Điều tra nguồn tài nguyên thực vật họ long não (lauraceae) tại hai xã môn sơn và châu khê thuộc huyện con cuông, tỉnh nghệ an - Pdf 29

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

LÂM THỊ NGỌC NGA
ĐIỀU TRA NGUỒN TÀI NGUYÊN THỰC VẬT
HỌ LONG NÃO (LAURACEAE) TẠI HAI XÃ MÔN SƠN
VÀ CHÂU KHÊ THUỘC HUYỆN CON CUÔNG , TỈNH NGHỆ AN
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC
NGHỆ AN - 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

LÂM THỊ NGỌC NGA
ĐIỀU TRA NGUỒN TÀI NGUYÊN THỰC VẬT
HỌ LONG NÃO (LAURACEAE) TẠI HAI XÃ MÔN SƠN
VÀ CHÂU KHÊ THUỘC HUYỆN CON CUÔNG , TỈNH NGHỆ AN
Chuyên ngành: Thực vật học
Mã số: 60.42.01.11
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS. NGUYỄN ANH DŨNG
NGHỆ AN - 2014
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận này, tôi đã nhận được sự hướng dẫn tận tình, giúp
đỡ chu đáo của TS. Nguyễn Anh Dũng, xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy.
Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình, quý báu của TS. Đỗ
Ngọc Đài, Kỹ sư Lê Vũ Thảo (Nguyên cán bộ Phân viện điều tra rừng Bắc
Trung Bộ).
Qua đây tôi cũng xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, Phòng Sau đại
học, Ban chủ nhiệm khoa Sinh học cùng quý thầy, cô giáo Bộ môn Thực vật
trường Đại học Vinh; Trạm kiểm lâm, Đồn Biên phòng cũng như chính quyền
và nhân dân hai xã Môn Sơn và Châu Khê huyện Con Cuông Tỉnh Nghệ An

3.2. Yếu tố nhiệt đới châu Á – châu Phi
4. Yếu tố châu Á nhiệt đới
4.1. Yếu tố lục địa Đông Nam Á – Malaixia
4.2. Lục địa Đông Nam Á
4.3. Yếu tố lục địa Đông Nam Á – Hymalaya
4.4. Đông Dương – Nam Trung Quốc
4.5. Đặc hữu Đông Dương
5. Yếu tố ôn đới
5.1. Ôn đới châu Á – BắcMỹ
5.2. Ôn đới cổ thế giới
5.3. Ôn đới ĐịaTrung Hải
5.4. Đông Á
6 . Đặc hữu Việt Nam
6.1. Gần đặc hữu Việt Nam
7. Yếu tố cây trồng và nhập nội.
3. Công dụng
M Cây làm thuốc
T Cây lấy gỗ
F Cây làm thức ăn, lương thực, nuôi gia súc
E Cây lấy tinh dầu
Oil Cây lấy dầu béo
4. Các ký hiệu khác
YTĐL Yếu tố địa lý
DS Dạng sống
CD
VQG
Công dụng
Vườn Quốc gia
CS Cộng sự
MỤC LỤC

o
46’ vĩ độ Bắc và 104
o
24’ độ kinh
Đông thuộc tỉnh Nghệ An. Vườn Quốc Gia Pù Mát nằm trên địa giới hành
chính của 3 huyện: Anh Sơn, Con Cuông, và Tương Dương, đường ranh giới
phía Nam của Vườn Quốc Gia chạy dọc theo đường biên giới Việt Lào. Vườn
Quốc Gia Pù Mát nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa. Lượng mưa
trung bình hàng năm ở đây là 1.800mm và nhiệt độ trung bình 23,5
o
C. Với
diện tích vùng lõi rộng 94.804 ha và vùng đệm rộng 86.000 ha.
Vườn quốc gia Pù Mát là một kho tàng về các nguồn gen hoang dã, quý
hiếm, là một trong số ít khu bảo tồn đa dạng sinh học lớn nhất nước ta. Vườn
quốc gia này có thảm thực vật phong phú với 2.494 loài thực vật, thuộc 931
chi, 202 họ, trong đó có 37 loài trong sách đỏ Việt Nam và 20 loài trong sách
7
đỏ quốc tế. Cho đến nay đã có 1.144 loài thực vật có mạch được ghi nhận là
phân bố ở Pù Mát.
Ở đây đã có nhiều công trình nghiên cứu thực vật theo hướng đa dạng
thực vật của các taxon bậc cao như lớp, ngành. Điển hình có các công trình
nghiên cứu của Phạm Hồng Ban (2000) [1], Nguyễn Anh Dũng (2002) [14],
Nguyễn Nghĩa Thìn và cộng sự (2004) [39]…
Để tiếp tục góp phần vào việc nghiên cứu tính đa dạng và giá trị trị về hệ
thực vật ở vùng đệm Vườn Quốc Gia Pù Mát, chúng tôi chọn đề tài: “Điều
tra nguồn tài nguyên thực vật họ Long não (Lauraceae) tại hai xã Môn
Sơn và Châu Khê thuộc huyện Con Cuông , tỉnh Nghệ An ”.
2. Mục tiêu của đề tài
Xác định thành phần loài thực vật, đánh giá tính đa dạng và phân tích
thành phần hóa học tinh dầu một số loài có giá trị của họ Long não

