SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI
Đơn vị Trường THPT Hồng Bàng
Mã số:
(Do HĐKH Sở GD&ĐT ghi)
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
LIÊN HỆ THỰC TẾ TRONG GIỜ ĐỌC VĂN
ĐỂ TẠO HỨNG THÚ CHO HỌC SINH
Người thực hiện: Đỗ Thị Hồng Nhung
Lĩnh vực nghiên cứu:
- Quản lý giáo dục
- Phương pháp dạy học bộ môn: Ngữ văn
- Lĩnh vực khác:
(Ghi rõ tên lĩnh vực)
Có đính kèm: Các sản phẩm không thề hiện trong bản in SKKN
Mô hình Phần mềm Phim ảnh Hiện vật khác
Năm học: 2014-2015
SƠ LƯỢC LÝ LỊCH KHOA HỌC
I. THÔNG TIN CHUNG VỀ CÁ NHÂN
1. Họ và tên: ĐỖ THỊ HỒNG NHUNG
2. Ngày tháng năm sinh: 25/12/1976
3. Nam, nữ: Nữ
4. Địa chỉ: Trường THPT Hồng Bàng
5. Điện thoại cá nhân: 0979 727 899 Cơ quan: 0613741284
6. Chức vụ: Phó Chủ tịch Công đoàn
7. Đơn vị công tác: Trường THPT Hồng Bàng
II. TRÌNH ĐỘ ĐÀO TẠO
- Học vị (hoặc trình độ chuyên môn, nghiệp vụ) cao nhất: Cử nhân
- Năm nhận bằng: 2001
- Chuyên ngành đào tạo: Ngữ văn
III. KINH NGHIỆM KHOA HỌC
- Lĩnh vực chuyên môn có kinh nghiệm: giảng dạy môn Ngữ văn
khẳng định mình”.
Đặc trưng của văn học là một môn nghệ thuật phản ánh đời sống bằng hình
tượng. Dạy văn là cả một quá trình phức tạp đan kết các quá trình tâm lí, ngôn ngữ
văn học sư phạm. Dạy văn là một lĩnh vực hoạt động đòi hỏi nhiều sự tìm tòi của
người giáo viên khi lên lớp. Từ đời sống trong tác phẩm văn học làm sao có thể
làm đẹp và phong phú thêm tâm hồn các em. Đó là kết quả thẩm thấu, chuyển hóa
vào từng cá nhân học sinh, có khi bất ngờ, có khi ngẫu nhiên. Từ một hình tượng,
một tâm trạng, một hoàn cảnh cụ thể, người thầy có thể liên hệ thực tế gần gũi với
học sinh. Phải coi học sinh là “ngọn lửa” để thắp sáng kiến thức chứ không phải là
“cái bình” để chứa kiến thức. Bởi thế người giáo viên dạy văn cần phải giúp học
sinh tự tạo được bản lĩnh để đối diện với những vấn đề nóng bỏng, bức xúc mà đời
sống xã hội và văn học đặt ra. Không để tác phẩm văn học xa rời đời sống thực tại,
để học sinh biết tự đòi hỏi những gì các em cần có trong cuộc đời này. Tuy nhiên
khi giảng dạy còn tùy thuộc vào từng bài, từng đối tượng học sinh để linh hoạt thay
đổi sao cho phù hợp. Sử dụng phương pháp liên hệ thực tế trong giờ đọc văn đạt
hiệu quả sẽ giúp các em hứng thú và cảm thụ tác phẩm sâu sắc hơn. Qua mỗi giờ
văn các em có lối sống lành mạnh hơn, ý chí vươn lên vượt qua mọi khó khăn,
chống lại những luồng văn hóa không lành mạnh.
Xuất phát từ mục đích đó, tôi muốn giờ dạy văn của mình không chỉ nhằm mở
rộng cho học sinh những kiến thức đa dạng về đời sống, về thể loại văn học mà
còn đem đến cho học sinh những hiểu biết thực tế, tác động học sinh có sự chuyển
biến trong lối sống nhận thức qua chính các nhà thơ, nhà văn, các hình tượng nhân
vật văn học; góp phần giáo dục kĩ năng sống, giáo dục đạo đức, nhân cách, lòng
nhân ái và yêu nước của mỗi học sinh; rèn luyện cho các em những kĩ năng cần
thiết về sử dụng ngôn ngữ, diễn đạt, lập luận, năng lực ứng xử trước những vấn đề
đời sống.
Từ mục đích của đổi mới phương pháp dạy học hiện nay, tôi xin trao đổi
kinh nghiệm của bản thân về một số giải pháp “Liên hệ thực tế trong giờ đọc văn
để tạo hứng thú cho học sinh” ở chương trình ngữ văn bậc THPT.
3
phát hiện, liên tưởng, vốn từ ngữ nghèo, diễn đạt kém. Vì vậy, không đạt hiệu quả
cao khi cảm nhận tác phẩm văn chương. Kết quả điều tra chất lượng các bài thi tốt
nghiệp trung học phổ thông và thi vào các trường ĐH-CĐ, chúng ta thấy xuất hiện
nhiều bài viết khiến cho người chấm dở khóc dở cười. Học sinh viết mà không biết
những gì mình đã viết. Đối với những lớp mà tôi trực tiếp giảng dạy, các em
thường mắc các lỗi rất phổ biến về chính tả, dùng từ, đặt câu. Rất nhiều bài văn, từ
đầu đến cuối không có một dấu chấm câu nào. Nhiều từ đơn giản cũng không hiểu
được nên dẫn đến việc dùng từ sai, đặt câu sai- câu què, câu cụt, câu sai cấu trúc,
sai lô-gic luôn xuất hiện trong bài làm của học sinh. Nhưng điều đáng lo lắng nhất
là kĩ năng phân tích từ ngữ của học sinh đối với các văn bản văn học. Phần lớn các
em không xác định được nghĩa của từ, kiến thức về từ còn lơ mơ, sai sót. Vì vậy,
khi làm bài, các em hay nhầm lẫn khi phân tích những từ gần giống nhau, thường
suy luận chủ quan, khập khiễng, thậm chí đã dung tục hoá văn chương khi phân
4
tích, khám phá từ ngữ trong tác phẩm văn học. Đứng trước những từ khó, học sinh
cũng chưa có thói quen tra từ điển để hiểu mà thường bỏ qua, rất đáng tiếc.
