MỞ ĐẦU:
Từ trước đến nay, báo cáo tài chính là công cụ được sử dụng để công bố
những hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Vậy mà, nhiều công ty đã sử
dụng chính công cụ này để “che dấu” những thua lỗ trong kinh doanh, lừa dối các
nhà đầu tư. Điều này đã dẫn đến “một nghịch lý đáng buồn đối với báo cáo tài
chính, một công cụ vốn được xem là cái gậy của các cơ quan quản lý nhằm duy
trì tính minh bạch trong các hoạt động kinh doanh, đó là càng che dấu tài chính
bao nhiêu thì lại càng dễ phơi bày những lỗi lầm bấy nhiêu”.
Vụ việc của Enron năm 2001 và Worldcom năm 2002 là minh chứng sống
động cho việc làm này. Được đánh giá là hai vụ phá sản lớn nhất trong lịch sử
nước Mỹ liên quan đến tài chính, Enron và Worldcom đã làm sai lệch bảng báo
cáo tài chính để che dấu những bất ổn từ bên trong công ty. Enron đã sử dụng
những thủ thuật kế toán hết sức tinh vi trong khi Worldcom lại sử dụng những
thủ thuật hết sức đơn giản để đánh lừa các nhà đầu tư. Cả Enron và Worldcom
đều có những quan hệ mật thiết và có những đường dây móc nối với Nhà Trắng,
họ hậu thuẫn cho các quan chức để nhận được những ưu đãi. Ngoài ra, họ đều
được đảm bảo bởi một trong năm đại gia ngành kiểm toán Arthur Andersen. Hai
công ty này lớn đến nỗi không ai tin nó có thể sụp đổ.
Ngày 2 tháng 12 năm 2001 Enron tuyên bố phá sản, tiếp theo sau đó là
Worldcom ngày 19 tháng 7 năm 2002. Vậy, tại sao Enron và Worldcom sụp đổ,
những bài học gì được rút ra ở đây?
Bài làm gồm hai phần:
Công ty Enron:
I. Trước khi lâm vào tình trạng khủng hoảng và sụp đổ :
II. Khủng hoảng và sụp đổ:
III. Nguyên nhân phá sản:
IV. Bài học từ Enron:
B. Công ty Worldcom:
I.Trước khi lâm vào tình trạng khủng hoảng và sụp đổ:
II. Khủng hoảng và sụp đổ:
III. Nguyên nhân:
chí này. Công ty cũng cổ vũ hình ảnh của một công dân tốt của cộng đồng, ấn
hành các báo cáo xã hội và môi trường nhắm vào những hoạt động của công ty
với sự cẩn trọng đối với những hệ quả môi trường của công việc, các chính sách
chống hối lộ và tham nhũng cùng những mối quan hệ đồng sự.
Nhờ những quy định mới về tự do hóa thị trường năng lượng Mỹ trong thập
niên 90, họ đã lột xác từ một hãng làm ăn mờ nhạt thành tập đoàn có thể thay đổi
sự cân bằng trong lĩnh vực kinh doanh năng lượng. Luật chính sách năng lượng
năm 1992 buộc các công ty nhỏ phải mở cửa đường truyền tải điện cho hệ thống
phân phối của Enron. Ngoài ra, Enron kiếm rất nhiều tiền từ việc mua bán trên
thị trường năng lượng. Trên thực tế, họ chỉ là những nhà buôn sắp xếp hợp đồng
giữa người mua và bán rồi lấy tiền hoa hồng. Trong tay Enron, thị trường năng
lượng ngang hàng với một sự đầu cơ tài chính. Hãng này đã xây dựng những nhà
máy trị giá hàng triệu USD khắp thế giới nhưng chỉ sở hữu chúng khi giá năng
lượng lên ngôi, khi gặp khó khăn thì bán ngay lập tức. Nhờ hoạt động tài chính
thuận lợi, Enron đã vươn sang các mặt hàng như giấy, nước, nhựa, kim loại và
phương tiện viễn thông.
