BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
DƯƠNG VŨ THÁI
HÌNH THÀNH KHÁI NIỆM TRONG DẠY HỌC
LỊCH SỬ THẾ GIỚI THỜI NGUYÊN THỦY,
CỔ ĐẠI VÀ TRUNG ĐẠI LỚP 10 THPT
(CHƯƠNG TRÌNH CHUẨN) LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC NGHỆ AN - 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
,
10T
2
của trường THPT Đô Lương I
(Huyện Đô Lương - Nghệ An), Ban Giám Hiệu, quý thầy cô giáo trong tổ
Lịch sử và các em học sinh khối 10 cùng hai lớp 10C và 10D của trường
THPT Tương Dương I (Huyện Tương Dương - Nghệ An), đã nhiệt tình giúp
đỡ, hợp tác trong quá trình điều tra và thực nghiệm sư phạm để tôi hoàn thành
luận văn.
Xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Lịch sử trường Đại
học Vinh, cùng các bạn bè và gia đình đã luôn ủng hộ, động viên tôi trong quá
trình thực hiện đề tài luận văn.
Học viên
Dương Vũ Thái
BẢNG KÍ HIỆU CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
CHỨ CÁI VIẾT TẮT
NGHĨA LÀ
CTQG
Chính trị quốc gia
DHLS
Dạy học lịch sử
ĐHQG
Đại học quốc gia
ĐHSP
Đại học sư phạm
5. Phương pháp nghiên cứu 10
6. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 11
7. Đóng góp của luận văn 12
8. Giả thuyết khoa học 12
9. Cấu trúc của luận văn 12
NỘI DUNG 13
Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC HÌNH THÀNH
KHÁI NIỆM TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG THPT 13
1.1. Những vấn đề chung về khái niệm và việc hình thành khái niệm
trong dạy học lịch sử ở trường THPT 13
1.1.1. Khái niệm 13
1.1.2. Khái niệm lịch sử 24
1.2. Cơ sở thực tiễn 37
1.2.1. Thực trạng của việc hình thành khái niệm lịch sử trong dạy
học lịch sử ở trường phổ thông hiện nay 37
1.2.2. Nhận xét chung về thực trạng hình thành khái niệm lịch sử ở
trường THPT hiện nay 41
Chương 2. CÁC KHÁI NIỆM LỊCH SỬ CẦN HÌNH THÀNH TRONG
DẠY HỌC LỊCH SỬ THẾ GIỚI THỜI NGUYÊN THỦY, CỔ ĐẠI
VÀ TRUNG ĐẠI LỚP 10 THPT (CHƯƠNG TRÌNH CHUẨN) 44
2.1. Cơ sở để xác định các khái niệm lịch sử cần hình thành cho học
sinh trong dạy học lịch sử thế giới thời nguyên thủy, cổ đại, trung đại
lớp 10 THPT (Chương trình Chuẩn) 44
2.1.1. Vị trí, mục tiêu khóa trình lịch sử thế giới thời nguyên thủy,
cổ đại và trung đại 44
2.1.2. Nội dung của khóa trình lịch sử thế giới thời nguyên thủy, cổ
đại và trung đại 47
2.1.3. Yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học lịch sử hiện nay 49
2.1.4. Đặc điểm tâm lí và trình độ nhận thức của học sinh THPT 52
2.2. Hệ thống các khái niệm cơ bản cần hình thành cho học sinh trong
3.3.4. Kết quả thực nghiệm 95
KẾT LUẬN 101
TÀI LIỆU THAM KHẢO 104
PHỤ LỤC
1
MỞ ĐẦU
1.1. Giáo dục – Đào tạo được coi là quốc sách hàng đầu trong chính
sách phát triển đất nước Việt Nam hiện nay. Vì thế, Giáo dục - Đào tạo đã
không ngừng đổi mới góp phần to lớn trong việc bồi dưỡng nhân tài, đào tạo
nhân lực cho sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước. Xác định
được tầm quan trọng của sự nghiệp giáo dục, Đảng và Nhà nước ta đã luôn
quan tâm và chỉ đạo kịp thời đổi mới giáo dục cho phù hợp với thực tiễn đất
nước, trong đó đổi mới nội dung và phương pháp dạy học là vấn đề trọng tâm.
