản đó ở các cấp quốc gia thường không được hoàn chỉnh vì việc bảo
vệ đó đòi hỏi rất nhiều phương tiện như nguồn lực kinh tế, khoa học và ký thuật, sự giám sát,
quản lý.
Nhận thức được điều đó, tổ chức quốc tế UNESCO đã đưa ra công ước về bảo vệ di sản văn
hóa và tự nhiên của thế giới.
1.3.3 Các khoản thỏa thuận chính
− Mối một quốc gia tham gia Công ước này công nhận rằng trách nhiệm bảo đảm của
việc xác định, bảo vệ, bảo tồn, tôn tạo và truyền lại cho các thế hệ tương lai di sản văn
hoá và tự nhiên nêu là trách nhiệm trước tiên của mình. Quốc gia này phải nỗ lực hành
động tối đa cho mục đích trên bằng những nguồn lực mà mình sẵn có và nếu có, thì
bằng cả sự viện trợ và hợp tác quốc tế mà nó có thể có được hưởng nhất là về mặt tài
chính, nghệ thuật, khoa học và kỹ thuật.
− Để bảo đảm việc bảo vệ và bảo tồn càng hiệu quả càng tốt và tôn tạo càng tích cực
càng tốt di sản văn hoá và tự nhiên nằm trên lãnh thổ của mỗi nước và theo những điều
kiện thích hợp của mỗi nước, các nước tham gia vào Công ước này sẽ cố gắng hết sức
mình để thực hiện các công tác sau đây:
a. Đề ra một chính sách chung để trao cho di sản văn hoá và tự nhiên một chức năng
nhất định trong đời sống tập thể và đưa việc bảo vệ di sản đó vào các chương trình của việc kế
hoạch hoá chung;
b. Thành lập trên lãnh thổ của mình (trong trường hợp chưa có) một hoặc một vài cơ
quan bảo vệ, bảo tồn và tôn tạo di sản văn hoá và tự nhiên, có số nhân viên thích hợp và có đủ
phương tiện thực hiện các nhiệm vụ được giao;
c. Phát triển các công trình nghiên cứu và tìm tòi khoa học - kỹ thuật và cải tiến các
phương pháp can thiệp cho phép một quốc gia ứng phó với những tai hoạ đang đe doạ di sản
văn hoá hay tự nhiên của nó.
hay nhân tạo, thường xuyên hay tạm thời, với nước đọng hay nước chảy, nước ngọt, nước lợ
hay nước mặn, bao gồm cả các vùng nước biển có độ sâu không quá 6 mét khi thuỷ triều thấp.
Chim nước là những loài chim mà về mặt sinh thái phụ thuộc và các vùng đất ngập nước.
2.3 Nội dung thỏa thuận
Mỗi bên tham gia sẽ chỉ định những vùng đất ngập nước thích hợp trong phạm vi lãnh thổ của
mình để đưa vào Danh mục các vùng đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế.
Vì lợi ích cấp thiết của quốc gia mà xoá bỏ hoặc hạn chế bớt ranh giới vùng đất ngập nước đã
đưa vào Danh mục thì Quốc gia đó phải đền bù tối đa mọi tổn thất về tài nguyên đất ngập
nước và nhất là phải tạo lập các khu dự trữ thiên nhiên bổ sung cho loài chim nước và để giữ
được, ở tại vùng đó nay ở nơi khác, một tỷ lệ thoả đáng của nơi cư trú ban đầu .
Các Bên tham gia sẽ khuyến khích việc nghiên cứu và trao đổi số liệu và các ấn phẩm về các
vùng đất ngập nước và hệ động và thực vật của chúng.
Các Bên tham gia, thông qua việc quản lý, sẽ cố gắng làm tăng trưởng số lượng chim nước ở
các vùng đất ngập nước thích hợp.
Các Bên tham gia sẽ đẩy mạnh việc đào tạo đội ngũ cán bộ có thẩm quyền trong các lĩnh vực
nghiên cứu, quản lý và bảo vệ đất ngập nước.
3. Công ước khung của Liên hiệp quốc về biến đổi khí hậu
3.1. Giới thiệu
− Công ước khung của Liên hợp quốc về Biến đổi khí hậu (UNFCCC) đă được chấp
nhận vào ngày 9/5/1992 tại Trụ sở của Liên hợp quốc ở New York.
− Hiệncó 194 quốc gia và 1 tổ chức kinh tế khu vực tham gia .