Hơn nữa, cuộc sống xã hội ngày càng diễn biến hết sức phức tạp, mỗi em học sinh
đang hàng ngày phải tiếp xúc, va chạm với biết bao luồng thông tin văn hóa thẩm
mỹ xa lạ với những điều thầy cô nói trong trường học. Thái độ thờ ơ, lạnh lùng của
học sinh trước nỗi đau buồn của con người trong cuộc đời cũng như trong văn
chương là điều khiến chúng ta phải suy nghĩ, day dứt. Nếu học sinh không thể
đồng cảm, xúc động được thì đó là dấu hiệu không lành mạnh trong tâm hồn, tình
cảm của các em. Có một số học sinh thì sống ích kỉ ngay cả với những người thân
trong gia đình, bạn bè của mình. Nhưng khi làm văn thì sử dụng những mỹ từ đạo
lí sáo rỗng một cách trơn tru nhưng lại thờ ơ trước những bất hạnh của người khác,
đó là sự dối trá, là sự cách biệt giữa cuộc sống và làm văn. Đâu đó có những học
sinh vô lễ, thậm chí đánh cả thầy cô giáo của mình, đánh nhau trước cổng trường,
những clip bạo lực được quay và tung lên mạng, những câu chuyên học trò yêu
đương và bao câu chuyện đau lòng khác… Học trò ngày nay được tiếp cận với
công nghệ truyền thông hiện đại nên thật đáng lo khi con trẻ quay lưng lại với
phong phú, phải hiểu tất cả cách dùng từ. Bất cứ người dùng văn nào, cuối cùng
cũng thấy hiểu từ, dùng từ đúng chỗ là điều quan trọng và cũng là điều khó khăn
bậc nhất.” (tập san Đại học sư phạm, số 1 – 1974).
Điều đó chứng tỏ dạy từ là rất cần thiết, phải giảng cả nghĩa gốc rồi mới giảng
nghĩa trong văn cảnh. Nói một cách khái quát, khi giảng từ ngữ cần phân biệt hai
khâu liên hoàn: khâu nghĩa gốc và khâu văn chương. Nghĩa là khi đi vào tác phẩm
văn học, các từ ngữ thường không phải bao giờ cũng chỉ xuất hiện trong dạng cố
định và đơn giản như khi còn tồn tại trong các cuốn từ điển. Trái lại, do khả năng
sáng tạo của nhà văn, những nghệ sĩ ngôn từ- ý nghĩa và theo đó, nội dung biểu đạt
của rất nhiều từ ngữ phải được coi là kết quả của hàng loạt các thao tác tư duy hình
tượng như liên tưởng, so sánh, đối chiếu … giữa các sự vật, hiện tượng trong thực
tế khách quan, giữa tâm tư tình cảm của con người với các sự vật xung quanh cuộc
sống … như thế từ ngữ trong tác phẩm văn học sẽ mới mẻ, sinh động hơn. Vì vậy,
muốn cho học sinh hiểu tất cả ý nghĩa của từ cũng như hiểu tất cả mọi cách dùng
từ, với mỗi giáo viên, không thể bỏ qua việc phân tích các từ ngữ, tức là không thể
dừng lại ở những cơ sở đầu tiên là giải nghĩa từ một cách chung chung mà tạo điều
kiện cho học sinh vừa nắm được những giá trị nghệ thuật tinh tế của từ đồng thời
thấy được khả năng của người viết trong việc vận dụng từ ngữ để hình thành tác
phẩm.
Môn ngữ văn là một môn học vốn đã chưa đựng những yếu tố phù hợp với các nội
dung cơ bản của giáo dục kĩ năng sống, giúp học sinh có năng lực ngôn ngữ để học
tập, giao tiếp và nhận thức về xã hội, con người, giúp học sinh làm giàu cảm xúc
thẩm mỹ và định hướng thị hiếu để hoàn thiện nhân cách.
Ví dụ: Khi phân tích hai câu thơ đầu trong đoạn trích “Trao duyên” (“Truyện
Kiều” – Nguyễn Du): “Cậy em, em có chịu lời - Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa”,
giáo viên phải giúp các em khám phá ý nghĩa của các từ cậy, chịu lời, lạy, thưa.
Tại sao Nguyễn Du không dùng từ “nhờ” mà dùng từ “cậy”? không dùng “nhận”
mà dùng “chịu”? Chính vì giữa các từ ấy có sự khác biệt khá tinh vi. Đặt “nhờ”
vào chỗ “cậy”, không những thanh điệu câu thơ sẽ nhẹ đi, âm thanh không đọng ở
chữ thứ nhất của câu thơ nữa và làm giảm đi cái đau đớn, quằn quại khó nói của
Viết về nỗi khốn cùng của Đô- xtôi- ép- xki trong những năm lưu vong nơi đất
khách quê người, tác giả Xvai– gơ đã miêu tả thất sinh động qua những từ ngữ,
hình ảnh cụ thể gây ấn tượng mạnh “Trái tim ông chỉ đập vì nước Nga còn thân
thể ông sống leo lét trong một thế giới đối với ông là xa lạ”; “Năm mươi tuổi,
nhưng ông đã chịu hàng thế kỉ dằn vặt”.
