Một số giải pháp đổi mới công tác cán bộ nữ tại huyện cẩm khê phú thọ trong giai đoạn hiện nay - Pdf 29

Luận văn tốt nghiệp CCLL Chính Trị Nguyễn Thị Tâm
MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Cán bộ là gốc của mọi công việc, là nhân tố quyết định sự thành bại
của cách mạng, là then chốt trong công tác xây dựng Đảng. Nhận thức được
vị trí, vai trò của đội ngũ cán bộ có tầm quan trọng đặc biệt như vậy cho nên
ngay từ khi mới ra đời, đặc biệt là trong hơn 20 năm lãnh đạo sự nghiệp đổi
mới Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm xây dựng đội ngũ cán
bộ phục vụ sự nghiệp cách mạng. Nghị quyết Trung ương Ba khoá VIII về
chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá - hiện đại hoá (CNH -
HĐH) đất nước đã thể hiện tầm nhìn xa đúng đắn của Đảng ta về lĩnh vực
này.
Tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương Ba khoá VIII, Nghị
quyết trung ương IX chỉ rõ: Đa số cán bộ có bản lĩnh chính trị vững vàng,
trung thành với sự nghiệp cách mạng của Đảng, có tư duy đổi mới, năng động
trong lãnh đạo, điều hành công việc, tích luỹ được nhiều kinh nghiệm trong
công tác xây dựng Đảng, chính quyền và hệ thống chính trị, một bộ phận
vươn lên đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế.
Tuy nhiên trình độ, năng lực kiến thức, ngoại ngữ, khả năng quản lý
nhà nước, quản lý xã hội của không ít cán bộ vẫn còn nhiều bất cập; khả năng
dự báo và định hướng sự phát triển vẫn còn yếu; chưa đạt mục tiêu, yêu cầu
đề ra của chiến lược. Cán bộ cấp chiến lược, người đứng đầu địa phương, đơn
vị đa phần đã lớn tuổi, khả năng thích ứng với cơ chế thị trường, hội nhập còn
hạn chế, thiếu hụt cán bộ trong lĩnh vực quản lý kinh tế, xây dựng pháp luật,
hoạch định chính sách phát triển, quy hoạch, đàm phán và hội nhập quốc tế.
Trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc, phụ nữ Việt Nam đã có những
đóng góp to lớn cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng đất
nước. Ngay từ những buổi đầu lập nước, khi gặp nạn ngoại bang xâm lược, bà
Trưng, bà Triệu đã dấy binh khởi nghĩa đánh đuổi quân thù. Thế kỷ 20, qua
Luận văn tốt nghiệp CCLL Chính Trị Nguyễn Thị Tâm
hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, lịch sử lại ghi nhận hàng vạn

2
Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 6, Nxb CTQG, Hà nội 1996, Tr.432.
Luận văn tốt nghiệp CCLL Chính Trị Nguyễn Thị Tâm
Vì vậy, phải quán triệt các chủ trương, đường lối, chính sách, pháp
luật của Đảng và Nhà nước. Đồng thời phải có sự nghiên cứu một cách sâu
sắc, xem xét toàn diện, chặt chẽ, phải căn cứ vào thực tiễn, căn cứ vào nhiệm
vụ chính trị trong từng giai đoạn cụ thể. Xuất phát từ thực tiễn cuộc sống, cơ
quan, đơn vị, địa phương để có đề án, giải pháp tổ chức thích hợp nhất, tiến
hành đồng bộ, đổi mới mạnh mẽ công tác cán bộ nữ để góp phần nâng cao
chất lượng hệ thống chính trị, phục vụ nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội,
đảm bảo an ninh trật tự, phục vụ tốt nhất mọi mặt đời sống của nhân dân.
Huyện Cẩm Khê - tỉnh Phú Thọ là một huyện miền núi. Trong những
năm qua được sự quan tâm của các cấp ủy đảng, chính quyền, đội ngũ cán bộ
nữ đã có bước trưởng thành đáng kể, song sự phát triển đó chưa vững chắc,
công tác cán bộ nữ vẫn tồn tại những khó khăn, bất cập cần được quan tâm
giải quyết. Việc nhìn nhận, đánh giá đúng thực trạng công tác cán bộ nữ để có
những giải pháp thiết thực nhằm đổi mới tăng cường đội ngũ cán bộ nữ của
địa phương là vấn đề hết sức cần thiết.
