ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
VŨ THỊ HỒNG LUYẾN
QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI KHU DI TÍCH LỊCH SỬ
QUỐC GIA ĐẶC BIỆT TÂN TRÀO LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC QUẢN LÝ
HÀ NỘI - 2015 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Tác giả 1
MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ 4
DANH MỤC BẢNG BIỂU 4
PHẦN MỞ ĐẦU 5
1. Lý do chọn đề tài 5
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu 7
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 9
3.1. Mục tiêu nghiên cứu 9
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu 9
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 9
4.1. Đối tượng nghiên cứu 9
4.2. Phạm vi nghiên cứu 9
5. Vấn đề nghiên cứu 10
6. Giả thuyết nghiên cứu 10
7 . Phƣơng pháp nghiên cứu 11
8. Kết cấu luận văn 11
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI
DI TÍCH LỊCH SỬ 11
1.1. Một số khái niệm cơ bản 12
1.2. Cơ sở pháp lý của quản lý nhà nƣớc về di tích lịch sử 19
1.3. Chủ thể, nguyên tắc, phƣơng pháp quản lý nhà nƣớc về di tích lich
sử 24
2.2.1. Điểm mạnh 53
2.2.2. Điểm yếu 57
2.2.3. Nguyên nhân 61
CHƢƠNG 3: GIẢI PHÁP TĂNG CƢỜNG QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC ĐỐI
VỚI KHU DI TÍCH LỊCH SỬ QUỐC GIA ĐẶC BIỆT TÂN TRÀO 62
3.1. Kiện toàn nguồn nhân lực quản lý 62
3.2. Tạo lập một lộ trình và sự đồng bộ trong việc tu bổ, tôn tạo và phục
hồi các điểm di tích 63
3.3. Tăng cường công tác kiểm kê di tích, lập hồ sơ di tích mới phát hiện
và bổ sung hồ sơ di tích hiện có 66
3.4. Tăng cường các hoạt động bảo tồn, phát huy giá trị của khu di tích
gắn với phát triển du lịch 67
3
3.5. Sử dụng hiệu quả vốn đầu tư nhà nước và xây dựng, ban hành các
chính sách huy động được nguồn vốn bên ngoài 70
3.6. Nâng cao trình độ của cán bộ quản lý và chuyên môn nghiệp vụ của
đội ngũ hướng dẫn viên 74
3.7. Đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra 76
KẾT LUẬN 78
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 80
Phụ lục 1 84
Phụ lục 2 87
4
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
Hình 2.1: Mô hình cơ cấu quản lý nhà nước đối với Khu di tích lịch sử quốc
ngày Di sản văn hóa Việt Nam. Như vậy, di tích, cổ tích, hay gọi đầy đủ là
di sản văn hóa cho dù ở hoàn cảnh lịch sử nào, giai đoạn cách mạng nào
Đảng ta luôn luôn đặc biệt quan tâm bảo vệ vì nó là hồn của dân tộc, là nền
tảng tinh thần, động lực nội sinh của sự phát triển bền vững, nhất là giai
đoạn đất nước ta đang trong quá trình đổi mới, phát triển và hội nhập hiện
nay.
Tuyên Quang là một tỉnh vùng cao miền núi phía Bắc của đất nước ta,
là một tỉnh được biết đến với giàu truyền thống cách mạng, là nơi khởi phát,
nơi hội tụ, giao thoa của những sắc thái văn hóa riêng của các dân tộc thiểu
số ở miền núi phía Bắc với những lễ hội truyền thống đặc sắc, những truyền
thuyết, những làn điệu dân ca ngọt ngào, những cảnh đẹp nên thơ do thiên
nhiên ban tặng. Trong số đó phải kể đến các điểm di tích lịch sử - văn hóa
năm rải rác trên toàn tỉnh, với tổng số trên 400 điểm di tích thì Tuyên
Quang giống như một bảo tàng cách mạng, là một điểm đến hấp dẫn trong
hành trình tìm về cội nguồn của du khách.