“Tuyên ngôn độc lập” của Hồ Chí Minh là áng văn nghị luận mẫu mực, với ngôn
ngữ súc tích, chính xác, giàu sức biểu cảm. Chẳng hạn, khi nói về thực dân Pháp
tác giả sử dụng những từ ngữ đầy sức tố cáo và mỉa mai “chúng tuyệt đối không
cho chúng ta một chút tự do dân chủ nào”, hai chữ “tuyệt đối” nhằm nhấn mạnh
và chính xác hơn ý văn. “Bọn thực dân Pháp quỳ gối đầu hàng, mở cửa nước ta
rước Nhật”: hai chữ “ quỳ gối” và “rước” đã vẽ lên tư thế nô lệ, hèn nhát của
thực dân Pháp; Hoặc “Thế là chẳng những chúng không “bảo hộ” được ta, trái
lại, trong 5 năm, chúng đã bản nước ta hai lần cho Nhật” thì chữ “bảo hộ” đầy
châm biếm, chữ “bán nước ta hai lần” đã vạch rõ bộ mặt xấu xa của chúng.
Như vậy, phân tích từ ngữ trong giảng văn là chỉ cho học sinh thấy được nội dung
mà người viết muốn truyền đạt qua từ ngữ đó, đồng thời thấy được giá trị nghệ
thuật của từ ngữ đó khi tham gia xây dựng các hình tượng và bộc lộ chủ đề, tư
tưởng của tác phẩm. Vì thế, nếu không hiểu đúng nghĩa của từ, không nắm được
chính xác nội dung mà người viết muốn gửi gắm qua từ thì mọi sự phân tích về giá
trị nghệ thuật của từ sẽ chỉ là sự cười ra nước mắt vì mọi giá trị nghệ thuật của từ
trước hết là nó có phản ánh đầy đủ và đúng nhất cái mà tác giả muốn truyền đạt
hay không. Vẻ đẹp của ngôn từ là nhân tố quan trọng tạo nên chất văn, giá trị thẩm
mĩ cho tác phẩm văn học. Trong giờ đọc- hiểu hướng dẫn học sinh đi tìm chất văn
trong hệ thống từ ngữ không chỉ giúp các em rung cảm trước những giá trị biểu
7
cảm của ngôn từ, mà còn góp phần rèn luyện kĩ năng sử dụng từ ngữ của các em
trong quá trình làm văn và giao tiếp trong cuộc sống.
- Nắm chắc từ ngữ với phương thức chuyển nghĩa:
Trong ngôn ngữ, mỗi từ đều có ý nghĩa cơ bản để xác định trực tiếp đặc trưng
chủ yếu của đối tượng mà nó biểu thị, ý nghĩa cơ bản này gọi là nghĩa gốc của từ.
hoạt động sáng tạo của tác giả và do đó những từ: dữ dội, dịu êm, ồn ào, lặng lẽ đã
đem lại cho người đọc liên tưởng thú vị về những trạng thái tâm hồn của con người
khi yêu.
Như vậy, phương thức chuyển nghĩa là một công cụ để phát triển tư duy chính xác
cho người đọc lẫn người viết.
- Nắm vững từ ngữ với các hình thức đặc biệt:
+ Hình thức đồng nghĩa:
Từ đồng nghĩa là những từ gần nhau về nghĩa nhưng khác nhau về vỏ âm thanh
dùng để biểu thị các khía cạnh của một khái niệm, điều đó có nghĩa là: trong khi
8
dùng để biểu thị một khái niệm, mỗi một từ trong nhóm đồng nghĩa thường chỉ
chính xác hóa, cụ thể hóa một mặt nào đó của khái niệm mà thôi.
Trong nhóm từ đồng nghĩa, các từ thường phân biệt với nhau bằng nhiều sắc thái
khá tinh vi: sắc thái ý nghĩa, sắc thái tình cảm, sắc thái phong cách… Để phân tích
giá trị từ ngữ ấy, giáo viên trên cơ sở những phân biệt đó mà so sánh đối chiếu cái
khả năng biểu đạt của từ ngữ cần phân tích với từ ngữ khác đồng nghĩa với nó khi
ta đặt vào ngữ cảnh. Qua so sánh, giá trị nghệ thuật của từ ngữ cần phân tích sẽ
được bộc lộ rõ nét.
+ Hình thức đồng âm :
Hiện tượng đồng âm thường xảy ra trong phạm vi của những từ ngắn, có cấu trúc
đơn giản vì như vậy từ dễ chứa đựng những khái niệm khác nhau.
Nhìn chung, hiện tượng đồng âm trong tiếng Việt là một phương tiện tu từ rất có
hiệu quả, đặc biệt là ở địa hạt chơi chữ. Với tư cách là một trò chơi chữ từ đồng âm
thường được sử dụng theo nhiều cách khác nhau. Vì thế, để khai thác hiện tượng
đồng âm một cách có hiệu quả, người dạy một mặt phải chú ý đến những đặc điểm
chung của hiện tượng đồng âm, mặt khác phải phân biệt được những trường hợp cụ
thể mà ở đó hiện tượng đồng âm được sử dụng.
Một số trường hợp, hiện tượng đồng âm hay được sử dụng để tạo ra những ngữ
cảnh trong đó một hoặc một số từ có thể được hiểu nước đôi:
Ví dụ: “Trăng bao nhiêu tuổi trăng già
nỗi ngóng trông đang giai đoạn cao nhưng nét biểu thị về thời gian thì thấp hơn từ
“khô”. Nỗi ngóng trông với hình ảnh: “suối khô dòng lệ” là một nỗi ngóng trông
đã mỏi mòn theo năm tháng. Thời gian trôi đi, dòng lệ đã chảy ra, tuôn ra và bây
giờ đã khô cạn hết, ấy vậy mà cái đang mong đợi vẫn chưa thấy trở về. Ở đây, nỗi
chờ mong héo hắt cả tâm hồn ấy chỉ có thể có được khi từ “khô” thay thế từ
“tuôn” trong mối quan hệ độc lập đầy sáng tạo như thế của tác giả.