Là một cán bộ công tác tại UBND huyện Cẩm Khê - tỉnh Phú Thọ, trên
cơ sở những kiến thức đã tiếp thu tại Học viện Chính trị - Hành chính khu vực
I, tôi chọn đề tài: “Một số giải pháp đổi mới công tác cán bộ nữ tại huyện
Cẩm Khê - Phú Thọ trong giai đoạn hiện nay” làm đề tài luận văn tốt
nghiệp, với hy vọng được đóng góp một phần nhỏ bé của mình vào việc xây
dựng đội ngũ cán bộ nữ của tỉnh đảm bảo cả số lượng và chất lượng, đáp ứng
yêu cầu sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
2. MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
* Mục đích: Từ những phân tích cơ sở lý luận về công tác cán bộ nói
chung và cán bộ nữ nói riêng, luận văn đánh giá thực trạng công tác cán bộ nữ
của huyện Cẩm khê trong thời gian qua, qua đó đề xuất một số giải pháp đổi
mới công tác cán bộ nữ tại địa phương trong thời gian tới.

Luận văn tốt nghiệp CCLL Chính Trị Nguyễn Thị Tâm
Chương I
MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA
CÔNG TÁC CÁN BỘ NỮ
1. MỘT SỐ KHÁI NIỆM LIÊN QUAN
Khái niệm cán bộ
Theo từ điển Tiếng Việt, cán bộ là những “người làm công tác có
nghiệp vụ chuyên môn trong cơ quan nhà nước”
2
có nghĩa là phải thỏa mãn
hai điều kiện:
Người đó phải làm những công việc thuộc lĩnh vực riêng hoặc có liên
quan đến kiến thức riêng của một nghề hay một ngành khoa học, kỹ thuật.
Người đó phải làm việc trong một cơ quan Nhà nước (nằm trong biên
chế và hưởng lương từ Ngân sách Nhà nước).
Theo khái niệm này, các cá nhân làm các công việc có chuyên môn,
nghiệp vụ nhưng không thuộc cơ quan Nhà nước hoặc làm trong cơ quan Nhà
nước mà không có chuyên môn, nghiệp vụ đều không được gọi là cán bộ. Đội
ngũ cán bộ này được hình thành thông qua con đường đào tạo tại các trường,
có trình độ từ Cao đẳng, Đại học trở lên. Những người có trình độ trung cấp
hoặc sơ cấp thì được gọi là nhân viên.
Qua các thời kì lịch sử, quan niệm về cán bộ, công chức ở Việt Nam
cũng có sự khác nhau, chẳng hạn:
Theo Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh cán bộ,
công chức ngày 29/4/2003.
Cán bộ, công chức là công dân Việt Nam, trong biên chế, bao gồm:
a. Những người do bầu cử để đảm nhiệm chức vụ theo nhiệm kì trong
cơ quan Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương,
ở tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; ở huyện, quận, thị xã, thành phố
trực thuộc tỉnh.

chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước.
2. Công chức là công dân Việt Nam được tuyển dụng, bổ nhiệm vào
ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng cộng sản Việt Nam,
Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện;
trong cơ quan, đơn vị thuộc quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan,
quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị
thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên
nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lí của đơn vị sự nghiệp công lập của
Đảng cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (gọi chung
là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách
Nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lí của đơn vị sự
nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp
công lập theo quy định của pháp luật.
Khái niệm cán bộ nữ:
Cán bộ nữ là một bộ phận của đội ngũ cán bộ - công chức nói chung.
Cùng một lúc họ phải đảm nhận rất nhiều vai trò khác nhau: tham gia vào
quá trình lao động xã hội, đảm nhận vai trò chính trong việc tái sản xuất
sức lao động, do đó ngoài việc đáp ứng những tiêu chí chung về cán bộ họ
còn có những đặc điểm riêng biệt ảnh hưởng không nhỏ tới quá trình công
tác. Chính vì vậy, để đảm bảo cho phụ nữ có thể thực hiện tốt cả hai chức
năng trên, trong lực lượng lao động nói chung và trong đội ngũ cán bộ nói
riêng, người ta đã tách lao động nữ và cán bộ nữ thành một bộ phận để có
những chính sách đặc thù dành cho họ, nhằm tạo điều kiện để phụ nữ thực
hiện tốt cả hai vai trò là người lao động và người mẹ.