nhóm lớn: nhóm bất toàn (gồm nấm, rêu, dương xỉ, các loài thực vật thủy
9
sinh) và nhóm hiển hoa (có hoa, gồm các thực vật 1 lá mầm và 2 lá mầm).
Cũng trong thời gian đó, Journefort (1656 - 1708) dùng tính chất của tràng
hoa làm cơ sở phân loại, ông chia thực vật có hoa thành nhóm không cánh và
nhóm có cánh hoa.
Tiếp sau đó Linnee (1707 - 1778) là người được mệnh danh là “Ông tổ”
của phân loại học, nhà tự nhiên học Thụy Điển. Công trình nghiên cứu của
ông đã đạt đến đỉnh cao của hệ thống phân loại thực vật. Trong tác phẩm “Hệ
thống tự nhiên” của mình ông đã mô tả khoảng 10.000 loài cây và sắp xếp
vào một hệ thống nhất định. Ông đã đề xướng cách đặt tên sinh vật rất chặt
chẽ và thuận tiện, mỗi tên cây được gọi bằng tiếng La tinh gồm 2 từ ghép lại
mà ngày nay chúng ta còn sử dụng. Ông cũng là người xây dựng nên hệ thống
phân loại gồm 7 đơn vị: giới, ngành, lớp, bộ, họ, chi, loài [theo 41].
Cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX phân loại thực vật được dựa trên cơ
sở các mối quan hệ tự nhiên của thực vật, dựa vào toàn bộ (hay số lớn) tính
chất chung của chúng. Có rất nhiều hệ thống phân loại ra đời: hệ thống phân
loại của Bernard Jussieu (1699 - 1777) và Decandol (1778 - 1836) đã mô tả
được 161 họ và đưa phân loại trở thành một môn khoa học. Robert Brown
(1773 - 1858) là người đầu tiên nghiên cứu tỉ mỉ về tùng và bách tuế từ đó
dẫn đến chia thực vật thành 2 nhóm đó là hạt trần và hạt kín [theo 41].
Cho đến thế kỷ XIX việc nghiên cứu các hệ thực vật đã thực sự phát
triển mạnh mẽ ở tất cả các quốc gia. Phân loại học ngày càng đi sâu nghiên
cứu bản chất của sinh vật. Nhiều công trình nghiên cứu có giá trị các cuốn
thực vật chí lần lượt ra đời: Thực vật chí Anh (1869), Thực vật chí Ấn Độ 7
tập (1872 - 1897), Thực vật chí Vân Nam (1977), Thực vật chí Malayxia
(1922 - 1925)
Đến năm 1993, Watters và Hamilton đã thống kê được trong các tác
phẩm nghiên cứu thì trong suốt 2 thế kỷ qua đã có 1,4 triệu loài thực vật đã
được mô tả và đặt tên. Cho đến nay vùng nhiệt đới đã xác định được khoảng