Khi phân tích những từ ngữ kiểu này, người dạy bắt buộc phải có một kiến thức
tương đối hoàn chỉnh về vấn đề nghĩa của từ cũng như tất cả các đối tượng khác
nhau có tổ chức ổn định. Chúng ta hoàn toàn có thể coi một tác phẩm văn học như
là một hệ thống với đầy đủ tính chất của thuật ngữ này. Như vậy, tác phẩm văn học
sẽ được hình thành ra với tư cách là một cấu trúc tập thể bao gồm hai cấu trúc nhỏ
hơn. Cấu trúc ngôn ngữ (các yếu tố thuộc ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp, phong
cách…) và cấu trúc văn học (các yếu tố thuộc chủ đề, đề tài, bố cục, hiện
tượng…). Cấu trúc ngôn ngữ của bất kì tác phẩm nào bao giờ cũng có hai lượng
nghĩa: một là cái ý do những câu, những chữ thông thường biểu đạt ra một cách
thông thường và hai là cái ẩn ý thường cũng là cái chủ ý của tác giả được chính
những câu, những chữ ấy biểu hiện ra một cách sâu xa và kín đáo. Cấu trúc ngôn
ngữ và cấu trúc văn học trong tác phẩm văn học gắn bó chặt chẽ với nhau, phân
tích các yếu tố của cấu trúc ngôn ngữ là đồng thời phân tích cấu trúc văn học và
cũng vì thế phân tích cấu trúc ngôn ngữ là điều không thể thiếu trong giảng bình
của bài học về tác phẩm văn chương.
- Nắm vững từ ngữ trong sự tương quan với cả đoạn, cả bài văn :
Tìm hiểu đoạn văn tố cáo tội ác của giặc Minh trong bài Đại cáo bình Ngô
(Nguyễn Trãi), chúng ta phải giúp học sinh hiểu đây là một bản cáo trạng dài. Chi
tiết cụ thể có, nhận định khái quát có, vừa cụ thể vừa khái quát. Từng lời, từng lời
đau đớn, nhưng toàn bộ các chi tiết, các nhận định gộp lại thì cả đất nước chỗ nào
cũng như rớm máu, chỗ nào cũng căm giận, oán than. Tội ác đầu tiên thật ghê rợn,
tội khủng bố. Nhưng đây không phải là chém giết bằng giáo gươm, mà bằng hành
vi tàn bạo, dã man :
Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn,
Tuỳ theo từng bài học cụ thể, từng đối tượng học sinh và điều kiện học tập khác
nhau mà giáo viên vận dụng cho linh hoạt, phù hợp trong việc sử dụng các biện
pháp hướng dẫn học sinh chuẩn bị bài học.
Khi dạy bài “Chuyện chức phán sự đền Tản Viên”, giáo viên đã định hướng học
sinh một số câu hỏi chuẩn bị bài, ngoài hệ thống câu hỏi hướng dẫn học bài trong
sách giáo khoa. Tìm những câu văn thể hiện tính cách của Tử Văn. Tác giả ca ngợi
đức cương trực, lòng nghĩa khí, và sự chiến thắng của kẻ sĩ đối với bọn gian tà như
thế nào? Những từ ngữ diễn tả thái độ của Tử Văn trước tên Bách bộ họ Thôi,
trước Thổ công và trong khi xử kiện ở Diêm Vương ?
Học sinh phải hiểu được thái độ của Tử Văn trước những lời buộc tội của viên
Bách hộ họ Thôi. Viên Bách hộ họ Thôi xuất hiện với hình dáng một cư sĩ, tức là
thổ thần địa phương, hộ nước giúp dân. Hắn lại quở trách Tử Văn bằng nguyên lí
đạo nho, buộc Tử Văn phải dựng trả đền như cũ, nếu không thì sẽ “khó lòng tránh
khỏi tai vạ”. Nhưng đối lại, Tử Văn : mặc kệ, cứ ngồi ngất ngưởng, tự nhiên. Mặc
cho tên gian tức giận, thề thốt, doạ nạt, phất áo ra đi, Tử Văn vẫn cứ một mực điềm
nhiên. Lấy cái không hề biến đổi để chọi với cái biến đổi đủ mặt, bên nào mạnh
hơn bên nào ? Tử Văn một mực làm thinh, một mực an nhiên nhưng bên trong đã
phục sẵn một tình thế đảo ngược: Cái mặc kệ, ngất ngưởng của Tử Văn, cái bất
biến ấy mới là sức mạnh so với cái vạn biến ; là một thứ im lặng để thu sức vào
bên trong, chờ đợi cơ hội.
Ngoài ra, lời bình cuối truyện là một lời bình hay. Hay ý nghĩa hay cả lời văn:
“Người ta thường nói : Cứng thì gãy, kẻ sĩ lo không cứng mà thôi, còn gãy, không
gãy là việc trời. Sao nên đoán trước là sẽ gãy mà chịu đổi cứng ra mềm? Ngô Tử
Văn chỉ là một anh áo vải. Duy giữ được cái cứng nên dám đốt cháy đền tà, bẻ gãy
11
yêu quỷ, chỉ một hành động mà cái tức của thần, của người đều được rửa sạch, vì
thế mà rạng danh đời Minh Tào, rồi được trao chức vị để đền công, thật là xứng
đáng. Làm kẻ sĩ chớ kiêng sợ sự cứng cỏi”. Lời bình đề cao cái cứng cỏi của Tử
Văn, cái cứng cỏi vì chính nghĩa, dù có nhất thời chịu khuất nhưng chắc chắn được
mọi người ủng hộ và nhất định sẽ chiến thắng. Muốn cho cái cứng cỏi ấy càng rỡ
Ví dụ như nhan đề các tác phẩm Vợ nhặt, Đôi mắt, Rừng xà nu,…
+ Xây dựng hệ thống câu hỏi gợi mở, nêu vấn đề hướng dẫn, tổ chức học sinh phân
tích từ ngữ trong đọc văn :
Hướng dẫn học sinh đọc- hiểu bài kí “Ai đã đặt tên cho dòng sông? » của Hoàng
Phủ Ngọc Tường, chắc chắn giáo viên phải giúp cho học sinh cảm nhận được vẻ
đẹp thơ mộng, độc đáo, riêng biệt của dòng sông Hương và cố đô Huế. Để đạt
được yêu cầu đó, giáo viên phải tổ chức một hệ thống câu hỏi gợi mở để giúp học
sinh tiến vào những tín hiệu nghệ thuật của bài kí. Sau đây là một vài câu hỏi tiêu
biểu:
12
Hoàng Phủ Ngọc Tường đã phát hiện ra nhiều vẻ đẹp khác nhau của dòng sông
Hương và đặt tên cho những vẻ đẹp ấy. Em hãy cho biết đó là những vẻ đẹp nào?