Luận văn tốt nghiệp CCLL Chính Trị Nguyễn Thị Tâm
2. NHỮNG YÊU CẦU ĐỐI VỚI CÔNG TÁC CÁN BỘ NỮ TRONG TÌNH HÌNH MỚI
Sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước cùng với tiến trình hội
nhập quốc tế càng phát triển, càng đòi hỏi sự phát huy tiềm năng, sức sáng
tạo, sự tham gia chủ động, tích cực của phụ nữ, trong đó có đội ngũ cán bộ nữ
bảo đảm yêu cầu ngang tầm, có đủ kiến thức, trình độ và năng lực về mọi

Các cơ quan, đơn vị có tỷ lệ nữ từ 30% trở lên, nhất thiết có cán bộ lãnh đạo
chủ chốt là nữ. Cơ quan lãnh đạo cấp cao của Đảng, Quốc hội, Nhà nước,
Chính phủ có tỷ lệ nữ phù hợp với mục tiêu bình đẳng giới".
Bên cạnh đó, cần xây dựng quy hoạch cán bộ nữ nằm trong quy hoạch
tổng thể về cán bộ của Đảng, nhằm bảo đảm nguồn cán bộ nữ trong thực tế.
Điều này chỉ có thể trở thành hiện thực khi có sự quy định tỷ lệ chiêu sinh có
yếu tố giới trong các khóa đào tạo tại các trường lý luận chính trị, quản lý
hành chính nhà nước. Thực hiện đa dạng hóa hình thức đào tạo phù hợp với
đặc điểm giới; đào tạo bồi dưỡng có trọng tâm, trọng điểm, ưu tiên vùng đặc
biệt khó khăn, đẩy mạnh việc đào tạo theo chức danh, yêu cầu, tiêu chuẩn; có
chính sách khuyến khích nhằm tăng tỷ lệ phụ nữ được đào tạo nghề, đào tạo
trên đại học; xúc tiến việc xây dựng quỹ khuyến học và phát triển tài năng nữ.
Lựa chọn cán bộ nữ trẻ, có triển vọng, đạt kết quả công tác xuất sắc đưa đi
đào tạo nước ngoài với số lượng và cơ cấu ngành nghề hợp lý. Có chính sách
để cán bộ nữ tham gia học tập nâng cao trình độ bằng nhiều hình thức phù
hợp: đào tạo tại chỗ, tập trung, tại chức, từ xa, từ thực tiễn, đặc biệt là chính
sách khuyến khích tài năng nữ, chính sách hỗ trợ đối với cán bộ nữ công tác ở
vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, cán bộ nữ đi học có con nhỏ, cán bộ dân
tộc thiểu số.
Thông qua cơ chế, chính sách có lồng ghép yếu tố giới, bảo đảm quyền
lợi chính đáng cho phụ nữ, tạo cơ hội và điều kiện để phụ nữ tiến bộ, điều
chỉnh các văn bản luật pháp chính sách cản trở thực hiện bình đẳng giới như
tuổi đào tạo, tuổi quy hoạch, tuổi bổ nhiệm, tuổi nghỉ hưu của cán bộ nữ
Lun vn tt nghip CCLL Chớnh Tr Nguyn Th Tõm
Quan tõm phỏt trin ng viờn n to ngun cỏn b lõu di, bo m
cht lng, c bit chỳ trng i tng n thanh niờn cỏc vựng dõn tc,
vựng sõu, vựng xa, tụn giỏo, doanh nghip ngoi quc doanh.
Tng cng cỏc dch v xó hi gim nh gỏnh nng cụng vic gia
ỡnh cho ph n, cỏn b n, cng nh chia s cụng vic gia ỡnh cho cỏc
thnh viờn l nam gii.

gốc của gia đình, của chế độ t hữu và của Nhà nớc. Ông đã khái quát sự
biến đổi địa vị vai trò của ngời phụ nữ qua sự phân công lao động.
Khi trình độ sản xuất thấp kém, sự phân công lao động là hoàn toàn có
tính chất tự nhiên; nó chỉ tồn tại giữa nam và nữ. Đàn ông đi đánh giặc, đi săn
bắn và đánh cá, tìm kiếm thức ăn và những công cụ cần thiết cho việc đó. Đàn
bà chăm sóc việc nhà, chuẩn bị cái ăn và cái mặc: họ làm bếp, dệt, may vá.