11
các ngành còn lại [27]. Song song với sự thống kê đó ở Miền Bắc từ 1969-
1976, Lê Khả Kế (chủ biên) đã xuất bản bộ sách “Cây cỏ thường thấy ở Việt
Nam” gồm 6 tập đã mô tả rất nhiều loài thực vật có mặt ở Việt Nam [22].
Thái Văn Trừng (1963 - 1978) trên cơ sở bộ “Thực vật chí Đông Dương”
đã thống kê được hệ thực vật Việt Nam có 7.004 loài thực vật bậc cao có
mạch thuộc 1.850 chi và 298 họ [44].
Để phục vụ cho công tác khai thác và bảo vệ tài nguyên rừng, Viện
Điều tra Quy hoạch rừng đã công bố 7 tập “Cây gỗ rừng Việt Nam” (1972
- 1986) giới thiệu khá chi tiết cùng với hình vẽ minh họa các loài thực vật
[45]. Trần Đình Lý và tập thể (1993) công bố 1900 cây có ích tại Việt
Nam [30], Võ Văn chi (1997) công bố từ điển cây thuốc Việt Nam và
được xuất bản năm 2012 [12].
Đáng chú ý nhất phải kể đến bộ “Cây cỏ Việt Nam” của Phạm Hoàng Hộ
(1991- 1993) xuất bản tại Canada với 3 tập, 6 quyển và tái bản năm 2000 đã
mô tả được khoảng 10.500 loài thực vật bậc cao có mạch ở Việt Nam [18]. Đây
được coi là bộ sách đầy đủ nhất về thành phần loài thực vật bậc cao ở Việt
Nam góp phần đáng kể cho khoa học thực vật ở Việt Nam, tuy nhiên theo tác
giả thì một số loài thực vật ở hệ thực vật Việt Nam có thể lên tới 12.000 loài.
Việc đánh giá đa dạng thực vật cho các VQG, các khu bảo tồn thiên
nhiên làm cơ sở cho việc hoạch định các chính sách bảo tồn được quan tâm
nghiên cứu. Trong đó đặc biệt là những công trình của Nguyễn Tiến Bân
(1984) cùng tập thể các giả khác cho ra đời tập “Danh lục thực vật Tây
Nguyên” công bố 3.754 loài thực vật bậc cao có mạch, bằng một nửa số loài
của hệ thực vật Việt Nam [4]. Năm1985, Phạm Hoàng Hộ trong cuốn “Danh
lục thực vật Phú Quốc” công bố 793 loài thực vật bậc cao có mạch trong một
diện tích là 592 km
2
[17]; Phùng Ngọc Lan (1996) và nnk với công trình:
“Tính đa dạng thực vật ở Cúc Phương” đã công bố 1.944 loài thực vật bậc

ngoài thiên nhiên [6].
13
Ở Nghệ An đã có các công trình nghiên cứu ở vùng đệm VQG Pù Mát
như: Đặng Quang Châu (1999) và cs [9], Nguyễn Thị Quý (1999) [33], Phạm
Hồng Ban (2000) [1], Nguyễn Nghĩa Thìn (2001) [36], Nguyễn Nghĩa Thìn,
Ngô Trực Nhã, Nguyễn Thị Hạnh (2001) [43], Nguyễn Anh Dũng (2002)
[14], Nguyễn Nghĩa Thìn, Nguyễn Thanh Nhàn (2004) [39], Lê Thị Hương,
Đỗ Ngọc Đài (2012) [21]. Trong đó điển hình nhất là công trình nghiên cứu
của Nguyễn Nghĩa Thìn, Nguyễn Thanh Nhàn (2004) tác giả đã tổng kết được
hệ thực vật Pù Mát có 2.494 loài thuộc 931 chi, 202 họ của 5 ngành trong
“Đa dạng thực vật vườn Quốc gia Pù Mát”.
Như vậy các công trình nghiên cứu ở vùng đệm VQG Pù Mát ở Nghệ
An khá nhiều nhưng các công trình nghiên cứu chuyên sâu về từng họ thì
đang còn chưa phổ biến. Vì vậy, nghiên cứu thành phần loài của từng họ
riêng biệt tại vùng đệm VQG Pù Mát là hướng đi mà chúng tôi lựa chọn.
1.3. Tình hình nghiên cứu họ Long não – Lauraceae
Họ Long não (Lauraceae) đã được nhiều nhà khoa học trên thế giới quan
tâm bởi tính đa dạng, phong phú của nó. Người đầu tiên nghiên cứu về taxon
này là Jussieu (1789-1824). Tiếp theo đã có nhiều công trình nghiên cứu và
công bố về các loài họ Long não (Lauraceae) trong các bộ sách Thực vật chí
Ấn Độ với 16 chi và 250 loài, Trung Quốc có 18 chi và 500 loài, Malaixia 12
chi và 200 loài, Đông Dương có 12 chi và 50 loài, Họ Long não trên thế giới
có khoảng 55 chi và trên 2.500 loài, phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới và cận
nhiệt đới, đặc biệt là vùng Đông Nam Á và Braxin [54].
Ở Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến họ Long
não như Lê Khả Kế (1969 - 1976) [22]; Võ Văn Chi, Dương Đức Tiến
(1978) [13]; Nguyễn Tiến Bân và cộng sự (1984) [4], Phạm Hoàng Hộ
(1999 - 2000) đã vẽ hình và mô tả các loài thuộc họ Long não với 243 loài
thuộc 18 chi [18].
Nghiên cứu đầy đủ nhất về họ Long não là công trình của Nguyễn