Vẻ đẹp sông Hương được tác giả khám phá từ những phương diện nào? Những từ
ngữ, hình ảnh nào giúp các em nhận biết điều đó?
Căn cứ vào hệ thống từ ngữ đặc sắc của tác phẩm, em hãy cho biết vẻ đẹp của
sông Hương ở phương diện không gian, địa lí?
Cảm nhận của tác giả về sông Hương trước khi nó về với vùng châu thổ êm đềm?
Tại sao tác giả lại so sánh sông Hương với “cô gái Di-gan phóng khoáng và man
dại”?
Những từ ngữ nào cho thấy sông Hương đã thành con sông của thi ca, nhạc hoạ,
bồi đắp phù sa văn hoá cho đất cố đô, gợi nên một nguồn thơ vô tận? Tại sao tác
giả nói sông Hương là dòng sông của “thời gian ngân vang”, là “sử thi viết giữa
màu cỏ lá xanh biếc”?
Nói chung, giáo viên phải định hướng, gợi mở để học sinh tiếp cận với những tín
hiệu nghệ thuật, phân tích những từ ngữ quan trọng, những từ ngữ gợi hình và
truyền cảm sâu sắc để các em nhận thức đầy đủ nội dung tư tưởng và nghệ thuật
của tác phẩm.
Điều đó chứng tỏ để cảm nhận vẻ đẹp của sông Hương ở phương diện không gian
địa lí, các em phải phân tích được giá trị của những từ ngữ: Khi đi qua giữa lòng
Trường Sơn, sông Hương có vẻ đẹp “phóng khoáng và man dại” như “một cô gái
Mặt khác, chính thao tác phân tích từ ngữ trong tác phẩm văn chương sẽ giúp các
em lĩnh hội tốt hơn đối với những bài học về Tiếng Việt và vận dụng hiệu quả hơn
trong khi làm các bài văn nghị luận, nhất là nghị luận văn học. Các em tự tìm tòi,
phát hiện, suy nghĩ, giải thích, đánh giá cái đặc sắc, thú vị của đoạn văn, đoạn thơ
trên cả bình diện nội dung tư tưởng và nghệ thuật. Giáo viên không phải phân tích
thay, bình thay cho học sinh. Điều đó sẽ tránh được phương pháp dạy học theo lối
cung cấp kiến thức áp đặt cho học sinh, buộc học sinh học thuộc những kiến giải
của thầy.
+ Nghiên cứu, học tập các đoạn bình giảng đặc sắc của các nhà văn, nhà thơ, nhà
nghiên cứu, phê bình văn học :
Trong quá trình chuẩn bị bài học và sau khi học xong tác phẩm, giáo viên cung cấp
cho học sinh danh mục những bài, những đoạn giảng bình đặc sắc và yêu cầu học
sinh tìm đọc, nghiên cứu, chỉ ra cái hay trong lời bình của người viết. Khám phá
này không chỉ giúp các em hiểu được những phát hiện độc đáo, ngôn ngữ bình, kĩ
thuật bình mà còn giúp các em rèn luyện kĩ năng phân tích từ ngữ trong giờ đọc
văn. Bởi đây là biện pháp có nhiều tác dụng đối với việc nâng cao khả năng cảm
thụ và bình giá thơ văn của học sinh, giúp các em thêm hiểu, thêm yêu văn học, bồi
dưỡng cách tư duy văn học, thị hiếu thẩm mĩ và sự nhạy bén trong cảm thụ văn
chương. Học sinh cũng học được từ đó các kĩ thuật bình giảng văn thơ và nghệ
thuật sử dụng ngôn ngữ trong phân tích, bình văn thơ hiệu quả hơn. Số học sinh có
sổ tay văn học chưa nhiều nhưng so với năm học trước thì đã có sự khởi sắc. Các
em đã biết chắt lọc những kiến thức cơ bản, ghi lại những đoạn văn hay, độc đáo
bình giảng về các từ ngữ then chốt, quan trọng trong văn bản đã học. Thái độ học
tập cũng có nhiều chuyển biến.
2.2. Dạy văn là dạy kĩ năng sống:
Như ta đã biết tiếp nhận văn học là một hoạt động nhằm chiếm lĩnh giá trị tư
tưởng, giá trị thẩm mĩ của tác phẩm văn học. Thông qua quá trình đầu tiên là tiếp
xúc, cảm thụ văn bản ngôn từ đến việc cảm nhận, hiểu ra chân giá trị của hình
tượng nghệ thuật và cảm hứng của nhà văn, tài năng diễn tả của nhà văn để làm
nên tác phẩm đó. Và cuối cùng là quá trình kết thúc sự tiếp nhận ở người đọc qua
các em sâu sắc như vậy, có những bài khiến tôi không cầm được nước mắt. Có học
sinh đã viết « Em thấy mình thật ích kỉ, cô có biết không vì sự ích kỉ của em mà mẹ
đã ra đi mãi mãi : em đòi mẹ mua cho em một chiếc xe đạp điện đi học để bằng
bạn bè, mà nhà em thì nghèo lắm, mẹ đã đi làm mướn bất cứ công việc gì để kiếm
tiền trong khi mẹ bị bệnh tim. Bây giờ xe đạp thì em đã có nhưng em không còn
mẹ, em nhớ mẹ, em cần mẹ biết bao, em hối hận nhiều lắm cô à, giá mà thời gian
quay trở lại thì… »
Có học sinh thì lại chia sẻ bằng những dòng tình cảm ấm áp « Em may mắn còn có
mẹ cô à, mẹ em rất thương em dù ba em đã bỏ mẹ con em đi vì mẹ em sinh toàn
con gái. Mẹ đau lòng nhưng đã ở vậy nuôi chị em em đến tận bây giờ, mẹ có thể
nhịn mặc ăn đói nhưng không bao giờ để chúng em phải thiếu thốn. Em yêu mẹ
nhiều lắm, em nguyện sẽ ngoan, học giỏi, thành đạt, trở thành niềm hãnh diện của
mẹ, để chứng minh cho ba thấy là đã sai lầm khi bỏ mẹ con em mà đi… »
Rồi lại có học sinh viết « Em không thể cảm nhận được tình yêu của mẹ vì từ khi
em sinh ra em đã không có mẹ rồi, em chỉ cảm nhận được tình yêu của nội dành
cho em, chắc có lẽ tình cảm của nội dành cho em cũng như của người mẹ cô
nhỉ ? »
Khi phân tích đến cảnh đánh vợ dã man của người đàn ông làng chài, giáo viên cho
các em nói lên suy nghĩ của mình về hành động đó, và để chấm dứt tình trạng bạo
lực gia đình theo em chúng ta cần làm gì ?