Tất cả các thành viên đều phải kiếm sống, lao động của mọi ngời đều đợc coi
trọng. Sản xuất ngày càng phát triển gắn liền với sự phân công lao động từ
hoàn toàn có tính chất tự nhiên đến một sự phân chia phạm vi hoạt động theo
giới: Mỗi bên làm chủ theo trong lĩnh vực hoạt động riêng của mình: đàn ông
làm chủ trong rừng, đàn bà làm chủ ở nhà và vấn đề sở hữu đã nảy sinh:
Mỗi bên đều là những ngời sở hữu những công cụ do mình chế tạo và sử
dụng: đàn ông làm chủ vũ khí, dụng cụ săn bắn và đánh cá; đàn bà làm chủ
những dụng cụ gia đình [73, tr.243, 244]. Chăn nuôi và coi giữ gia súc là
ngành lao động chủ yếu đã giúp cho ngời đàn ông khẳng định vai trò của mình
trong lao động sản xuất. Họ mặc nhiên trở thành những ngời sở hữu hầu hết
tài sản của gia đình. Công việc của ngời đàn bà giờ đây đã không còn ý nghĩa
so với lao động sản xuất của ngời đàn ông.
Theo Ph.Ăngghen, chính sự thống trị về kinh tế của ngời đàn ông trong
gia đình là nguyên nhân gây ra bất bình đẳng đối với ngời đàn bà. Trong kinh
tế gia đình cộng sản cổ đại, tề gia nội trợ của phụ nữ đợc coi là một chức vụ xã
hội cần thiết, ngang bằng với việc cung cấp lơng thực của nam giới. Nhng đến
cuối xã hội cộng sản nguyên thủy, nền kinh tế với lối làm chung, hởng chung
trở nên không cần thiết. Nó dần đợc thay thế bằng nền kinh tế gia đình, trong
đó ngời chồng giữ địa vị thống trị. Trong nền kinh tế này, công việc nội trợ
không còn mang tính xã hội nữa, nó không quan hệ gì đến xã hội nữa, nó
thành một công việc t nhân; ngời vợ trở thành ngời đầy tớ chính và không đợc
tham gia nền sản xuất xã hội [75, tr.114]. Rõ ràng, những đóng góp về kinh
tế của phụ nữ đã tạo địa vị bình đẳng ban đầu với nam giới, phụ nữ có vai trò
Lun vn tt nghip CCLL Chớnh Tr Nguyn Th Tõm

điểm giải phóng phụ nữ, thực hiện nam nữ bình đẳng trong thời đại mới. Ông
bác bỏ luận điệu xuyên tạc chủ nghĩa Mác về tình yêu hôn nhân và gia đình,
đồng thời vạch trần bộ mặt thật của chế độ t bản. Theo Lênin, dới chế độ t
bản, trong các gia đình lao động, dù quan hệ vợ chồng có đợc xây dựng trên
tình thơng yêu giai cấp thì ngời phụ nữ, vừa bị nền sản xuất t bản làm cho kiệt
sức và mụ mẫm, vừa phải gánh vác những công việc nội trợ vụn vặt, nặng nề
Lun vn tt nghip CCLL Chớnh Tr Nguyn Th Tõm
nên cũng không thể vơn lên bình đẳng cùng nam giới. Lênin đã chỉ cụ thể:
dới chế độ t bản thì phụ nữ, tức là một nửa nhân loại, phải chịu hai tầng áp
bức. Nữ công nhân và nữ nông dân đều bị t bản áp bức và ngoài ra, họ còn
bị giam hãm trong cảnh nô lệ gia đình [72, tr.38,39]
Từ phân tích những bất công trong xã hội t sản, Lênin kêu gọi phụ nữ
đứng lên làm cách mạng để giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và tự giải
phóng mình. Việc đầu tiên sau khi giai cấp vô sản nắm chính quyền, chính
quyền Xô viết phải xóa bỏ quyền t hữu về t bản và ruộng đất. Đồng thời xóa
bỏ mọi sự bất bình đẳng giữa nam nữ trớc pháp luật sao cho, trong pháp luật
mới ngời ta không còn thấy một chút dấu vết gì về việc phụ nữ bị đối xử bất
bình đẳng. Sau đó, tạo điều kiện thuận lợi cho phụ nữ tham gia hoạt động
chính trị và hoạt động sản xuất. Theo Lênin, bình đẳng nam nữ sẽ chỉ nằm
trên giấy nếu phụ nữ không có quyền tham gia những công việc quyết định
vận mệnh của đất nớc mình, do đó nhà nớc Xô viết phải mạnh dạn đa phụ nữ
vào những cơ quan quản lý nhà nớc, xây dựng củng cố chính quyền và phải
giáo dục chính trị cho phụ nữ. Tuy nhiên, một yếu tố quan trọng để đa lại bình
đẳng cho phụ nữ ở ngoài xã hội chính lại là việc phải giải phóng họ ngay trong
gia đình, nơi mà gánh nặng công việc đang đè lên lng họ, làm cho họ nghẹt
thở, mụ mẫm và nhục nhằn. Lê nin đã khẳng định: Không thể nào đảm bảo
đợc tự do thực sự, không thể nào xây dựng đợc ngay cả chế độ dân chủ - chứ
đừng nói đến chủ nghĩa xã hội nữa, - nếu phụ nữ không tham gia công tác xã
hội, đội dân cảnh, sinh hoạt chính trị, nếu không giải thoát phụ nữ khỏi tình
cảnh làm cho ngời ta mụ mẫm đi, tức là công việc nội trợ và bếp núc [72, tr.