Như vừa đề cập ở trên Tuyên Quang có khoảng trên 400 điểm di tích
lịch sử - văn hóa, di tích cách mạng. Trong đó phải kể đến là di tích lịch sử
Tân Trào, trong kháng chiến chống Pháp Tân Trào chính là thủ đô lâm thời
của khu giải phóng, nơi Đảng Cộng sản Việt Nam đã tiến hành hội nghị
toàn quốc ngày 13/08/1945 để quyết định tổng khởi nghĩa, bầu ra một chính
phủ lâm thời do Hồ Chí Minh là chủ tịch và quân giải phóng tiến hành làm
6
lễ ra quân, mở đầu cho giai đoạn toàn quốc kháng chiến đấu tranh giải
phóng nhân dân ta khỏi ách áp bức bóc lột của Thực dân Pháp. Nơi đây
được biết đến với các di tích đã đi vào lịch sử như: Cây đa Tân Trào, mái
đình Hồng Thái, Lán Nà Lừa, Hang Bòng khu di tích chính là bằng
chứng lịch sử xác thực về một thời kỳ đấu tranh giành độc lập của nhân dân
ta. Nhận thức được ý nghĩa quan trọng của khu di tích tháng 8/2012 khu di
tích đã được chính thức công nhận là khu di tích quốc gia đặc biệt và có tên
văn của mình, với hy vọng góp phần vào việc nâng cao chất lượng và hiệu
quả công tác quản lý di tích nhằm bảo tồn và phát huy giá trị của nó một
cách bền vững cho sự nghiệp gìn giữ và phát huy giá trị di sản văn hóa của
tỉnh Tuyên Quang nói riêng và cả nước nói chung.
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu
Đề tài về di tích lịch sử hiện nay không phải là đề tài nghiên cứu mới
đối với chúng ta, bởi từ lâu chúng ta đã khẳng định được những vai trò to
lớn của nó.Các nghiên cứu và bài viết đã đề cập nhiều đến giá trị lịch sử,
vai trò to lớn của các di tích đối với lịch sử, văn hóa của đất nước.
Các tác giả Nguyễn Đăng Duy và Trịnh Minh đức đã có nghiên cứu về
di tích lịch sử trong cuốn sách:“Bảo tồn di tích lịch sử văn hóa”, 1993 –
Trường Đại học văn hóa. Trong cuốn sách này các tác giả đã trình bày một
cách có hệ thống những vấn đề lý luận về di tích lịch sử và nghiệp vụ bảo
tồn di tích, không đi sâu vào các loại hình di tích.Đồng thời, giới thiệu một
cách khái lược về các loại hình di tích lịch sử - văn hóa ở Việt Nam. Tuy
nhiên, trong nghiên cứu của mình các tác giả chỉ đi sâu giải quyết một vấn
đề cơ bản của một ngành khoa học – Ngành bảo tồn bảo tàng.
Trong giáo trình “Cơ sở bảo tàng học” do bộ môn Bảo tàng học, Khoa
bảo tồn bảo tàng, trường Đại học văn hóa Hà Nội biên soạn năm 1990 cũng
đã đề cập về di tích lịch sử. Đó là các vấn đề liên quan đến việc bảo tồn di
tích trên thế giới, nhất là về nghiệp vụ bảo tồn ở nước ta. Giáo trình đã giới
thiệu tương đối đầy đủ về các văn bản pháp lý như các Thông tư, chỉ thị,
Nghị định, pháp lệnh về bảo tồn, bảo tàng do Đảng và Nhà nước ta ban
hành. Đồng thời cũng đề cập về số lượng các di tích đã được kiểm kê, tu
sửa; việc xếp hạng, đào tạo cán bộ bảo tồn bảo tàng; về hệ thống tổ chức
của các cơ quan bảo tồn, bảo tàng qua các thời kỳ lịch sử. Cũng như trên
giáo trình cũng chỉ tập trung nghiên cứu về một ngành khoa học của thể.
8
Tác giả Dương Văn Sáu – Trường Đại học Văn hóa Hà Nội trong cuốn
thấy là chưa có một báo cáo nào đưa ra một khái quát chung nhất về vấn đề
quản lý khu di tích Quốc gia đặc biệt Tân Trào. Trong bài báo cáo này của
tác giả cũng mong muốn đưa ra một vài tổng hợp khái quát của mình về
thực trạng công tác quản lý khu di tích Quốc gia đặc biệt Tân Trào, đưa ra
những điểm còn hạn chế và từ đó là một vài đóng góp của đề tài để ngày
một nâng cao hiệu quả quản lý khu di tích để khu di tích ngày càng phát
huy được giá trị lịch sử to lớn củamình.