Có học sinh thì cho rằng chúng ta cần phải thông cảm cho người đàn ông vì họ bế
tắc nên mới làm thế, bởi sau khi đánh vợ con ông ta lại tiếp tục làm việc vì gia đình
15
chứ không rượu chè bê tha…Có học sinh thì lại kiên quyết dù vì bất cứ lí do gì
hành động đó cũng phải lên án và chấm dứt…
Giáo viên chốt lại : Đây là một hiện tượng chúng ta vẫn bắt gặp đây đó trong cuộc
sống, ở đây người mẹ không chỉ bị hành hạ về thể xác mà còn bị dày vò về tinh
thần. Còn những đứa con, chúng sẽ ra sao nếu môi trường sống không thay đổi ?
Tất cả mọi người, các cơ quan đoàn thể hãy hành động một cách có trách nhiệm,
hãy tìm những giải pháp thiết thực để người phụ nữ được sống bình đẳng, được tôn
Học xong tác phẩm giáo viên có thể đặt câu hỏi : Chúng ta đang sống trong một
đất nước hòa bình, tự do. Em có suy nghĩ gì về cuộc sống hôm nay, trách nhiệm
của mình đối với đất nước ?
Giáo viên chốt lại : cuộc sống hôm nay thật tươi đẹp, để có được ngày hôm nay
cha ông ta đã phải đổ biết bao xương máu. Mỗi chúng ta phải ý thức được giá trị
của cuộc sống, phải biết bảo vệ và dựng xây. Để xứng đáng với những gì mà cha
16
ông ta đã hi sinh, mỗi người cần cố gắng học tập, rèn luyện để có thể góp sức mình
xây dựng cuộc sống hôm nay ngày càng tươi đẹp hơn.
Qua truyện kể về một buôn làng, về cuộc đời anh hùng, học sinh nhận thức được
những bài học về chân lí cách mạng, nhận thức về lí tưởng sống, lòng yêu nước,
mối quan hệ giữa cá nhân và cộng đồng. Từ đó học sinh nhận thức được rằng : cần
phải sống, phải phấn đấu không phải chỉ cho bản thân mình mà cần phải biết sống
vì cộng đồng, vì quê hương, biết phấn đấu cho lí tưởng sống tốt đẹp. Học sinh sẽ đi
tìm kiếm những giá trị truyền thống, giá trị tinh thần tốt đẹp trong truyền thống đấu
tranh, tình yêu với cộng đồng, bản làng, quê hương, đó là những giá trị bền vững
và quý giá.
Với tác phẩm « Những đứa con trong gia đình », qua câu chuyện về một gia đình
nông dân Nam Bộ có truyền thống yêu nước, căm thù giặc, thủy chung với cách
mạng giúp học sinh nhận thức được sức mạnh của dân tộc trong cuộc kháng chiến
chống Mỹ cứu nước từ góc nhìn truyền thống gia đình ; mối liên hệ giữa truyền
thống gia đình và truyền thống dân tộc ; sự lựa chọn và lí tưởng sống của mỗi cá
nhân, mỗi gia đình, dòng tộc làm nên truyền thống của đất nước. Học sinh tìm
kiếm những vẻ đẹp của thế hệ trẻ thời kì chống Mỹ cứu nước, liên hệ đến thế hệ
mình đang sống, tìm thấy giá trị truyền thống, giá trị tinh thần tốt đẹp trong truyền
thống đấu tranh, tình yêu và niềm tự hào về gia đình, dòng dõi, quê hương.
3. GIÁO ÁN MINH HỌA :
Tiết:
67- 68D
Đọc văn:
- Thiết kế giáo án.
D. PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN:
Diễn giảng, phát vấn, thảo luận, gợi mở, đàm thoại
E. TIẾN TRÌNH LÊN LỚP:
1. Ổn định lớp – kiểm tra bài cũ:
Câu 1: Tóm tắt truyện Những đứa trong gia đình của Nguyễn Thi?
Câu 2: Vẻ đẹp của nhân vật Tnú qua tác phẩm “Rừng xà nu”, Nguyễn Trung Thành?
2. Bài mới:
Hoạt động của GV Hoạt động của HS Nội dung bài học
Hoạt động 1: Giới
thiệu bài mới: Kể về
nhân vật chị Út Tịch
trong tác phẩm “Người
mẹ cầm súng”, từ đó
dẫn dắt vào tác phẩm
này.
Lắng nghe, tạo tâm
thế vào bài.
Hoạt động 2: Hướng
dẫn học sinh tìm hiểu
phần tiểu dẫn trong
SGK.
Dựa vào phần tiểu dẫn
hãy tóm tắt vài dòng về
tiểu sử của tác giả
Nguyễn Thi?
Hãy cho biết những nét
cơ bản về tư tưởng và
phong cách của tác giả
qua tác phẩm "Những
Trình bày một phút.