quyt nh thng li cuc cỏch mng Vit Nam l s tham gia ca ph n
Vit Nam:An nam cỏch mnh cng phi cú n gii tham gia mi thnh
cụng. Ti l k nim 36 nm ngy thnh lp Hi Liờn hip ph n Vit Nam
(20/10/1966), Bỏc H núi: T u th k th nht, Hai B Trng pht c khi
ngha ỏnh gic cu dõn cho n nay, mi khi nc nh gp nguy nan thỡ
ph n ta u hng hỏi ng lờn gúp phn xng ỏng vo s nghip gii
phúng dõn tcTrong th gi ph n nhõn k nim Hai B Trng v ngy
quc t ph n 08/3/1952, H Chớ Minh khng nh: Non sụng gm vúc
nc Vit Nam ta, tr cng nh gi ra sc dt thờu m thờm tt p rc r.
Khụng ch ỏnh giỏ cao vai trũ ca ph n, Ch tch H Chớ Minh cũn
l ngi hiu rt rừ kh nng lm vic to ln ca ph n Vit Nam trong cỏc
lnh vc, c bit trong lnh vc chớnh tr. Ngi núi: Di ch xó hi ch
Luận văn tốt nghiệp CCLL Chính Trị Nguyễn Thị Tâm
nghĩa hàng vạn phụ nữ trở thành chuyên gia các ngành và cán bộ lãnh đạo,
làm giám đốc và phó giám đốc các xí nghiệp, chủ nhiệm hợp tác xã nông
nghiệp, chủ tịch ủy ban hành chính, bí thư chi bộ Đảng…và Người vui mừng
trước việc ngày càng nhiều phụ nữ tham gia quản lý: Từ ngày nước ta được
giải phóng đến nay, phụ nữ đều tiến bộ về mọi mặt: chính trị, kinh tế, văn
hóa, xã hội. Nhưng một tiến bộ rõ rệt nhất là phụ nữ ta hiện nay tham gia
chính quyền ngày càng nhiều. Người tự hào: Phó tổng tư lệnh quân giải
phóng là cô Nguyễn Thị Định. Cả thế giới chỉ nước ta có vị tướng quân gái
như vậy, thật vẻ vang cho miền nam, cho cả dân tộc ta.
Hiểu biết một cách sâu sắc vai trò, vị trí của phụ nữ Việt Nam trong sự
nghiệp cách mạng nói chung và trong tham gia chính quyền nói riêng, Bác Hồ
không chỉ dừng ở mức độ đánh giá, mà điều quan trọng hơn là Người đã đặt
trách nhiệm của Đảng ta muốn thật sự giải phóng phụ nữ thì phải bằng những
pháp luật, chính sách, biện pháp cụ thể: Từ nay, các cấp Đảng, chính quyền
địa phương khi giao công tác cho phụ nữ, phải căn cứ vào trình độ của từng
người và cần phải tích cực giúp đỡ phụ nữ nhiều hơn nữa, phải thật sự giải
phóng phụ nữ và tôn trọng quyền lợi của phụ nữ, Đảng và Chính phủ cần

trong chế độ xã hội chủ nghĩa, Đảng, Nhà nước và các tổ chức xã hội phải
thật sự quan tâm đến phụ nữ; hỗ trợ, tạo điều kiện để người phụ nữ phát huy
tối đa tài năng, tiềm lực của mình; đồng thời người phụ nữ muốn tiến bộ, bình
đẳng, hạnh phúc thực sự thì phải có ý chí, có quyết tâm, tích cực học tập, rèn
luyện để có đủ đức, tài tham gia quản lý Nhà nước, quản lý xã hội.