Thực chất của việc đổi mới phương pháp dạy học nói chung và phương
pháp DHLS nói riêng hiện nay là phải phát huy cao độ tính tích cực, độc lập,
sáng tạo trong quá trình học tập của HS. Trong Luật giáo dục (2005) đã nêu
rõ: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ
động, sáng tạo của HS; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi
dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện năng lực
vận dụng kiến thức vào thức tiễn”. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần
thứ X của Đảng Cộng sản Việt Nam cũng đã nhấn mạnh: “Tiếp tục đổi mới
mạnh mẽ phương pháp giáo dục, phát huy tính tích cực sáng tạo của người
học, khắc phục lối truyền thụ một chiều”. Trong xu hướng đó, việc HTKN
lý do trên, chúng tôi chọn vấn đề: “Hình thành khái niệm trong dạy học lịch
sử thế giới thời nguyên thủy, cổ đại và trung đại lớp 10 THPT (chương
trình Chuẩn) làm đề tài nghiên cứu của mình.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Liên quan tới đề tài nghiên cứu, những tài liệu mà chúng tôi tiếp cận
được có thể chia thành hai mảng chính: Những kết quả nghiên cứu được công
bố ở ngoài nước và những kết quả nghiên cứu được công bố ở trong nước,
chủ yếu trong những năm cuối thế kỉ XX - đầu thế kỉ XXI. 3
2.1. Những kết quả nghiên cứu ở nước ngoài
Khác với biểu tượng, KN mang tính trừu tượng và khái quát, nó phản
ánh bản chất và những mối liên hệ khách quan của các sự kiện, hiện tượng.
Do đó, hệ thống KN trong đó có KNLS được đưa vào chương trình học tập ở
trường phổ thông là những KN khoa học, nó đảm bảo việc rèn luyện tư duy,
thế giới quan khoa học cho HS.
2.1.1. Trong lĩnh vực giáo dục học
Khi đề cập đến KN, Ph. Ănghen trong tác phẩm “Chống Đuyrinh” đã
khẳng định: “Những kết quả trong đó những kinh nghiệm của nó (khoa học tự
nhiên) được khái quát, là những KN” [3; 74]. Trên cơ sở quan điểm khoa học
về KN của Ph.Ănghen, Lênin trong tác phẩm “Bút kí Triết học” đã đi sâu
phân tích cấu trúc của KN. Mặc dù phần lớn tác phẩm được tác giả dành cho
việc bàn luận về các vấn đề của tư duy của nhận thức trong triết học qua các
thời kì và bàn về quan điểm của các trường phái triết học từ cổ đại đến cận đại
(đến thời gian tác giả sống và làm việc), nhưng vấn đề “KN” vẫn được Lênin
quan tâm bàn đến. Theo Lênin “KN, tức là bản thân sự vật tự nó và vì nó”
[49; 325], đồng thời đã khẳng định tầm quan trọng của KN đối với quá trình
nhận thức của con người “đối với nhà biện chứng thì vấn đề không phải là sự
vận động có tồn tại hay không, mà là thể hiện nó như thế nào trong lô-gich
là sự hiểu biết những dấu hiệu và thuộc tính bản chất, thuộc tính chung của
các sự vật, hiện tượng khác nhau của hiện thực khách quan, những mối liên
hệ, quan hệ giữa chúng”, qua đó HS có thể hiểu sâu hơn về định nghĩa, vai
trò, ý nghĩa, phân loại và các biện pháp HTKN, trên cơ sở đó có thể phân biệt
được sự khác nhau giữa sự vật và hiện tượng [81; 108].