− Việt Nam tham gia vào 16/11/1994.
3.2. Hiện trạng
− Con người đang đối diện với vấn đề biến đổi khí hậu với hiện tượng ấm lên tòan cầu.
Sự ấm lên toàn cầu do hiệu ứng các khí nhà kính đã và đang tác động mạnh mẽ đến hệ
thống khí hậu.
− Chủ yếu là do phát thải của các nước phát triển, phát thải của các nước chưa phát thải
còn thấp ( bình quân phát thải trên đầu người còn tương đối thấp).
3.3. Mục tiêu
Các quốc gia thành viên cam kết :
loại vũ khí hủy diệt hàng loạt”.
5.2. Nội dung:
5.2.1. Mục tiêu của Công ước về vũ khí hóa học:
• Tiêu huỷ toàn bộ các loại vũ khí hoá học và các phương tiện, cơ sở sản xuất vũ khí hoá
học hiện có trong khoảng thời gian từ 10 hoặc 15 năm.
• Cấm toàn bộ các chương trình phát triển vũ khí hoá học hiện tại.
• Ngăn chặn sự xuất hiện những chương trình phát triển vũ khí hoá học mới.
• Trợ giúp cho các nước thành viên khi họ bị đe doạ hoặc bị tấn công bằng vũ khí hoá
học.
• Mở ra khả năng xúc tiến tự do hoá thương mại trong lĩnh vực hoá chất cũng như hợp
tác, trao đổi quốc tế về những thông tin khoa học và kỹ thuật trong lĩnh vực hoá học và
công nghệ hoá học nhăm thúc đẩy sự phát triển kinh tế và kỹ thuật đối với tất cả các
nước thành viên.
• Để thực hiện được mục tiêu trên, Công ước cấm vũ khí hoá học đưa ra những điều
khoản về thanh tra và kiểm soát rất chặt chẽ việc tiêu huỷ các loại vũ khí hoá học, các
phương tiện, cơ sở sản xuất vũ khí hóa học và việc xuất nhập khẩu các loại hoá chất độc
qui định trong công ước.
5.2.2. Quyền lợi của các quốc gia thành viên:
• Nhận chuyển giao các thiết bị phát hiện, hệ thống báo động, các thiết bị và các chất
tiêu độc cũng như thuốc điều trị, tư vấn về tất cả các biện pháp phòng chống vũ khí hoá
học.
• Sử dụng thông tin sẵn có liên quan tới các biện pháp phòng chống vũ khí hoá học trong
ngân hàng dữ liệu của Ban thư ký kỹ thuật.
• Yêu cầu Ban thư ký kỹ thuật cung cấp các tư vấn chuyên môn và giúp đỡ thực hiện các
chương trình phát triển và hoàn thiện khả năng phòng chống vũ khí hoá học.
• Tiếp nhận sự giúp đỡ và bảo vệ chống lại việc sử dụng vũ hoá học.
• Yêu cầu viện trợ cho các nạn nhân do việc sử dụng vũ khí hoá học gây ra trong các
trường hợp khẩn cấp.
• Tạo cơ hội xúc tiến hợp tác và trao đổi quốc tế về thông tin khoa học kỹ thuật. Nghiên
cứu, phát triển, chuyển giao sử dụng các hoá chất và phương tiện, thiết bị sản xuất chế
6. Tuyên bố của Liên hợp quốc về môi trường và phát triển 1992 (Tuyên bố Rio):
6.1. Giới thiệu tuyên bố Rio:
Được nêu ra trong hội nghị Liên hợp quốc về Môi trường và Phát triển (UNCED), diễn ra tại
Rio de Janeiro, Brazil (1992), với sự tham dự của 178 quốc gia và khoảng 30 ngàn người.
6.2. Nội dung:
Tuyên bố Rio nêu ra 27 nguyên tắc không ràng buộc pháp lý, nhằm hướng tới một tuyên bố về
Quyền Môi trường để đảm bảo trách nhiệm bảo vệ môi trường của mọi người trong các hoạt
động phát triển. Tuyên bố đưa ra nguyên tắc tiếp cận:
• “Phòng ngừa là chính”, yêu cầu các dự án phải làm đánh giá tác động môi trường.
• “Trách nhiệm chung có phân biệt”: các nước phát triển, tùy nước sẽ có trách nhiệm liên
quan đặc biệt về việc gây áp lực lên môi trường, tài nguyên toàn cầu.