Trong Di chúc, Bác viết “Trong sự nghiệp chống Mỹ cứu nước, phụ nữ
đảm đang đã góp phần xứng đáng trong chiến đấu và sản xuất. Đảng, Chính
phủ cần phải có kế hoạch thiết thực để bồi dưỡng, cân nhắc và giúp đỡ để
ngày càng thêm nhiều phụ nữ phụ trách mọi công việc kể cả công việc
lãnh đạo”.
Luận văn tốt nghiệp CCLL Chính Trị Nguyễn Thị Tâm
3.2. Quan điểm của Đảng và chính sách, pháp luật của Việt Nam về
công tác phụ nữ trong sự nghiệp cách mạng.
Năm 1930, Luận cương chính trị của Đảng đã đề ra mục tiêu giải phóng
phụ nữ, thực hiện nam nữ bình đẳng. Nghị quyết Hội nghị Trung ương Đảng
Cộng sản Đông Dương tháng 10 năm 1930 cũng đã đề ra: “Muốn thu phục
cho hết các phần tử phụ nữ thì ngoài sự cộng tác trong phụ nữ công nông ra,
Đảng cần phải tổ chức ra các đoàn thể phụ nữ, phụ nữ hiệp hội, mục đích
chính là mưu cầu quyền lợi cho phụ nữ, là cho phụ nữ được triệt để giải
phóng”
3
. Trên quan điểm đó, Đảng đã thành lập tổ chức đại diện cho phụ nữ,
đó là Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam.
Tháng 12 năm 1960, lần đầu tiên Đảng triệu tập Hội nghị cán bộ phụ nữ
để khơi dậy sức mạnh của phong trào phụ nữ. Nghị quyết Đại hội Đảng toàn
quốc lần thứ III của Đảng, cũng khẳng định “Phụ nữ nước ta là một lực lượng
quan trọng trong cách mạng và trong sản xuất. Đảng ta có trách nhiệm lớn
đối với sự nghiệp giải phóng phụ nữ”.
Năm 1967, để đào tạo, đề bạt cán bộ nữ và tăng cường khả năng tham
gia quản lý Nhà nước, khả năng đóng góp của phụ nữ trong xây dựng và phát

12/7/1993 về “Đổi mới và tăng cường công tác vận động phụ nữ trong tình
hình mới”. Chỉ thị đã nhận định công tác cán bộ nữ của Đảng và Nhà nước
trong bước chuyển giai đoạn đã bộc lộ nhiều thiếu sót: “Còn nặng về huy
động khai thác sự đóng góp của phụ nữ, mà chưa coi trọng đúng mức việc
bồi dưỡng nâng cao trình độ phụ nữ, tạo điều kiện cho phụ nữ phát triển đáp
ứng được yêu cầu của giai đoạn mới”. Chỉ thị cũng khẳng định lại vị trí, vai
trò của phụ nữ Việt nam trong giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội mới, đặt
vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ nữ thành nhiệm vụ có tính chiến lược trong
toàn bộ công tác cán bộ của Đảng và Nhà nước. Trên cơ sở quy hoạch, có kế
hoạch tạo nguồn, đào tạo bồi dưỡng cán bộ nữ, tạo điều kiện để cán bộ nữ
Luận văn tốt nghiệp CCLL Chính Trị Nguyễn Thị Tâm
cống hiến và trưởng thành, phấn đấu tăng tỷ lệ cán bộ nữ trong các cấp ủy
đảng, cơ quan Nhà nước, trong các lĩnh vực quản lý kinh tế, xã hội, y tế, giáo
dục, khoa học, nghệ thuật…chống coi thường, đối xử khắt khe, hẹp hòi trong
đánh giá, sử dụng, đề bạt cán bộ nữ.
Về công tác cán bộ nữ, Ban Bí thư Trung ương Đảng tiếp tục ra chỉ thị
số 37- CT/TW ngày 16/5/1994 “Về một số vấn đề công tác cán bộ nữ trong
tình hình mới” nhằm nhấn mạnh việc tăng cường cán bộ nữ vào các vị lãnh
đạo quản lý. Chỉ thị nêu rõ: “Việc nâng cao tỷ lệ cán bộ nữ tham gia vào
công tác quản lý Nhà nước, quản lý kinh tế - xã hội là một yêu cầu quan
trọng để thật sự thực hiện quyền bình đẳng dân chủ của người phụ nữ, là
điều kiện để phát huy tài năng, trí tuệ và nâng cao địa vị xã hội của người
phụ nữ. Chống những biểu hiện lệch lạc, coi thường phụ nữ, khắt khe, hẹp
hòi trong đánh giá, đề bạt cán bộ nữ”.