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục tiêu nghiên cứu
- Chỉ ra thực trạng công tác quản lý nha
̀
nươ
́
c đối vơ
́
i khu di tích lịch sử
Quốc gia đă
̣
c biê
̣
t Tân Trào;
- Đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý của khu di tích.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa các vấn đề chung về công tác quản lý nha
̀
nươ
́
c đối vơ
́
i
biểu ở huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang nới mà tác giả đang sinh sống,
gồm các điểm di tích sau: Cây đa Tân Trào, Đình Hồng Thái, Đình Tân
Trào, Lán Nà Lừa, Hang Bòng.
- Phạm vi thời gian: Từ năm 2010 – 2012. Sở dĩ tác giả chọn mốc thời
gian này là do trong khoảng thời gian này tồn tại nhiều vấn đề yếu kém
trong vấn đề quản lý. Điều đó sẽ dẫn đến những hệ lụy không tốt cho việc
bảo tồn và phát huy các giá trị của di sản của khu di tích
5. Vấn đề nghiên cứu
- Thực trạng quản lý Nhà nước đối với khu di tích lịch sử Quốc gia đặc
biệt Tân Trào hiện nay như thế nào?
- Giải pháp nào để tăng cường quản lý nhà nước đối với khu di tích lịch
sử Quốc gia đặc biệt Tân Trào?
6. Giả thuyết nghiên cứu
- Công tác quản lý nhà nước đối với khu di tích lịch sử quốc gia đặc biệt
Tân Trào hiện nay đã được thực hiện tương đối tốt góp phần rất lớn vào
việc quản lý và nâng cao giá trị của khu di tích. Tuy nhiên vẫn còn một vài
hạn chế trong quá trình quản lý cần khắc phục để đạt hiệu quả cao hơn.
- Để tăng cường quản lý nhà nước đối với khu di tích lịch sử Tân Trào
phải nâng cao hơn nữa chất lượng quản lý khu di tích thông qua việc thực
hiện đồng bộ các giải pháp từ giải pháp đối với việc tu bổ, tôn tạo, phục hồi,
đào tạo quản lý nguồn nhân lực đến các giải pháp thực hiện thu hút đầu tư,
giải pháp tăng cường các hoạt động du lịch, lễ hội truyền thống gắn với khu
di tích. Từ đó góp phần nâng cao hơn nữa công tác quản lý nhà nước đối
với khu di tích lịch sử Tân Trào.
11
7 . Phƣơng pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này tác giả sử dụng các phương pháp:
* Phương pháp luận: đề tài được nghiên cứu trên cơ sở vận dụng
phương pháp luận của phép biện chứng duy vật và lịch sử , trên quan điểm
nhau để đạt được mục tiêu mà chủ thể quản lý mong muốn. Để tồn tại và
phát triển, quản lý cần thiết đối với mọi phạm vi hoạt động của xã hội.
Quản lý là một dạng hoạt động đặc biệt quan trọng của con người. Nó
chứa đựng nội dung rộng lớn, đa dạng phức tạp và luôn vận động, biến đổi,
phát triển. Vì vậy, có nhiều cách tiếp cận và quan niệm khác nhau.
Tuy nhiên dựa vào các hoạt động thực tế nói chung, quản lý có thể
được hiểu theo nghĩa chung nhất như sau: Quản lý là tác động có ý thức,
bằng quyền lực, theo quy trình, của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý để
phối hợp các nguồn lực nhằm thực hiện mục tiêu của tổ chức trong điều
kiện môi trường biến đổi [32, tr. 17].
Như vậy, từ định nghĩa trên về quản lý ta có thể thấy, trong hoạt động
quản lý ít nhất phải có một chủ thể quản lý (cá nhân hay tổ chức), ít nhất
một đối tượng quản lý (con người – một cá nhân hay nhiều người, hoặc một
bộ phận của giới vô sinh hay sinh vật) gián tiếp hoặc trực tiếp nhận sự tác
động của chủ thể quản lý. Hoạt động quản lý bao giờ cũng nhắm tới một
mục tiêu nhất định.Các yếu tố khác tạo nên môi trường của hệ thống chính
là khách thể của hoạt động quản lý.