• “Người gây ô nhiễm phải trả tiền”: cá nhân doanh nghiệp sử dụng tài nguyên, môi
trường và gây ô nhiễm phải có trách nhiệm tài chính để giảm thiểu khả năng gây sự cố
môi trường.
6.3. Việt Nam:
Ở Việt Nam, do nhận thức được tầm quan trọng và tính bức thiết của vấn đề môi trường,
ngay sau Tuyên bố Rio, Nhà nước ta đã ban hành Luật Bảo vệ môi trường năm 1993. Sau đó
đã hình thành một hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật và hệ thống quản lý Nhà nước về
bảo vệ môi trường.
Ngày 26 tháng 8 năm 1998, Bộ Chính trị đã ban hành Chỉ thị số 36-CT/TW về tăng cường
công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Đặc biệt gần đây là nghị quyết số 41-NQ/TW (15/11/2004) về bảo vệ môi trường trong thời
kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Trong đó nhấn mạnh :”Bảo vệ môi
trường là một nội dung cơ bản, không thể thiếu trong đường lối, chủ trương và kế hoạch phát
triển kinh tế-xã hội của tất cả các cấp, các ngành, là cơ sở quan trọng đảm bảo phát triển bền
vững, thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”.
Phát triển bền vững đã trở thành đường lối, quan điểm của Đảng và chính sách của Nhà
nước. Để thực hiện mục tiêu phát triển bền vững, nhiều chỉ thị, nghị quyết khác của Đảng,
nhiều văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước đã được ban hành, nhiều chương trình, đề tài
nghiên cứu về lĩnh vực này đã được tiến hành và thu được những kết quả bước đầu, nhiều nội
Ðiều1. Các định nghĩa
Ðối với những mục của Công ước này:
"Tầng ôzôn" có nghĩa là tầng ôzôn khí quyển bên trên tầng biên hành tinh.
"Những ảnh hưởng có hại" nghĩa là những biến đổi trong môi trường vật lý hoặc sinh
khối. Bao gồm những biến đổi trong khí hậu có ảnh hưởng tai hại đến sức khoẻ con
người hoặc đến thành phần khả năng phục hồi và sức sinh sản của các hệ sinh thái tự
nhiên và cơ quan quản lý, hoặc các vật chất có ích cho nhân loại.
"Các kỹ thuật hoặc thiết bị thay thế" nghĩa là các kỹ thuật hoặc thiết bị mà khi sử dụng
có thể giảm hoặc khử có hiệu quả việc phát ra các chất cơ hoặc để có những ảnh hưởng
có hại đến tầng ôzôn.
"Các chất thay thế" là các chất làm giảm, khử hoặc tránh những ảnh hưởng có hại đến
tầng ôzôn.
"Các bên" là các bên của Công ước này, trừ khi có giải thích khác trong văn bản.
"Tổ chức hợp nhất kinh tế khu vực" là tổ chức bao gồm các quốc gia có chủ quyền của
một khu vực, có thẩm quyền về các vấn đề trong Công ước này hoặc các Nghị định thư
của nó và đã được uỷ quyền thích đáng phù hợp với các thủ tục nội bộ để ký, phê
chuẩn, thừa nhận, tán thành hoặc tham gia vào các văn kiện liên quan.
"Các Nghị định thư" là các Nghị định thư của Công ước này.
Ðiều2. Những nghĩa vụ chung
Các bên sẽ dùng những biện pháp thích hợp phù hợp với các điều khoản của Công ước
này và của các Nghị định thư có hiệu lực họ đã tham gia để bảo vệ sức khoẻ con người
và mm chống lại những ảnh hưởng có hại phát sinh hoặc dễ phát sinh từ những hoạt
động của con người làm thay đổi hoặc dễ làm thay đổi tầng ôzôn.