Quan điểm ấy tiếp tục được cụ thể hóa trong “Chiến lược quốc gia vì
sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam đến năm 2010” do chính phủ công bố ngày
4/10/1997 chỉ rõ: Tiếp tục nâng cao nhận thức, quan điểm của Đảng về vấn đề
cán bộ nữ, có quy hoạch, tạo nguồn, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ nữ, nâng cao
tỷ lệ cán bộ nữ trong các cấp, các ngành, xây dựng chính sách, tạo điều kiện
cho cán bộ nữ làm việc, khuyến khích tài năng nữ phát triển; Đẩy mạnh phát

một vai trò quan trọng trong công cuộc cứu nước, xây dựng và phát triển đất
nước. Đồng thời, đồng chí cũng nhấn mạnh Đảng và Nhà nước luôn tạo
những điều kiện tốt nhất để phụ nữ Việt Nam có thể phát triển và cống hiến
hết mình cho đất nước.
Có thể nói, xuyên suốt quá trình lãnh đạo cách mạng giải phóng dân
tộc, dân chủ và xây dựng chủ nghĩa xã hội, Đảng ta luôn quan tâm đến phát
triển đội ngũ cán bộ lãnh đạo quản lý cũng như sự tiến bộ, bình đẳng và phát
triển của phụ nữ Việt Nam.
Luận văn tốt nghiệp CCLL Chính Trị Nguyễn Thị Tâm
Về phía Nhà nước: Sau khi nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời,
bản Hiến pháp đầu tiên của Nhà nước ta đã luật pháp hóa quyền bình đẳng
của phụ nữ.
Điều 1: Nước Việt Nam là một nước dân chủ cộng hòa. Tất cả quyền
bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi
giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo.
Điều 2: Đàn bà ngang quyền với đàn ông về mọi phương diện.
Từ Hiến pháp năm 1946 đến Hiến pháp 1992 cũng như Hiến pháp hiện
hành, mặc dù có những thay đổi cho phù hợp với hoàn cảnh lịch sử song
quyền bình đẳng nam nữ đã trở thành một nguyên tắc bất di bất dịch và xuyên
suốt quá trình lập hiến, lập pháp của Việt Nam. Nguyên tắc này đã được cụ
thể hóa trong các văn bản luật, văn bản dưới Luật trên nhiều lĩnh vực kinh tế,
chính trị, văn hóa, xã hội, gia đình. Nhà nước Việt Nam không thừa nhận mọi
sự phân biệt đối xử giữa nam và nữ trong gia đình cũng như xã hội.
Trên phương diện quốc tế, chính phủ Việt Nam là một trong các chính
phủ sớm tham gia ký kết Công ước quốc tế về Xóa bỏ mọi hình thức phân
biệt đối xử với phụ nữ (gọi tắt là công ước CEDAW) ngày 29/7/1980, Quốc
hội phê chuẩn công ước vào ngày 19/3/1982. Về sau các điều khoản trong
công ước đã được thể hiện trong luật pháp Việt Nam. Quá trình thực hiện
công ước. Việt Nam là quốc gia được đánh giá rất cao qua các báo cáo mà
chúng ta đã trình trước Đại hội đồng Liên hợp quốc.

THC TRNG CễNG TC CN B N HUYN CM KHấ
TNH PH TH TRONG THI GIAN QUA
1. KHI QUT TèNH HèNH KINH T, X HI HUYN CM KHấ - PH TH
* c im t nhiờn v dõn s:
Cm Khờ nm phớa Tõy Bc ca tnh Phỳ Th l mt trong 13 n v
hnh chớnh ca tnh Phỳ Th, nm dc theo b hu ngn sụng Thao, tri di
trờn 30 km, b ngang hn 10 km. a hỡnh ton huyn tng i phc tp b
chia ct bi cỏc dóy nỳi gũ i bao quanh, gia l cỏc khu ng trng to
thnh vựng lũng cho v vựng bỏn sn a, thp dn t tõy bc xung ụng
nam; va cú i, gũ, va cú ng bng. Phớa Bc tip giỏp vi huyn H Hũa,
phớa ụng giỏp huyn Thanh Ba, phớa ụng Nam giỏp huyn Tam Nụng, phớa
:Tõy, Tõy Nam, Nam giỏp huyn Yờn Lp.