13
Nội dung cơ bản của quản lý hiện nay cũng có nhiều học giả và các nhà
nghiên cứu đưa ra, nhưng tựu chung lại vẫn gồm các nội dung sau: Nguyên
tắc và phương pháp quản lý, lập kế hoạch và ra quyết định quản lý, tổ chức,
lãnh đạo, kiểm tra.
Cấp độ quản lý (dưới góc độ văn hóa) cũng có hai cấp độ cơ bản:
+ Quản lý cấp vĩ mô: quản lý văn hóa ở cấp vĩ mô
+ Quản lý cấp vi mô (chuyên ngành): quản lý các ngành như thư viện,
bảo tàng, nghệ thuật, di tích,…
* Khái niệm di tích và di tích lịch sử
Di tích và di tích lịch sử là một bộ phận quan trọng của di sản văn
hóa.
tiêu biểu về kiến trúc, nghệ thuật của một hoặc nhiều giai đoạn lịch sử” [19,
tr. 16]
Nhiều nước trên thế giới đặt chung cho di tích lịch sử văn hoá là dấu
tích, dấu vết còn lại. Tiếng Pháp viết là Vestige, tiếng Anh cũng viết là
Vestige. Trung Quốc gọi là “Cổ tích”.Mỗi nước trên thế giới đều có những
khái niệm, quy định khác nhau về di tích lịch sử văn hoá. Theo điều 1 của
Hiến chương Venice – Italya 1964 quy định:di tích lịch sử bao trùm không
chỉ là một công trình kiến trúc đơn lẻ mà cả khung cảnh đô thị hoặc nông
thôn có chứng tích của một nền văn minh riêng, một sự tiến hóa có ý nghĩa
hoặc một sự kiện lịch sử”.
Hội nghị lần thứ V Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII đã ra
nghị quyết số 03-NQ/TW ngày 16/07/1998 về xây dựng và phát triền nền
văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, trong đó nhấn mạnh: di
sản văn hóa là tài sản vô giá, gắn kết cộng đồng dân tộc, là cốt lõi của bản
sắc văn hóa dân tộc, cơ sở để sáng tạo những giá trị mới và giao lưu văn
hóa. Hết sức coi trọng, bảo tồn, kế thừa, phát huy những giá trị văn hóa
truyền thống (bác học, dân gian), văn hóa cách mạng bao gồm cả văn hóa
vật thể và văn hóa phi vật thể.di tích lịch sử văn hoá là một bộ phận quan
trọng của di sản văn hóa.
15
Theo “Pháp lệnh bảo vệ và sử dụng di tích lịch sử, văn hóa và danh
lam thắng cảnh” công bố ngày 04/04/1984 quy định “Di tích lịch sử - văn
hoá là những công trình xây dựng, địa điểm, đồ vật, tài liệu và tác phẩm có
giá trị lịch sử, khoa học, nghệ thuật cũng như có giá trị văn hoá khác hoặc
có liên quan đến những sự kiện lịch sử, quá trình phát triển văn hoá, xã
hội”[18]
Ngày 22/07/2001 Chủ tịch nước đã ký sắc lệnh số 09 - L/CTN công
bố Luật Di sản văn hóa, được Quốc hội thông qua tại kỳ họp thứ IX quốc
hội khóa X ngày 29/06/2001 thì “Di tích lịch sử - văn hóa là công trình xây
di sản văn hóa của mỗi địa phương. Trong bối cảnh kinh tế thị trường hiện
nay của đất nước, đời sống được cải thiện, nhu cầu tìm hiểu, tham quan,
nghiên cứu, giáo dục, học hỏi những giá trị văn hóa truyền thống ngày càng
cao và được quan tâm nhiều hơn. Vì vậy, việc quản lý, bảo tồn và phát huy
giá trị của di sản văn hóa nói chung và di tích lịch sử nói riêng là một việc
làm cấp thiết.
Với ý nghĩa đó, chúng ta có thể hiểu về quản lý di tích lịch sử như sau:
Quản lý nhà nước đối với di tích lịch sử là sự tác động có tổ chức chỉ đạo
và điều hành thực hiện kết hợp với thanh tra, kiểm tra bằng quyền lực nhà
nước do các cơ quan trong bộ máy nhà nước về di tích tiến hành, trên cơ sở
các văn bản quy phạm pháp luật về di tích để thực hiện chức năng, nhiệm
vụ và quyền hạn của nhà nước nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội và hành
vi của công dân đối với lĩnh vực di tích.