Ở đây, phù hợp với các phương tiện hiện có và trong phạm vi khả năng của mình, các
bên sẽ:
• Hợp tác bằng các quan trắc có hệ thống, nghiên cứu và trao đổi thông tin để hiểu rõ
và đánh giá tốt hơn những ảnh hưởng của các hoạt động của con người đến tâng
ôzôn và những ảnh hưởng đến sức khoẻ con người và mm do biến đổi tầng ôzôn;
• Chấp nhận các biện pháp pháp lý hoặc hành chính và hợp tác trong việc phối hợp
các chính sách thích hợp để kiểm soát hạn chế, giảm bớt hoặc ngăn chặn những
Ðiều18. Các bảo lưu
Ðiều19. Rút khỏi Công ước
Ðiều20. Ban lưu trữ
Ðiều21. Các văn bản xác thực
8. Nghị định thư Montreal về các chất làm suy giảm tầng ôzôn, 1987
8.1. Giới thiệu:
Nghị định thư Montreal về các chất làm suy giảm tầng ôzôn (một nghị định thư của Công ước
Vienna về bảo hộ của các tầng ôzôn) là một hiệp ước quốc tế được thiết kế để bảo vệ tầng
ozone bằng cách loại bỏ dần việc sản xuất nhiều các chất được cho là chịu trách nhiệm về sự
suy giảm ozone. Hiệp ước này được mở cho việc ký kết vào ngày 16 tháng 9 1987, và đã có
hiệu lực từ ngày 01 tháng một năm 1989, theo sau một cuộc họp đầu tiên tại Helsinki, tháng 5
năm 1989. Kể từ đó, nó đã trải qua bảy sửa đổi, trong năm 1990 (London), 1991 (Nairobi),
1992 (Copenhagen), 1993 (Bangkok), 1995 (Viên), 1997 (Montreal), 1999 (Bắc Kinh). Người
ta tin rằng nếu các thỏa thuận quốc tế được tôn trọng, tầng ozone dự kiến sẽ phục hồi vào năm
2050. Do thông qua thực hiện rộng rãi và đã được ca ngợi là một ví dụ về hợp tác quốc tế đặc
biệt, với tổng thư ký Liên Hiệp Quốc lúc đó là Kofi Annan được trích dẫn nói rằng "có lẽ thỏa
thuận quốc tế thành công nhất cho đến nay đã đạt được trên thế giới là Nghị định thư
Montreal". Nghị định đã được 196 quốc gia phê duyệt.
Tại cuộc họp giữa các bên lần thứ hai tại London ngày 27/6 – 29/6/1990; được bổ sung tại
cuộc họp lần thứ ba tại Nairobi ngày 19/6 – 21/6/991 và cuộc họp lần thứ tư tại Copenhagen
ngày 23/11 – 25/11/1992
Nội dung: Các Bên tham gia Nghị định thư thư này là các Bên tham gia Công ước Viên về bảo
vệ tầng ôzôn.
Lo lắng về nghĩa vụ của mình theo Công ước phải có những biện pháp thích hợp bảo vệ sức
khoẻ con người và môi trường, chống lại những ảnh hưởng có hại do kết quả hoặc dễ có khả
năng làm thay đổi tầng ôzôn,
Nhận thấy rằng sự phát thải một số chất trên toàn thế giới có thể làm suy giảm đáng kể và mặt
khác làm thay đổi tầng ôzôn, theo hướng dễ gây nên những ảnh hưởng có hại đối với sức khoẻ
con người và môi trường, ý thức được những ảnh hưởng tiềm tàng của sự phát thải các chất đó
tới khí hậu,
bằng các công nghệ được các Bên chấp thuận và trừ đi lượng được sử dụng hoàn toàn như là
nguyên liệu trong việc chế biến các hoá chất khác. Lượng được tái phát chu chuyển và tái sử
dụng không được xem là "sản xuất".
"Tiêu thụ" nghĩa là sản xuất cộng nhập khẩu trừ đi xuất khẩu về các chất được kiểm soát.
"Mức tính toán" về sản xuất, nhập, xuất khẩu và tiêu thụ nghĩa là mức được xác định phù hợp
với Ðiều 3.