2.1.1. Trong lĩnh vực giáo dục lịch sử
N.G. Đairi trong quyển “Chuẩn bị giờ học lịch sử như thế nào?”, đã
nêu rõ những nguyên tắc cơ bản của việc chuẩn bị giờ học lịch sử ở trường 5
phổ thông, là xác định xem nội dung nào của SGK sẽ đưa vào hay không đưa vào
bài giảng, nội dung nào cần bổ sung, vì sao bổ sung và bổ sung như thế nào? đề
xuất các biện pháp nâng cao hiệu quả giờ học, đặc biệt chú ý đến các giờ học nêu
vấn đề để rèn luyện năng lực nhận thức, độc lập suy nghĩ của HS trong học tập,
sau đó hướng dẫn tổ chức hoạt động nhận thức của HS [26; 30].
Nhìn chung các tác phẩm nêu trên đã giải quyết được những vấn đề
quan trọng sau đây:
Thứ nhất, khẳng định tầm quan trọng của KN và vấn đề HTKN trong
quá trình nghiên cứu, học tập lịch sử.
Thứ hai, xây dựng các cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu vấn đề HTKN
trong DHLS ở trường THPT.
Tuy nhiên, các kết quả nghiên cứu trên chủ yếu đặt ra những vấn đề
mang tính định hướng, chưa chỉ rõ các biện pháp cụ thể cho việc HTKN gắn
liền với một khóa trình lịch sử cụ thể trong chương trình và SGK ở trường
phổ thông.
2.2. Những kết quả nghiên cứu ở trong nước
Ở Việt Nam, vấn đề HTKN trong dạy học nói chung và hình thành
KNLS trong DHLS nói riêng cũng đã sớm được nghiên cứu.
2.2.1. Trong lĩnh vực giáo dục học
một số vấn đề cơ bản trong học tập và nghiên cứu lịch sử như tài liệu, sự kiện
lịch sử, khái quát lý luận trên cơ sở tài liệu - sự kiện nhằm tìm hiểu sâu sắc
toàn diện lịch sử. Các tác giả xem “KN là kết quả của bộ não con người, là kết
quả của những tri thức khoa học về sự vật, kết quả sự vận động của tư duy từ
cụ thể đến trừu tượng, từ ngẫu nhiên đến tất yếu, từ cái đơn nhất đến cái
chung. Trên cơ sở sự kiện chính xác, cơ bản, điển hình sẽ tạo biểu tượng là
lịch sử và từ đó đi đến HTKN” [54; 157].
Trong giáo trình “Những vấn đề chung về bộ môn phương pháp DHLS
ở trường cao đẳng sư phạm”, TS Trần Anh Dũng và PGS.TS Trần Vĩnh 7
Tường đã chỉ ra KNLS là “hình thức tư duy được hình thành trên cơ sở biểu
tượng lịch sử, phản ánh sự nhận thức những đặc trưng cơ bản của các sự kiện,
quá trình lịch sử, giúp HS hiểu đúng, đi sâu vào bản chất lịch sử xã hội loài
người”. Đồng thời khẳng định việc HTKN có ý nghĩa quan trọng đối với việc
DHLS. Trên cơ sở phân loại KNLS, các tác giả đã chỉ ra các nguyên tắc chủ
yếu khi vận dụng vào DHLS ở trường phổ thông [34; 77].
Trong “Sơ thảo phương pháp giảng dạy lịch sử ở trường phổ thông cấp
II - III” [69], các tác giả Lê Khắc Nhãn, Hoàng Triều, Hoàng Trọng Hanh đã
dành chương IV để trình bày vấn đề hình thành KNLS như là một yếu tố
không thể thiếu trong DHLS ở trường phổ thông cấp II-III.
Giáo trình “Phương pháp DHLS” của tác giả Phan Ngọc Liên, Trần
Văn Trị đã trình bày về vấn đề tạo biểu tượng và HTKN, nêu quy luật, rút bài
học lịch sử trong chương VII, qua đó khẳng định “HTKN là vấn đề trung tâm
của việc dạy - học lịch sử ở trường phổ thông” và chỉ ra con đường hình thành
kiến thức lịch sử cho HS phải đi từ cung cấp sự kiện, tạo biểu tượng, HTKN,
nêu quy luật, rút ra bài học lịch sử [59; 199].