* Khái niệm nhà nước
Khái niệm nhà nước có rất nhiều nghiên cứu và cách hiểu khác nhau,
sau đây là một vài khái niệm:
Theo Từ điển luật học của tập thể tác giả do tác giả Nguyễn Đình Lộc
(Chủ tịch Hội đồng biên soạn), xuất bản năm 2006, nhà nước được định
nghĩa là: “tổ chức quyền lực chính trị của xã hội có giai cấp, có lãnh thổ,
17
dân cư, và chính quyền độc lập, có khả năng đặt ra và thực thi pháp luật
nhằm thiết lập trật tự xã hội nhất định trong phạm vi lãnh thổ của mình”
Theo giáo trình Lý luận chung nhà nước và pháp luật do tác giả Lê
Minh Tâm (chủ biên): “Nhà nước là một tổ chức đặc biệt của quyền lực
chính trị, một bộ máy chuyên làm nhiệm vụ cưỡng chế và thực hiện các
chức năng quản lý đặc biệt nhằm duy trì trật tự xã hội, thực hiện mục đích
bảo vệ địa vị của giai cấp thống trị trong xã hội"
Theo giáo trình Lý luận nhà nước và pháp luật của tác giả Nguyễn Minh
Đoan: “Nhà nước là tổ chức quyền lực chính trị công cộng đặc biệt, một bộ
kiểm soát nhắm phối hợp để đưa pháp luật vào cuộc sống nhằm đạt được
mục tiêu quản lý của nhà nước.
Với cách hiểu chung về quản lý nhà nước trên sẽ là cơ sở cho việc đi
vào việc thực hiện chức năng quản lý nhà nước ở một lĩnh vực cụ thể - di
tích lịch sử.
* Khái niệm quản lý nhà nước về di tích lịch sử
Di tích lịch sử là một bộ phận của di sản văn hóa Việt Nam, là bằng
chứng sinh động, quý báu về quá trình dựng nước và giữ nước của dân tộc
ta. Một đất nước mà không có di tích thì mất hết ý nghĩa, chính vì vậy các
di tích lịch sử cần được quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị để phục vụ cho
lợi ích xã hội, đáp ứng nhu cầu của người dân muốn tìm hiểu về lịch sử dân
tộc, khẳng định thêm niềm tự hào dân tộc, góp phần ổn định chính trị, giữ
gìn bản sắc dân tộc và phát triển kinh tế xã hội vì mục tiêu tiến tới xây dựng
đất nước dân chủ, văn minh.
Trong hoạt động quản lý di sản văn hóa nói chung và di tích lịch sử
nói riêng thì việc ban hành các văn bản pháp luật sẽ tạo cơ sở pháp lý cho
việc quản lý là việc làm tối cần thiết. Vì vậy, trong quá trình lãnh đạo sự
nghiệp xây dựng và phát triển đất nước do nhận thức rõ tầm quan trọng của
văn hóa trong đó có di sản văn hóa đối với sự phát triển bền vững của đất
nước, Đảng và Chính phủ đã có nhiều quyết sách, ban hành các văn bản
pháp luật về quản lý di sản văn hóa nói chung, di tích lịch sử nói riêng phù
19
hợp với điều kiện lịch sử cụ thể trong từng giai đoạn phát triển của đất
nước.
Từ những lý giải trên có thể rút ra rằng: Quản lý nhà nước về di tích
lịch sử là hoạt động của các cơ quan nhà nước, tổ chức và cá nhân có thẩm
quyền trong việc sử dụng quyền lực nhà nước để xây dựng, ban hành pháp
luật. Đồng thời sử dụng phương tiện pháp luật để quản lý, tuyên truyền
giáo dục, kiểm tra, giám sát việc chấp hành pháp luật; xử lý nghiêm minh,
cổ học viện. Ngày 28/6/1956 Ban chấp hành Trung Ương Đảng Lao động
Việt Nam ra Thông tư số 38-TT/TW gửi tới các cấp bộ Đảng về việc bảo vệ
những di tích lịch sử văn hóa, vừa uốn nắn những sai sót gây tổn hại cho
kho tàng di sản văn hóa dân tộc, vừa đề ra một số việc phải làm là: Nâng
cao ý thức trách nhiệm bảo vệ di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh trong các
cấp các ngành, các tổ chức xã hội và toàn dân; Đình chỉ ngay những hoạt
động kinh tế đang phương hại trực tiếp đến một số di tích cụ thể; Tiến hành
phân loại các di tích, cần có kế hoạch để tu bổ các di tích.