2. Tác phẩm "Những đứa con trong
gia đình" .
- Truyện ngắn xuất sắc - ra đời trong
thời kỳ kháng chiến chống Mỹ.
- Đọc và tóm tắt văn bản:
- Giải nghĩa từ khó:
SGK trang 58-60.
- Chủ đề: qua truyền thống yêu nước
18
tác phẩm? của một gia đình nông dân Nam Bộ,
nhà văn muốn nói tới sự gắn bó sâu
nặng giữa tình cảm gia đình và tình
yêu nước, tình yêu cách mạng.
Hoạt động 3: III. Đọc, hiểu văn bản
Tiếp tục hướng dẫn HS
tìm hiểu văn bản.
Hãy đề xuất hướng tìm
hiểu văn bản?
Truyện "Những đứa
con trong gia đình"
được trần thuật chủ yếu
từ điểm nhìn của nhân
vật nào?
Nhân vật được đặt
trong tình huống như
thế nào? Hãy nêu tác
dụng của cách trần
thuận đó đối với kết
cấu truyện và việc khắc
HS suy nghĩ, thảo
luận, trả lời
Đại diện nhóm, trả
lời
a. Nét chung thống nhất của gia
đình:
+ Căm thù giặc sâu sắc
+ Gan góc, dũng cảm, khao khát, chiến
đấu, giết giặc.
+ Giàu tình nghĩa, rất mực thủy chung
son sắt với quê hương, Cách mạng.
→
truyền thống gia đình trong mối
quan hệ với truyền thống Cách mạng,
dân tộc tạo nên 1 dòng sông truyền
thống.
b. Nét riêng tiêu biểu từng thành viên
Tìm những chi tiết
trong tác phẩm đề cập
đến hình tượng chú
Năm? Trong số những
chi tiết ấy em ấn tượng
với chi tiết nào nhất?
Vì sao?
GV bình chi tiết tiếng
hò
Từ đó nêu những nhận
xét khái quát của em về
nhân vật này?
HS hệ thống, trả lời
GV nhận xét, lý giải,
kết luận.
HS thảo luận theo
nhóm, đại diện
nhóm trả lời
HS phát biểu tự do
theo hiểu biết và
cảm nhận của chính
mình.
(2) Má Việt - Chiến:
Hiện thân của truyền thống:
+ Tảo tần, đảm đang, tháo vát thương
yêu chồng con hết mực.
+ Ghìm nén đau thương đời mình để
sống, chở che cho đàn con và chiến
đấu.
GV bình 1 vài chi tiết ở
trong đoạn trích, có thể
mở rộng trong những
chi tiết ở phần trước.
HS lắng nghe
→
Bà là biểu tượng về người phụ nữ
nông dân Nam Bộ thời chống Mỹ
So với mẹ, chị Chiến
có những điểm nào
giống và khác? Nguyễn
Thi có dụng ý như thế
nào trong việc xây
dựng hình tượng chị
Em ấn tượng ở nhân
vật Việt bởi những nét
tính cách tiêu biểu nào?
HS lựa chọn, suy
nghĩ, trả lời.
(4) Việt
- Tính tình hồn nhiên, trẻ con
+ Luôn giữ trong mình cái ná thun, cho
tới khi đã vào bộ đội.
20
GV gợi ý, phân tích,
bình 1 vài chi tiết.
Bài học kĩ năng sống:
Sự lựa chọn của thế hệ
thanh niên thời đánh
Mỹ: truyền thống gia
đình và truyền thống
dân tộc, sức mạnh của
huyết thống, quyết tâm
đánh giặc để trả thù
nhà, đền nợ nước.
HS lắng nghe
+ Bị thương rất nặng tới lần 2 "trong
bóng đêm vắng lặng và lạnh lẽo", Việt
không sợ chết mà lại sợ ma và bóng
đêm.
+ Yêu chị nhưng hay tranh giành với
chị.
+ Rất yêu quý đồng đội nhưng không
nói thật là mình có chị, sợ mất chị,
Tiểu kết:
Mỗi con người trong gia đình là một
khúc sông trong dòng sông truyền
thống. Mỗi khúc sông có một đặc điểm
riêng nhưng họ vẫn hướng về tô đậm
hơn, phát huy hơn truyền thống gia
đình gắn chặt trong mối tình đất nước
thời kháng chiến chống Mỹ
Khái quát những nét cơ
bản về ngôn ngữ nghệ
thuật của tác phẩm?
HS suy nghĩ trả lời
01 phút.
3. Ngôn ngữ nghệ thuật:
- Xây dựng nhân vật bằng chi tiết cụ
thể, làm rõ góc cạnh của cuộc sống, tạo
nên không khí chân thực và có linh
hồn.
- Ngôn ngữ mang đậm chất Nam Bộ.
- Phát huy tối đa ngôn ngữ độc thoại
21
nội tâm.
→
tài năng Nguyễn Thi trong nghệ
thuật kể chuyện
Động não: Đọc xong
truyện ngắn, em có ấn
tượng với chi tiết nào
nhất? Vì sao?
GV bình
với đất nước? Lí tưởng
của em là gì?
HS lưu ý phần ghi
nhớ, đúc kết, ghi
chép
HS trình bày cá
nhân
HS trình bày cá
nhân
B. NGHỆ THUẬT:
- Truyện mang màu sắc sử thi.
- Tình huống truyện : Việt - một chiến
sĩ Quân giải phóng - bị thương phải
nằm lại trên chiến trường. Truyện kể
theo dòng nội tâm của Việt khi liền
mạch (lúc tỉnh), khi gián đoạn (lúc
ngất) của "người trong cuộc" làm câu
truyện trở nên chân thật hơn ; có thể
thay đổi đối tượng, không gian, thời
gian, đan xen tự sự và trữ tình.
- Chi tiết được chọn lọc vừa cụ thể vừa
giàu ý nghĩa, gây ấn tượng mạnh.
- Ngôn ngữ bình dị, phong phú, giàu
tính tạo hình và đậm sắc thái Nam Bộ.