Còn trong cuốn“Phương pháp DHLS”, các tác giả Phan Ngọc Liên,
Trịnh Đình Tùng, Nguyễn Thị Côi đã chỉ rõ “KN là sự phản ánh những đặc
tính chất của Cách mạng tháng Tám 1945 trong DHLS ở trường phổ thông”,
[7; 34-36); “Vấn đề HTKN “cách mạng tư sản” trong DHLS thế giới cận đại
ở trường THPT theo hướng phát huy tính tích cực của HS, [8; 77-87); “Các
biện pháp HTKN theo hướng phát huy tính tích cực của HS, [9; 67-77); “Đổi
mới việc HTKN trong DHLS ở trường phổ thông, [11; 111-117) .v.v…
Đặc biệt là trong Luận án Tiến sĩ giáo dục học“HTKN cách mạng tư
sản theo hướng phát huy tính tích cực của HS trong DHLS thế giới cận đại ở
trường THPT”[10, 1-196], tác giả đã trình bày tương đối đầy đủ, có hệ thống 9
về cơ sở lý luận và thực tiễn của việc hình thành KNLS và đề xuất các biện
pháp HTKN “cách mạng tư sản” theo hướng phát huy tính tích cực của HS.
Luận án “Mối quan hệ giữa mục tiêu, nội dung phương pháp trong
DHLS thế giới hiện đại ở trường THPT Việt Nam” [78], của T.S Lê Vinh
Quốc đã chỉ ra “sự liên hoàn chặt chẽ” của bốn trình độ kiến thức trong một
chuỗi học vấn gồm “Các sự kiện và các quá trình riêng biệt, các ý tưởng và
các nguyên lý cơ bản, các KN, các hệ thống tư tưởng”. KN tồn tại trong bốn
trình độ đó.
Ngoài ra một số Luận văn Thạc sĩ cũng đề cập đến việc hình thành
KNLS cho HS qua dạy học một khóa trình cụ thể, tiêu biểu như: “HTKN
trong DHLS Việt Nam giai đoạn 1919 - 1930 ở trường THPT (chương trình
Chuẩn)” [97, 1-77].
Khái quát lại, các công trình nêu trên đã giải quyết những vấn đề quan
trọng sau đây:
Thứ nhất, giải quyết những vấn đề lý luận về quá trình HTKN và các
biện pháp HTKN trong DHLS ở trường THPT như:
- Mối quan hệ giữa việc HTKN với việc cung cấp sự kiện, tạo biểu
tượng lịch sử.
- Mối quan hệ giữa nội dung, phương pháp, phương tiện dạy học và
nguyên thủy, cổ đại và trung đại lớp 10 THPT.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Sưu tầm tập hợp tư liệu lý luận và tư liệu chuyên ngành về KN và
HTKN trong DHLS.
- Xác định cơ sở lý luận và thực tiễn về KN và việc HTKN trong DHLS.
- Nghiên cứu nội dung chương trình SGK Lịch sử lớp 10 THPT
(chương trình Chuẩn).
- Điều tra nhằm tìm hiểu thực trạng DHLS nói chung và thực trạng việc
HTKN nói riêng. 11
- Đề xuất những nguyên tắc và biện pháp sư phạm HTKN cho HS trong
DHLS ở lớp 10 THPT có hiệu quả.
- Thực nghiệm sư phạm để kiểm định tính khả thi của các biện pháp đã
đề xuất.
6. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
6.1. Phương pháp luận nghiên cứu
- Cơ sở phương pháp luận của luận văn là dựa trên quan điểm của Chủ
nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương đường lối của Đảng
Cộng sản Việt Nam về giáo dục, về lịch sử và giáo dục lịch sử.
6.2. Phương pháp nghiên cứu cụ thể
Thực hiện đề tài này chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu
sau đây:
- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết và phương pháp lịch sử
Nghiên cứu tài liệu: Nghiên cứu các văn bản, tài liệu lý luận của các tác
gia kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin, của Hồ Chí Minh, tài liệu văn kiện
Đảng và nhà nước về giáo dục và giáo dục lịch sử và các tài liệu khác có liên
quan đến nội dung nội dung chương trình, SGK Lịch sử THPT hiện hành,
nhất là phần lịch sử thế giới thời nguyên thủy, cổ đại và trung đại lớp 10
phần Lịch sử thế giới thời nguyên thủy, cổ đại và trung đại ở lớp 10 THPT
(chương trình Chuẩn).