hoa 6 mảnh, xếp 2 vòng. Nhị 9 xếp 3 vòng, đôi khi có thêm 1 vòng nhị lép ở
15
gốc chỉ nhị, nhị thường mang 2 túi mật. Bao phấn 2-4 ô, mở bằng lỗ nắp đậy.
Bộ nhụy thường có một lá noãn (đôi khi 3 dính lại) tạo thành bầu 1 ô.
- Quả: Thuộc loại quả hạch hay quả mọng, thường có đài dính liền phát
triển thành dạng đấu dưới quả, hay đế hoa lớn bao quanh lấy quả trông như
bầu dưới; quả thường không lông, xoan hoặc tròn.
Nhiều loài trong họ Long não được khai thác và sử dụng vào các mục
đích khác nhau như:
- Nhóm cây làm thuốc: Quế thanh (Cinnamomum cassia), Quế rừng (C. iners),
Bộp lá xoan ngược (Actinodaphne obovata), Bời lời chanh (Litsea cubeba),…
- Nhóm cây cho gỗ: Quế bời lời (C. polydelphum), Bời lời trung bộ (L.
griffithi var. annamensis), Quế thanh (C. cassia), Re hương (C. balansae)
- Nhóm cây cho tinh dầu: khá phong phú với một số đại diện như: Re
cuống dài (C. longepetiolatum), Quế thanh (C. cassia), Long não (C.
camphora), Bời lời nhớt (L. glutinosa), Bời lời đắng (L. umbellata), Re trắng
mũi mác (Phoebe lanceolata), Re hương (C. balansae)…
1.4. Nghiên cứu về yếu tố địa lý thực vật
1.4.1. Trên thế giới
Mỗi hệ thực vật bao gồm nhiều yếu tố thực vật khác nhau và các yếu tố
địa lý đó thể hiện ở 2 nhóm chính đó là yếu tố đặc hữu và yếu tố di cư. Trong
các loài thuộc yếu tố đặc hữu thể hiện sự khác biệt giữa các hệ thực vật với
nhau, còn các loài thuộc yếu tố di cư lại chỉ ra sự liên hệ giữa các hệ thực vật
với nhau. Nói cách khác yếu tố di cư là yếu tố đã du nhập vào lãnh thổ của
khu hệ thực vật bằng những con đường khác nhau.
Phân tích các yếu tố địa lý thực vật là một trong những nội dung quan
trọng khi nghiên cứu một hệ thực vật hay bất kỳ một khu hệ sinh vật nào để
hiểu bản chất cấu thành nó làm cơ sở cho việc định hướng bảo tồn và phát
huy giống cây trồng.
Phân tích và đánh giá các yếu tố cấu thành hệ thực vật Việt Nam về mặt

Nhưng khi thảo luận ông gộp loài đặc hữu và loài bản địa làm một, căn cứ
17
vào khu phân bố hiện tại, nguồn gốc phát sinh của loài đó đã nâng loài đặc
hữu bản địa lên 50% (tương tự 45.7% theo Gagnepain và 52.79% theo Pocs
Tamas), còn yếu tố di cư chiếm 39% (trong đó từ Malaysia là 15%, từ
Himalaya, Vân Nam, Quý Châu là 10% và từ Ấn Độ- Myanma là 14%) [44].
Nguyễn Nghĩa Thìn (1997) [35] căn cứ vào các khung phân loại của
Pocs Tamas (1965), Ngô Chinh Giật (1993), tác giả đã xây dựng thang phân
loại các yếu tố địa lý thực vật cho hệ thực vật Việt Nam và áp dụng cho việc
sắp xếp các chi thực vật Việt Nam vào các yếu tố địa lý như sau:
1. Yếu tố thế giới 5. Yếu tố Liên nhiệt đới
2. Yếu tố Cổ nhiệt đới 6. Yếu tố nhiệt đới Châu Á
3. Yếu tố Ôn đới 7. Yếu tố đặc hữu Việt Nam
4. Yếu tố các loài cây trồng
Từ khung phân loại các yếu tố địa lý đó Nguyễn Nghĩa Thìn và cộng sự đã
lần lượt xác định các yếu tố địa lý thực vật của hệ thực vật các VQG và khu
BTTN trong cả nước. Tài liệu mới nhất về các yếu tố địa lý thực vật của hệ
thực vật chính ở VQG Bạch Mã (2003) [40] được chỉ ra như sau:
- Yếu tố toàn cầu: 0.61%
- Yếu tố nhiệt đới: 62.93%
- Yếu tố ôn đới: 3.76%
- Yếu tố đặc hữu Việt Nam: 25.12%
- Yếu tố cây trồng: 1.64%
Đối với VQG Pù Mát, Nguyễn Nghĩa Thìn và cộng sự (2004) [39] đã chỉ
ra các yếu tố địa lý thực vật chính như sau:
- Yếu tố toàn cầu: 2.40%
- Yếu tố nhiệt đới: 65.05%
- Yếu tố ôn đới: 5.35%
- Yếu tố đặc hữu Việt Nam: 14.19%
- Yếu tố cây trồng: 5.56%