Huyện Cẩm Khê có 30 xã và 1 thị trấn. Tổng diện tích tự nhiên là
234,55 km
2
trong đó 2/3 là đồi núi. Với địa hình đa dạng đã chia huyện làm 2
vùng chính là vùng đồi gò và vùng ven Sông Thao. Dân số trung bình là
135.000 ngời, l mt trong nhng huyn cú s dõn ụng nht tnh Phỳ Th,
trong đó nữ 68.996 ngời, chiếm 51,1%. Cơ cấu dân tộc trong dân cơ huyện
Cẩm Khê từ xa xa đến nay chủ yếu là ngời kinh. Đến năm 2011, huyện có 864
ngời dân tộc thiểu số (Mờng, Dao, Tày, Nùng ). Huyện có số lợng dân theo
đạo công giáo chiếm 25%. Huyện Cẩm Khê đang trong giai đoạn cơ cấu dân
số vàng, số ngời trong độ tuổi lao động là 71.500 ngời chiếm 52,9% tổng số
dân trong huyện. Đây là một lợi thế cho phát triển kinh tế - xã hội, song gắn
liền với nó là những thách thức về việc làm, giáo dục và an sinh xã hội của
huyện.
* V kinh t:
Huyn Cm Khờ c thnh lp nm 1996, xut phỏt thp nờn giai
on u cũn nhiu khú khn, giai on 2005-2010 tc tng trng kinh t
bỡnh quõn t 11,2%/nm, thu ngõn sỏch trờn a bn tnh t khỏ, tng bỡnh

vùng sâu, vùng đông dân; tỷ lệ tăng dân số vẫn còn ở mức cao, đặc biệt là tỷ
lệ phụ nữ sinh con thứ ba có chiều hướng tăng ở vùng có đông đồng bào theo
đạo công giáo; chất lượng giáo dục, y tế đặc biệt là y tế cơ sở còn nhiều hạn
chế, chưa đáp ứng được yêu cầu đặt ra; tệ nạn xã hội vẫn đang là vấn đề nhức
nhối cần tập trung giải quyết. Những vấn đề trên tác động sâu sắc tới đời sống
nhân dân, đặc biệt là phụ nữ.
2. TÌNH HÌNH ĐỘI NGŨ CÁN BỘ NỮ HUYỆN CẨM KHÊ
* Tình hình chung về đội ngũ cán bộ nữ
Cùng với những khó khăn chung của một huyện mới thành lập, bước
đầu đội ngũ cán bộ nữ của huyện không tránh khỏi những hạn chế nhất định.
Được sự quan tâm, tạo điều kiện của các cấp ủy Đảng, chính quyền, các ban
ngành đoàn thể, từ khi thàmh lập tỉnh đến nay, đội ngũ cán bộ nữ huyện Cẩm
Khê đã có bước trưởng thành đáng kể cả về số lượng lẫn chất lượng.
Theo số liệu của Ban tổ chức huyện uỷ Cẩm Khê, năm 1996 toàn huyện
chỉ có 24% cán bộ công chức nữ, nhưng đến năm 2010 tỷ lệ này tăng lên
58,9%. Số nữ trong cơ quan Đảng chiếm 17,9%; số nữ trong cơ quan khối
chính quyền chiếm khoảng 25,4%; số nữ làm việc trong các cơ quan đoàn thể
quần chúng là 36%; số cán bộ nữ trong ngành giáo dục chiếm 85%, trong
ngành y tế chiếm 68%.
* Phụ nữ tham gia trong các tổ chức Đảng, chính quyền và đoàn thể.
Trong công cuộc đổi mới, đội ngũ cán bộ nữ ngày càng tăng trong các
tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể. Chị em luôn có ý thức phấn đấu vươn
lên về mọi mặt, không ngừng học tập rèn luyện nâng cao trình độ chuyên môn
nghiệp vụ, kỹ năng nghề nghiệp, tu dưỡng rèn luyện phẩm chất đạo đức, năng
động, sáng tạo phát huy tiềm năng trí tuệ của mình để hoàn thành tốt nhiệm

Trích đoạn Cụng tỏc qui hoạch, tạo nguồn Cụng tỏc bồi dưỡng, đào tạo và đào tạo lại đội ngũ cỏn bộ nữ Bản thõn cỏn bộ nữ phải chủ động khắc phục khú khăn, cú ý chớ phấn đấu vươn lờn.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status