9. Cấu trúc của luận văn
Ngoài các mục Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, nội
dung chính của luận văn được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc HTKN trong DHLS ở
trường THPT
Chương 2: Các KNLS cần hình thành trong DHLS thế giới thời
nguyên thủy, cổ đại và trung đại lớp 10 THPT (Chương
trình Chuẩn)
Chương 3: Một số biện pháp HTKN trong DHLS thế giới thời nguyên
thủy, cổ đại và trung đại lớp 10 THPT (Chương trình
Chuẩn). Thực ngiệm sư phạm 13
NỘI DUNG
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC HÌNH THÀNH
KHÁI NIỆM TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG THPT
1.1. Những vấn đề chung về khái niệm và việc hình thành khái
niệm trong dạy học lịch sử ở trường THPT
1.1.1. Khái niệm
1.1.1.1. Định nghĩa khái niệm
Khi giải quyết vấn đề KN, đã có rất nhiều quan niệm khác nhau, thậm
chí là phải trải một quá trình nhận thức lâu dài thì các nhà khoa học mới dần
dần tìm ra được bản chất của KN. Vì vậy, trong nhận thức cũng như trong
nghiên cứu khoa học, chúng ta phải dựa trên cơ sở thế giới quan khoa học của
chủ nghĩa Mác - Lênin và vận dụng một cách linh hoạt, để tránh rơi vào
người: “KN là hình thức của tư duy trong đó phản ánh các dấu hiệu cơ bản,
khác biệt của một sự vật đơn nhất hay lớp các sự vật đồng nhất” [31; 26]. Nói
cách khác, “KN là hình thức cơ bản của tư duy trong đó phản ánh những dấu
hiệu khác biệt cơ bản của sự vật riêng biệt hay lớp các hiện tượng, sự vật nhất
định” [4; 24]. Có thể nói KN là một trong những hình thức cơ bản của tư duy
vì nó là kết quả của sự trừu tượng hóa của tư duy đối với sự vật, hiện tượng
trong hiện thực khách quan, nó phản ánh những thuộc tính bản chất của sự vật
hiện tượng trong hiện thực hoặc những mối liên hệ của chúng.
Do đó, KN có mối liên hệ chặt chẽ với tư duy, ngôn ngữ và từ. Sơ đồ
sau đây sẽ thể hiện mối quan hệ giữa KN với tư duy, ngôn ngữ và từ theo
quan điểm Mác - Lênin:
15 Hnh 1.1. Mối quan hệ giữa tư duy, khái niệm, ngôn ngữ và từ [10; 17].
Nhìn vào sơ đồ ta có thể thấy được mối quan hệ biện chứng giữa KN -
từ - tư duy - ngôn ngữ thể hiện như sau:
Mối quan hệ giữa KN và từ: KN là một phạm trù của lôgic học còn từ
là phạm trù của ngôn ngữ học, giữa KN với từ luôn có mối quan hệ mật thiết
với nhau. Mọi KN đều được hình thành trên cơ sở các từ hoặc cụm từ, tuy
trong đầu óc con người ra để trao đổi giữa người này với người khác, nếu
ngôn ngữ càng phong phú bao nhiêu thì thể hiện nội dung của tư duy càng
đầy đủ bấy nhiêu, ngược lại ngôn ngữ càng nghèo nàn bao nhiêu thì thể hiện
nội dung của tư duy càng không đầy đủ, thiếu chính xác, khô khan và kém
sinh động bấy nhiêu [37; 20].