- Giọng văn chân thật tự nhiên, nhiều
đoạn gây xúc động mạnh.
C. Ý NGHĨA VĂN BẢN
Qua câu truyện về những con người
trong một gia đình nông dân Nam Bộ
có truyền thống yêu nước, căm thù
biện. Từ đó giúp các em hứng thú và đam mê hơn với mỗi giờ học văn, định hình
được xã hội mình đang sống và những gì mình phải làm để hoàn thiện nhân cách
của mỗi con người. Các em biết yêu thương, gắn bó với nhau hơn, biết xúc động
và đồng cảm, chia sẻ với những người gặp hoàn cảnh éo le. Đồng thời phát huy
được năng lực nhiều mặt của học sinh như: cảm nhận tinh tế, khả năng phẩm bình,
cách sử dụng ngôn ngữ, diễn đạt ngày càng tốt hơn.
Kết quả khảo sát đầu năm khi chưa thực hiện đề tài:
Tổng số HS Giỏi Khá Trung bình Yếu, kém
140 0 10 55 75
Kết quả cuối năm khi đã thực hiện đề tài:
Tổng số HS Giỏi Khá Trung bình Yếu
140 05 40 70 25
Như vậy, so với kết quả khảo sát đầu năm tỉ lệ học sinh giỏi, khá và trung
bình đã tăng lên rõ rệt; học sinh yếu giảm hẳn và học sinh kém không còn.
Có thể thấy phương pháp đổi mới liên hệ thực tế trong giờ văn đã có tác động tích
cực đến sự chuyển biến tư tưởng, tình cảm, nhân cách học sinh. Với mục đích
hướng dẫn học sinh đi sâu khám phá giá trị từ ngữ trong văn bản văn học để các
em có thể cảm thụ sâu hơn, tốt hơn khi tiếp cận kiến thức trong giờ đọc văn, chúng
tôi đã tiến hành thực hiện các biện pháp trên đây. Kết quả sau khi áp dụng phương
pháp giảng dạy này, chúng tôi nhận thấy ở học sinh đã có những tiến bộ nhất định.
Bước đầu, học sinh đã hạn chế được thói quen thụ động, quen nghe, quen chép,
quen ghi nhớ và tái hiện lại kiến thức một cách máy móc những gì giáo viên đã
giảng, đã cho ghi lại. Các em đã đầu tư thời gian nghiên cứu văn bản, rèn luyện kĩ
23
năng phân tích từ ngữ, hợp tác với giáo viên trong giờ học. Biết trao đổi, tranh luận
với giáo viên. Một số học sinh đã có sự chủ động, tìm hiểu, khám phá bài học, đã
có thói quen tra từ điển để củng cố, mở rộng vốn hiểu biết về từ ngữ. Vì vậy, về cơ
bản, học sinh đã có những bước tiến đáng kể. Trong nhiều bài làm của học sinh đã
xuất hiện những ý tưởng độc lập trong suy nghĩ, rất hạn chế trường hợp giải thích,
phân tích từ ngữ một cách ngô nghê, lạc lõng, hay cách diễn đạt thuần tuý theo ý
hơn, cao thượng hơn. Mỗi học sinh cần tích lũy cho mình kinh nghiệm sống để làm
hành trang bước vào đời. Bởi vậy sự đổi mới về phương pháp liên hệ thực tế trong
giờ dạy văn có ý nghĩa xã hội lớn. Làm sao để tác phẩm văn chương không xa rời
cuộc sống, từ đó nâng cao chất lượng giờ học để học sinh đam mê, hứng thú học
tập hơn. Người thầy cũng sẽ cảm thấy giờ dạy nhẹ nhàng, thoải mái, chất lượng
hơn. Muốn vậy người thầy phải lựa chọn những phương pháp, những câu hỏi đúng
lúc, đúng chỗ, đúng đối tượng tâm lí học sinh; phải tìm tòi nắm bắt kịp thời những
24
thông tin xã hội Học trò sẽ đam mê, hứng thú hơn, thẩm thấu tác phẩm một cách
tự nhiên, hiểu bài sâu hơn, nhớ bài lâu hơn, không mang tính chất gò ép, xóa được
khoảng cách giữa tác phẩm văn chương với đời sống hiện thực.
2. Khuyến nghị:
Vẻ đẹp của mỗi tác phẩm văn chương là do nhiều yếu tố tạo thành. Khi dạy văn,
giáo viên cần bám sát văn bản, nắm vững đặc trưng cơ bản của thể loại. Cùng với
việc giúp các em nắm được những giá trị nội dung và nghệ thuật của văn bản, hãy
để các em được rung cảm và cảm thụ chất văn của văn bản, được thăng hoa với
những cảm xúc thẩm mỹ mà văn học đem đến cho con người.
Để mỗi giờ dạy tạo được niềm hứng khởi thực sự cho thấy và trò, người giáo viên
phải không ngừng học hỏi, đổi mới phương pháp, tâm huyết với nghề.
Kính đề nghị cấp trên tổ chức nhiều hơn các hoạt động chuyên môn để giáo viên
có điều kiện học hỏi kinh nghiệm, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ: tổ
chức các buổi chuyên đề, hội thảo; các giờ thao giảng cần sắp xếp thời gian và kế
hoạch sao cho đa dạng về thể loại văn bản; nhân rộng những sáng kiến kinh
nghiệm mang tính thực tiễn cao.
Trên đây là một vài kinh nghiệm của cá nhân tôi về “Liên hệ thực tế trong
giờ đọc văn để tạo hứng thú cho học sinh” xin chia sẻ với quý đồng nghiệp. Với
kinh nghiệm chưa thật phong phú, sâu sắc, chắc chắn bài viết vẫn còn chỗ thiếu
sót, hạn chế, rất mong được quý đồng nghiệp đóng góp ý kiến để sáng kiến kinh
nghiệm này có thể ứng dụng rộng rãi và mang lại hiệu quả giáo dục cao. Xin chân
thành cảm ơn!