"Hợp lý hoá công nghiệp" nghĩa là sự chuyển nhượng toàn bộ hoặc một phần mức tính toán về
sản xuất của một Bên cho Bên khác, nhằm mục đích đạt được hiệu quả kinh tế hoặc đáp ứng
sự thiếu hụt thấy trước về cung do việc đóng cửa nhà máy
8.2. Nội dung:
Gồm các điều
Điều 1: Các định nghĩa
Ðiều 2: Biện pháp kiểm soát
Ðiều 2A: Các chất cfcs
Ðiều 2B: Các chất Halon
Ðiều 2C: Các chất cfcs đầy halogen khác
Ðiều 2D: Tetraclorít các bon
Ðiều 2E
Ðiều 2F : Hydrocloruafluorocacbon
Ðiều 2G: Hydrobromofluorocacbon
Ðiều 2H: Metyl bromid
Ðiều 3: Tính toán các mức kiểm soát
Ðiều 4: Kiểm soát việc buôn bán với ngoài các bên
Ðiều 5: Tình trạng đặc biệt của các nước đang phát triển
Ðiều 6: Đánh giá và kiểm điểm các biện pháp kiểm soát
Ðiều 7: Báo cáo số liệu
Ðiều8: Sự không tuân thủ
Ðiều9: Nghiên cứu, triển khai, nhận thức xã hội và trao đổi thông tin
Ðiều 10: Hỗ trợ kỹ thuật
Ðiều10: Cơ chế tài chính
kinh doanh. Nhưng chúng tôi mong các doanh nghiệp có thể thu xếp được vì công nghệ mới
mang lại nhiều lợi ích, tăng tính cạnh tranh và sản phẩm làm ra an toàn với môi trường”
9. Công ước chống sa mạc hóa của Liên hợp quốc, 1992
9.1. Giới thiệu:
Công ước Chống sa mạc hoá của Liên Hợp Quốc được đưa ra tại Hội nghị thượng đỉnh về môi
trường và phát triển tại Rio de Janeiro, Brazin vào tháng 6 năm 1992.
Sau hơn một năm tham khảo ý kiến đóng góp của hơn 1.000 nước trên thế giới, cuối cùng
Công ước đã được hoàn chỉnh vào tháng 6 năm 1994. Công ước được mở cho các nước ký tại
Pari vào ngày 14-15 tháng 10 năm 1994.
Mục tiêu của công ước:
• Xây dựng các chương trình quốc gia, tiểu vùng và vùng để phòng chống khô hạn và sa
mạc hoá
• Kêu gọi cộng đồng quốc tế hỗ trợ tài chính cho việc chống sa mạc hoá
• Trao đổi thông tin, kỹ thuật và đào tạo về chống sa mạc hoá
• Ngăn chặn hậu quả sa mạc hoá dẫn đến di cư ồ ạt, các loài động thực vật bị tiệt chủng,
khí hậu thay đổi v.v
• Hiện trạng về sa mạc hoá
9.2. Nội dung:
Các bên tham gia Công ước Chống Sa mạc hoá của Liên Hợp quốc:
• Nhận thức rất rõ về nguy cơ sa mạc hoá
• Thấy rằng sa mạc hoá là vấn đề có qui mô toàn cầu ảnh hưởng đến mọi vùng trên trái
đất, cộng đồng thế giới cần phải có hành động chung để chống sa mạc hoá
• Nhận thức rõ rằng sa mạc hoá là do nhiều nhân tố tác động như lý học, sinh học, chính
trị, xã hội, kinh tế gây ra
• Nhận thức rõ tăng trưởng kinh tế bền vững, phát triển xã hội và xoá đói giảm nghèo là
mục tiêu ưu tiên của các nước đang phát triển bị sa mạc hoá
• Thấy rằng sa mạc hoá và khô hạn làm ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững và an
ninh lương thực
• Đánh giá cao nỗ lực của các nước và các tổ chức quốc tế trong việc chống sa mạc hoá,
hạn hán và thực thi kế hoạch hành động chống sa mạc hoá của Liên Hợp Quốc, tuy
ảnh hưởng của hạn hán vì lợi ích của thế hệ hôm nay và mai sau.
9.2.1. Nghĩa vụ của Việt Nam khi tham gia công ước
• Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên thứ 134 của Công ước quốc tế về chống sa
mạc hoá vào tháng 11 năm 1998. Là một quốc gia tham gia Công ước, Việt Nam cam kết
thực hiện các nghĩa vụ chung theo Điều 4 của văn kiện cũng như nghĩa vụ của các quốc
gia bị ảnh hưởng bởi sa mạc hóa và hạn hán quy định trong Điều 5, đó là:
• ưu tiên chống sa mạc hóa, hạn chế ảnh hưởng của hạn hán và huy động đủ nguồn lực theo
khả năng và điều kiện cụ thể của mỗi nước.
• Xây dựng chiến lược và xác định các ưu tiên trong khuôn khổ kế hoạch phát triển bền
vững nhằm chống sa mạc hoá và hạn chế ảnh hưởng của quá trình sa mạc hóa đến các
hoạt động kinh tế - xã hội.