Theo đó mối quan hệ giữa KN - tư duy và giữa từ - ngôn ngữ tạo thành
hai mối quan hệ cơ sở. Qua định nghĩa của lôgic học về KN thì chúng ta cũng
dễ dàng nhận thấy mối quan hệ giữa KN và tư duy: “KN (concept) là một
trong những hình thức phản ánh thế giới vào tư duy, nhờ nó mà người ta nhận
thức được bản chất của các hiện tượng, các quá trình, qua đó người ta khái
quát được những mặt và những dấu hiệu cơ bản của chúng” [37; 19]. Như
vậy, “KN là hình thức của tư duy trừu tượng, phản ánh một lớp các đối tượng
(sự vật, quá trình và hiện tượng) thông qua các đặc trưng, các dấu hiệu cơ bản
của đối tượng đó”. Vì KN phản ánh những thuộc tính bản chất của sự vật,
hiện tượng mà con người tư duy bằng KN nên muốn tìm ra được bản chất
trong các KN đó con người cần có năng lực nhận thức (tư duy trừu tượng)
cao, ngược lại mỗi sự phát hiện ra bản chất của các sự vật hiện tượng thông
qua KN lại đánh dấu bước phát triển mới của trình độ nhận thức [65; 1].
Còn từ là đơn vị cấu thành ngôn ngữ, đúng hơn từ là phạm trù của ngôn
ngữ, là sự thống nhất giữa âm và nghĩa, không có từ thì không thể có ngôn
ngữ, cũng không thể có phương tiện để thể hiện nội dung của tư duy ra bên
ngoài. “Ngôn ngữ là hiện thực trực tiếp của tư tưởng”, nhờ ngôn ngữ mà tư
duy trừu tượng có thể tồn tại. Còn “từ” ngoài mặt ngữ âm còn có mặt ý nghĩa
tương ứng với cái được gọi là KN trong tư duy. Cả ngôn ngữ và từ đều trở
thành phương tiện biểu đạt KN, trong trường hợp KN về một sự vật, hiện 17
tượng giống nhau, ở trong những ngôn ngữ khác nhau, nó được biểu thị bởi
những từ khác nhau. Ngay trong cùng một ngôn ngữ tồn tại một KN lại có thể
vật, hiện tượng, KN tham gia vào quá trình nhận thức thế giới, được gọi là tư
duy KN. Thứ hai, KN là tri thức về đối tượng, là kết quả nhận thức của con
người về sự vật, hiện tượng. Nhờ có hệ thống KN mà con người ngày càng đi
sâu tìm hiểu về thế giới.
1.1.1.2. Cấu trúc của khái niệm
Xét về cấu trúc lôgic của KN, mọi KN đều được tạo thành từ hai bộ
phận: Nội hàm và ngoại diên. Khi ta định nghĩa một KN nào đó, ta xét nó về
mặt nôi hàm, và khi ta phân chia KN là xét về mặt ngoại diên.
Các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước đã nêu ra nhiều định nhĩa khác
nhau về nội hàm và ngoại diên của KN. Nội hàm KN là “Tổng hợp những dấu
hiệu của các sự vật hay các hiện tượng được phản ánh trong KN” [60; 157], là
“Tập hợp các dấu hiệu cơ bản, đặc trưng của đối tượng, nói lên đối tượng đó
là cái gì” [96; 118], là “Tập hợp những dấu hiệu cơ bản của sự vật hay hiện
tượng được phản ánh trong KN đó” [4; 29], là “Tập hợp các dấu hiệu bản chất
của một loạt đối tượng cùng loại được phản ánh trong KN đó” [33; 52]. Các
định nghĩa trên tuy có những mặt khác nhau nhưng có cùng chung bản chất về
nội hàm KN, đó là tập hợp tất cả những dấu hiệu bản chất, khác biệt của các
đối tượng (sự vật, hiện tượng) được phản ánh trong KN, giúp phân biệt đối
tượng mà nó phản ánh với những đối tượng khác (chính là nội dung hay bản
chất của KN). Như vậy, nội hàm KN chính là tập hợp tất cả các dấu hiệu đặc
trưng về bản chất của đối tượng được phản ánh trong KN.
Ngoại diên của KN là “Tập hợp những sự vật hay hiện tượng có chứa
những dấu hiệu được phản ánh trong KN” [60; 157], là “Tập hợp các đối
tượng chứa những dấu hiệu có trong nội hàm của KN” [96; 118], là “Sự vật,
hiện tượng hay tập hợp những sự vật hay hiện tượng có chứa dấu hiệu được