Ngoài ra khi phân tích dạng sống của các cây chồi trên đất (Ph) được
chia thành 9 nhóm phụ để dễ sử dụng hơn trong các rừng nhiệt đới ẩm, đó là:
(1). Cây gỗ lớn cao trên 25m (Mg)
(2). Cây lớn có chồi trên đất cao 8-25m (Me)
(3). Cây nhỏ có chồi trên đất 2-8m (Mi)
(4). Cây có chồi trên đất lùn dưới 2m (Na)
(5). Cây bì sinh (Ep)
(6). Cây chồi trên đất ký sinh và bán ký sinh (Pp)
(7). Cây chồi trên đất mọng nước (Suc)
(8). Cây có chồi trên đất leo cuốn (Lp)
(9). Cây chồi trên đất thân thảo (Hp)
Để thuận tiện trong việc so sánh phổ dạng sống giữa các hệ thực vật với
nhau, Raunkiaer [57] (1934) đưa ra một phổ dạng sống chuẩn dựa trên việc
tính toán cho hơn 1.000 cây ở các vùng khác nhau trên thế giới:
SN = 46 Ph + 9Ch + 26 He + 8 Cr + 15 Th
1.5.2. Ở Việt Nam
Việc nghiên cứu về phổ dạng sống ở Việt Nam chưa nhiều, tuy nhiên
cũng có một số công trình lớn đã đề cập đến vấn đề này. Điển hình là công
trình nghiên cứu của Pocs Tamas (1965) khi nghiên cứu hệ thực vật Bắc -
Việt Nam, ông đã phân tích, lập phổ dạng sống cho hệ thực vật này và thu
được kết quả như sau [56]:
Cây gỗ lớn cao trên 30m (Mg) 4,85%
Cây lớn có chồi trên đất cao 8-30m (Me) 3,80%
Cây có chồi trên đất lùn dưới 2m (Na) 8,02%
Cây có chồi trên đất leo cuốn (Lp) 9,08%
Cây có chồi trên đất sống nhờ và sống bám (Ep) 6,45%
Cây chồi sát đất (Ch)
Cây chồi nửa ẩn (Hm) 40,68%
Cây chồi ẩn (Cr)
20