• Nâng cao nhận thức và tạo điều kiện để cộng đồng địa phương tham gia các hoạt động
chống sa mạc hóa và hạn chế hạn hán, đặc biệt là phụ nữ và thanh niên, có sự hỗ trợ của
các tổ chức phi chính phủ.
• Thiết lập cơ chế hỗ trợ phù hợp bằng cách tăng cường hệ thống pháp lý hiện hành và xây
dựng các luật mới, xây dựng các chính sách và chương trình hành động dài hạn.
• Ngay sau khi trở thành thành viên của Công ước, Việt Nam đã tích cực triển khai các hoạt
động thực hiện Công ước như chỉ định cơ quan đầu mối quốc gia, thành lập Ban điều phối
quốc gia, xây dựng báo cáo quốc gia về việc thực hiện Công ước, xây dựng Chương trình
hành động quốc gia và tiến hành các hoạt động tuyên truyền, giáo dục, huy động các
thành viên trong và ngoài nước tham gia thực hiện Công ước.
• Cơ quan đầu mối quốc gia thực hiện Công ước là Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông
thôn.
• Ban Điều phối quốc gia gồm đại diện của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính, Văn
phòng Chính phủ, Bộ Ngoại giao, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Khoa học và Công
nghệ, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Văn phòng Công ước đặt tại Cục Lâm
nghiệp, thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
9.2.2. Việt Nam thực thi Công ước
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp với Bộ Tài nguyên và Môi trường, cùng với
các địa phương bị sa mạc hóa nặng đang xây dựng chương trình hành động thực thi Công ước
Ngoài ra, công ước đã xây dựng các chương trình chuyên đề và các vấn đề đa ngành có liên
quan đến nội dung này như Chương trình Đa dạng Sinh học Nông nghiệp, vấn đề tiếp cận
nguồn gen và chia sẻ lợi ích và vấn đề tri thức bản địa.
10.2. Đặc điểm và nội dung của Công ước đa dạng sinh học
CBD là một công ước khung, các điều khoản của công ước chỉ đưa ra các mục tiêu tổng quát
cần đạt được chứ không phải là các hoạt động cụ thể và bắt buộc. Các bên tham gia công ước,
tuỳ thuộc vào khả năng của mình, sẽ tự quyết định cách thức thực hiện các điều khoản đó. Cơ
quan ra quyết định của công ước là Hội nghị Các bên Tham gia (COP). Hội nghị là nơi các
bên tham gia công ước bàn bạc và đưa ra các quyết định liên quan đến việc thực hiện công ước
cũng như bổ sung thêm các phụ lục hoặc nghị định thư của công ước.
Điều 1 đặt ra 3 mục tiêu chính của công ước:
• Bảo tồn đa dạng sinh học
• Sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên, và
• Chia sẻ công bằng và bình đẳng các lợi ích phát sinh từ việc sử dụng những nguồn tài
nguyên di truyền.
10.3. Chủ quyền quốc gia và mối quan tâm chung của nhân loại
Công ước thừa nhận chủ quyền của các quốc gia đối với đa dạng sinh học của mình. Đồng thời
công ước cũng khẳng định rằng bảo tồn đa dạng sinh học là mối quan tâm chung của nhân
loại. Do vậy, mặc dù có chủ quyền đối với tài nguyên của mình, các quốc gia cũng có trách
nhiệm phải bảo tồn và sử dụng bền vững tài nguyên đó.
10.3.1. Bảo tồn và sử dụng bền vững
Công ước đặt ra một loạt các điều khoản về bảo tồn và sử dụng bền vững đa dạng sinh học. Về
mặt chính sách, CBD kêu gọi các bên tham gia xây dựng các chiến lược và kế hoạch quốc gia,
lồng gép bảo tồn và sử dụng bền vững đa dạng sinh học vào các kế hoạch, chương trình và
chính sách của các ngành khác, cũng như vào quá trình hoạch định chính sách quốc gia. Để có
cơ sở khoa học vững chắc cho quá trình ra chính sách và quyết định, các bên cần tiến hành xác
định các thành phần quan trọng của đa dạng sinh học cũng như các ưu tiên bảo tồn đối với các
thành phần đó. Các hoạt động gây ra tác động tiêu cực đối với đa dạng sinh học cũng cần phải
được xác định và giám sát.
Vấn đề bảo tồn nội vi (in-situ) được nhấn mạnh trong nội dung công ước. Hàng loạt điều