Ngày 29/10/1957, Thủ tướng Chính phủ ra nghị định số 519/TTg, quy
định về thể lệ bảo tồn cổ tích. Đây là văn bản pháp lý có giá trị thiết thực
của Chính Phủ trong việc bảo vệ, giữ gìn các di sản văn hóa trong hai thập
kỷ chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta. Nghị định là kim chỉ nam cho mọi
hoạt động công tác quản lý di sản văn hóa từ năm 1957 - 1984. Nghị định
gồm 7 mục, 32 điều trong đó đề cập đến công tác quản lý di tích lịch sử,
văn hoáở các góc độ như liệt hạng di tích lịch sử, văn hoá; việc trùng tu, tôn
tạo di tích; chế độ khen thưởng và kỷ luật đối với các tổ chức và cá nhân có
thành tích trong việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa dân tộc. Nghị
định đã phát huy tác dụng mạnh mẽ trong đời sống xã hội, phục vụ sự
nghiệp cách mạng do Đảng lãnh đạo.
Sau khi đất nước thống nhất, cả nước bước vào giai đoạn khôi phục và
phát triển kinh tế, xây dựng cơ sở vật chất cho con đường chủ nghĩa xã hội.
Đảng và nhà nước ta luôn đánh giá đúng vai trò của công tác quản lý di sản
văn hóa, tiếp tục đề ra những chính sách, biện pháp cụ thể thích ứng với
21
thời kỳ mới của đất nước nhằm tăng cường hơn nữa công tác quản lý di tích
lịch sử, văn hoá.
Ngày 31/03/1984, Hội đồng nhà nước đã ban hành và công bố pháp
lệnh 14 LCT/HĐND về việc “Bảo vệ và sử dụng di tích lịch sử, văn hoávà
danh lam thắng cảnh”. Pháp lệnh gồm 5 chương và 27 điều. Pháp lệnh đã
sản văn hóa. Luật Di sản văn hóa đã cụ thể hóa đường lối, chính sách pháp
luật, tư duy đổi mới của Đảng và Nhà nước ta, đồng thời tạo điều kiện
thuận lợi cho tiến trình dân chủ hóa và xã hội hóa các hoạt động bảo vệ và
phát huy giá trị các di sản văn hóa. Luật điều chỉnh những vấn đề hoàn toàn
mới và hoàn thiện nâng cao những vấn đề đã được quy định trong các văn
bản quy phạm pháp luật trước đây cho phù hợp với thực tiễn ở Việt Nam và
thông lệ quốc tế.
Những nội dung được cụ thể hóa qua các quy định ở Luật Di sản văn
hóa đã tạo động lực cho sự nghiệp bảo vệ và phát huy di sản văn hóa của
dân tộc có những bước phát triển mới theo hướng: Bảo tồn và tôn vinh
những di sản văn hóa dân tộc có giá trị cao nhất; Tạo điều kiện thuận lợi
nhằm thu hút nguồn lực của nhiều thành phần kinh tế, đặc biệt là các chủ sở
hữu di sản văn hóa đóng góp cho sự bản tồn và phát huy giá trị di tích; phát
huy di sản văn hóa phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa
góp phần thực hiện mục tiêu: Dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân
chủ, văn minh. Đồng thời phải biết vận hành theo cơ chế thị trường có sự
quản lý của nhà nước, định hướng xã hội chủ nghĩa để tạo nguồn thu đáng
kể từ hoạt động dịch vụ văn hóa tại di tích, tái đầu tư cho công tác bảo
quản, tu bổ và phục hồi di tích. Để thực thi Luật Di sản văn hóa, Chính phủ,
Bộ Văn hóa Thông tin (Nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) cũng ban
hành một số văn bản dưới luật nhằm hướng dẫn thi hành:
Ngày 11/11/2002 Chính Phủ nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt
Nam đã ban hành Nghị định số 92/2002/NĐ-CP quy đinh chi tiết thi hành
một số điều của Luật di sản văn hóa.