Enron đã tạo ra hơn 900 công ty con, chủ yếu nằm ở những nước dễ dãi nhất
về luật kế toán. Hệ thống công ty mẹ-công ty con được thiết kế bởi các chuyên
gia tài chính rất tài giỏi, và được bảo đảm bởi một trong 5 đại gia ngành kiểm
toán của thế giới: Arthur Andersen.
Trong nhiều năm, Enron chứng tỏ họ là một công ty lớn mạnh và có lợi nhuận
cao:
Thành công đáng kể nhất của Enron là trong khoảng thời gian từ năm 1997
đến năm 2000. Trong khoảng thời gian này, giá cổ phiếu của Enron tăng từ dưới
20 USD lên trên 80 USD. Năm 2000, giá trị thị trường của Enron đạt 77 tỉ USD.
Lợi nhuận của công ty cũng tăng rất nhanh, từ 20 tỉ USD trong năm 1997 lên
thành 101 tỉ USD trong năm 2000, tăng hơn năm lần chỉ trong vòng bốn năm, là
một trong 7 công ty Mỹ có doanh số hơn 100 tỷ USD. Hệ thống thông tin đại
chúng, điển hình là tạp chí Fortune, luôn đánh bóng Enron là công ty có nhiều
tiềm năng nhất với số vốn kinh doanh 63 tỷ USD.
khuyên nên mua cổ phiếu Enron.
Ngày 26/10/2001, công ty lần đầu tiên thừa nhận đã lỗ hàng trăm triệu USD
trong một quý:
Enron công bố lỗ 618 triệu USD trong quý III nhưng thực tế lên tới 1,2 tỷ
USD.
Số nợ 1,2 tỷ USD bị giấu đi đã gây hoảng loạn trên thị trường chứng khoán
khi nó bị tiết lộ.
Vào tháng 8/2001, Giám đốc Điều hành Jeffrey Skilling từ chức vì lý do cá
nhân.
Tháng 12 năm 2001,Ủy ban Chứng khoán Mỹ thông báo rằng ủy ban này đã
kiện ông Fastow trước một tòa án ở Washington vì không giao nộp các tài liệu
liên quan đến các hoạt động tài chính bất minh của Enron và không trình diện ủy
ban theo trát đòi ngày 30-10.Giám đốc tài chính Fastow phải ra đi.
Khi công ty khó khăn, họ thuyết phục nhân công nhận lương và thưởng bằng
cổ phiếu. Việc trả lương bằng cổ phiếu chẳng những không thể làm cho giám
đốc điều hành đặt quyền lợi cổ đông lên trên hết, mà còn gây hậu quả ngược lại
– mua lấy sự im lặng của các giám đốc này về tình hình tài chính. Làm cách đó,
giá trị của Enron đã bị giảm sút nghiêm trọng.
Đã có những dự báo trước: Tháng 1/2001, một nhân viên kiểm toán của
Andersen đã cực lực phản đối phương pháp kế toán của Enron. Vài tuần sau,
nhân viên này bị Andersen chuyển sang bộ phận khác theo đề nghị của Enron.
Một nhân viên của Merrill Lynch (công ty đánh giá xếp hạng chứng khoán) đã
xếp hạng cổ phiếu của Enron vào loại “không có triển vọng”. Nhân viên này bị
sa thải ngay sau đó.
Cổ phiếu của Enron tụt giá thảm hại: Ngày 15-8-2001, cổ phiếu Enron bắt
đầu mất giá, đầu tháng 11 năm 2001, giá cổ phiếu của Enron giảm xuống dưới
10 USD, cuối năm 2001, mỗi cổ phiếu chỉ còn giá 0,6 USD.
Ngày 9-2002 Hoa Kỳ đã chính thức cho chuyển hồ sơ của tập đoàn Enron
sang bộ phận điều tra hình sự. Cuộc điều tra này dự kiến được chỉ thị từ Hoa
Thịnh Đốn nhưng sẽ có Công Tố Viên nhiều tiểu bang tham gia. Trước đó, Enron
số tiền 312. 500 dollrs), đến chiến dịch tranh cử tổng thống và cả tiền cho lễ
đăng quang tổng thống hồi đầu năm 2001. Lay nói rằng ông ta ủng hộ ông Bush