Tinh dầu là hỗn hợp các hợp chất hữu cơ có cấu tạo phức tạp và khác
nhau về tính chất lý học và hóa học, nhưng có một số đặc tính chung như có
mùi thơm, có khả năng bay hơi, dễ tan trong dung môi hữu cơ .
Tinh dầu có thể có ở các bộ phận khác nhau như lá, hoa, quả, vỏ và
thân, rễ. Trong đời sống thực vật, tinh dầu có vai trò bảo vệ cây khỏi các tác
dụng của sâu bệnh, che phủ các vết thương ở cây gỗ, ngăn chặn các bệnh do
nấm và biến đổi sức căng bề mặt của nước trong cây thúc đẩy sự vận chuyển
nước và tăng cường hiệu quả của các phản ứng enzim. Trong đời sống con
người, ngay từ xa xưa, tinh dầu đã được khai thác và sử dụng vào các mục
đích khác nhau. Đến nay, cùng với sự phát triển của khoa học, tinh dầu ngày
càng được ứng dụng rộng rãi trong công nghệ thực phẩm, trong hóa mỹ
phẩm, trong công nghiệp và y dược học.
Các nghiên cứu về tinh dầu trên thế giới và ở Việt Nam chủ yếu tập
trung vào các chi lớn như chi Cinnamomum (chi Long não), chi Litsea (chi
Màng tang)
Long não (Cinamomum) là một chi lớn trong họ Long não (Lauraceae),
gồm tới 250 loài, phân bố từ vùng đại lục châu Á đến khắp vùng Đông Nam Á,
Australia và khu vực Tây Thái Bình Dương.
Ở nước ta, số loài thuộc chi Long não rất phong phú và đa dạng. Năm
1991, Phạm Hoàng Hộ đã mô tả tóm tắt 40 loài và gần đây Nguyễn Kim Đào
(2003) đã thống kê được 45 loài (chiếm 16,8% tổng số loài của chi
Cinnamomum trên thế giới và bằng 46,6% số loài ở khu vực Malesian).
Hầu hết các loài thuộc chi Long não (Cinamomum) đều có chứa tinh dầu
hoặc hương thơm, song hàm lượng và thành phần hóa học của tinh dầu ở mỗi
loài thường khác nhau. Một số loài thì thành phần chủ yếu của tinh dầu là
cinnamaldehyd, ở những loài khác thì các thành phần ưu thế lại là eugenol,
comphor hoặc safrol.
22
Tinh dầu cất từ vỏ và từ lá của loài Quế đơn (C. cassia) đều chứa tinh
dầu với thành phần tương tự nhau, nhưng hàm lượng tinh dầu trong vỏ cao

động của các yếu tố di truyền, điều kiện môi trường và thời vụ thu hái.
Ở nước ta, khi phân tích các mẫu tinh dầu Quế đơn (C. cassia) khác nhau
đã cho thấy, chúng dao động trong những giới hạn nhất định. Tỷ trọng của
tinh dầu ở 20
0
C từ 1,045 - 1,072, chỉ số chiết quang 1,602 - 1,604, hàm lượng
(E)-cinnamaldehyd từ 80 - 95%, ngoài ra còn có các hợp chất khác như
cinnamyl acetat, cinnamyl alcohol, coumarin, benzyl benzoat,
Ở Quế thanh (C. loureirii), tinh dầu chứa trong vỏ với hàm lượng khá
cao và thay đổi trong khoảng từ 1,0% đến 7,0%. Tinh dầu chưng cất từ vỏ
Quế thanh thường có màu vàng nâu và thành phần chính của tinh dầu cũng là
(E)-cinnamaldehyd (80-92,5%); ngoài ra khoảng trên 10 hợp chất khác đã
được xác định, trong đó có các chất 3-phenypropanal, (Z)-cinnamic aldehyd,
coumarin, benzaldehyd, eugenol, β-caryophyllen, camphor, linalool [54].
Tinh dầu từ lá Quế thanh có màu nâu nhạt và thành phần hóa học có sai khác
rõ với tinh dầu từ vỏ.Ở nước ta, những nghiên cứu hóa học về loài này còn rất
ít, mặc dù đây là loài gần như đặc hữu.
Trong vỏ của loài Quế rành (C. burmanni) chứa 1,0-4,0% tinh dầu,
thường không màu hoặc có màu vàng nâu nhạt với thành phần chính cũng là
cinnamaldehyd (60-85%), các hợp chất khác có hàm lượng đáng kể gồm: 1,8-
cineol, α-terpineol, camphor, terpinen-4-ol, borneol, α-pinen, β-caryophyllen,
para-cymen, camphen…; không có eugenol. Tinh dầu từ lá Quế rành cũng
gồm chủ yếu là cinnamaldehyd, nhưng tinh dầu từ vỏ rễ lại có thành phần
chính là camphor [51].
Hàm lượng tinh dầu trong vỏ Quế rành (Cinnamomum burmanni) tương
đối cao (1-4%). Tinh dầu không màu hoặc vàng nâu nhạt, thành phần chủ yếu
của tinh dầu ngoài cinnamaldehyd còn có 1,8-cineol; α-terpineol và camphor,
không có eugenol [51]. Theo phân tích của Ji Xia-duo và cộng sự (1991) thì
thành phần hóa học trong tinh dầu vỏ quế rành sinh trưởng tại Inđônêxia gồm
24

Trích đoạn Đặc điểm kinh tế xã hộ Phương pháp thu, xử lý và trình bày mẫu vật Phương pháp đánh giá đa dạng về các yếu tố địa lý thực vật Phương pháp đánh giá đa dạng về dạng sống Đánh giá sự phân bố loài trong ch
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status