BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
TRẦN THỊ HỒNG
HƯỚNG DẪN HỌC SINH TỰ HỌC TRONG DẠY HỌC
MÔN CHÍNH TRỊ Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ
CÔNG NGHIỆP THANH HÓA
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
NGHỆ AN – 2013
B GIO DC V O TO
TRNG I HC VINH
TRN TH HNG
HNG DN HC SINH T HC TRONG DY HC
MễN CHNH TR TRNG CAO NG NGH
CễNG NGHIP THANH HểA
Chuyên ngành: Lý luận và PPDH bộ môn giáo dục
chính trị
Mã số: 60.14.10
luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục
Ngi hng dn khoc hc:
TS. TRN VIT QUANG
NGH AN - 2013
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện Luận văn này, tôi đã nhận được sự quan tâm,
giúp đỡ nhiệt tình của các thầy cô giáo khoa Giáo dục Chính trị, các thầy cô giáo
phòng Sau đại học cũng như sự động viên chia sẻ của gia đình, bạn bè và những
người thân, đặc biệt là sự giúp đỡ tận tình, chu đáo, sâu sắc của thầy giáo -
TS. Trần Viết Quang - người đã trực tiếp hướng dẫn tôi thực hiện Luận văn này.
Tất cả những tình cảm đó là nguồn động lực tinh thần vô cùng lớn lao để cổ vũ
và tiếp thêm sức mạnh cho tôi để tôi hoàn thành Luận văn của mình.
Tôi cũng xin được gửi lời cảm ơn đến Ban Giám hiệu, các thầy cô giáo và
thông tin. Trong hoàn cảnh ấy, tri thức mà học sinh, sinh viên tiếp nhận được thông
qua bài giảng của giảng viên trên lớp trở nên ít ỏi. Học sinh, sinh viên đang có xu
hướng vượt ra khỏi bài giảng ở lớp để tìm kiếm, mở rộng, đào sâu tri thức từ nhiều
nguồn khác nhau. Chính vì vậy, tự học ở các trường đại học, cao đẳng trở nên phổ
biến và trở thành một tính chất đặc trưng trong dạy học. Tự học sẽ trở thành mục
tiêu, động lực, phương thức đào tạo trong các trường đại học, cao đẳng để có thể
đào tạo ra những con người lao động sáng tạo, năng động, tự chủ, độc lập để có khả
năng học tập liên tục, suốt đời.
Quá trình dạy học môn Chính trị là quá trình tương tác (tác động, phối
hợp và quy định lẫn nhau) thống nhất biện chứng giữa hoạt động dạy của
giáo viên và hoạt động học của học sinh, sinh viên trong đó giáo viên giữ
vai trò chủ đạo, tổ chức, điều khiển quá trình học tập, kích thích tính tích
1
cực, chủ động, năng động của người học để phát huy vai trò chủ thể nhận
thức của người học. Sinh viên là chủ thể nhận thức trong quá trình học tập.
Trong những năm qua, Trường Cao đẳng Nghề Công nghiệp Thanh Hóa đã
tích cực hưởng ứng, thực hiện chủ trương đổi mới trong giáo dục của Đảng, Nhà
nước và của ngành. Đây được coi là một trong những nhiệm vụ quan trọng
thường xuyên của thầy và trò toàn trường. Trong đó đòi hỏi nhà giáo phải là tấm
gương sáng về tự học, tự đào tạo, vì hơn ai hết họ phải dạy cho học sinh về
phương pháp tự học, tự đào tạo qua đó phát huy tính tích cực, sáng tạo cho cho
sinh viên. Chuyển dần từ cách dạy “tập trung vào người dạy” sang cách dạy “tập
trung vào người học”. Hướng dẫn hoạt động tự học cho học sinh trở thành một
nội dung đổi mới trong nhà trường, nếu được thực hiện tốt sẽ góp phần đổi mới
phương pháp dạy học ở cao đẳng, đại học hiện nay. Nhưng thực tế nó chưa được
quan tâm đúng mức, học sinh còn gặp rất nhiều khó khăn trong việc tổ chức hoạt
động tự học, hiệu quả hoạt động tự học của học sinh chưa cao. Việc dạy học chủ
yếu nhằm cung cấp một khối lượng kiến thức lớn trong các giờ lên lớp, chưa có
sự quan tâm đúng mức đến việc tổ chức hoạt động tự học, tự rèn luyện. Điều đó
không chỉ dẫn đến sự tụt hậu của người học mà còn làm cho họ không tự cập
Nhiều tác giả cũng công bố các bài báo, tài liệu có liên quan đến việc hướng
dẫn tự học, tự nghiên cứu cho sinh viên, chẳng hạn trong giáo trình “Lý luận dạy học
Đại học” đã giành một phần trình bày về tự học ở đại học [20]; tác giả
Nguyễn Lương Bằng, trong bài: “Đổi mới phương pháp dạy học lý luận Mác -
Lênin ở các trường Đại học hiện nay”, Tạp chí Lý luận, số 7/2002; tác giả
Đoàn Minh Duệ, với bài: “Hướng tới việc dạy học môn triết học có hiệu quả hơn”,
Kỷ yếu hội thảo khoa học về đổi mới phương pháp giảng dạy, học tập môn triết
học Mác - Lênin trong các trường Đại học toàn quốc, Hà Nội, 12/ 2002; tác giả
Trần Viết Quang: “Đổi mới phương pháp học triết học nhằm trau dồi tư duy
biện chứng”, Tạp chí Lý luận chính trị và truyền thông, số 8/ 2007. Để phát huy
vai trò của triết học và giảng dạy triết học nhằm trau dồi năng lực tư duy biện
chứng cần có một hệ thống các phương pháp đồng bộ và toàn diện, trong đó đổi
mới phương pháp học của sinh viên là giải pháp hàng đầu như học một cách
toàn diện trên tất cả các khâu: nghe giảng, thảo luận, nghiên cứu khoa học, nắm
3
bắt thông tin; tác giả Bùi Văn Dũng với bài viết: “Tích cực hoá hoạt động học
tập của sinh viên khi học môn triết học Mác - Lênin”, Kỷ yếu hội thảo khoa học
về đổi mới phương pháp giảng dạy học tập môn triết học Mác - Lênin trong các
trường đại học toàn quốc, Hà Nội, 12/ 2002.
Trong những năm gần đây có nhiều Luận văn thạc sĩ, Luận án tiến sĩ cũng
đã đề cập tới vấn đề này ở nhiều khía cạnh và lĩnh vực khác nhau:
Luận án tiến sĩ của tác giả Hoàng Hữu Niềm (năm 2003): “Phương pháp
hướng dẫn tự học phần cơ sở di truyền học cho học viên tại các trung tâm giáo
dục thường xuyên”.
Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Thị Tính (2004), “Các biện pháp tổ
chức hoạt động tự học môn giáo dục học cho sinh viên các trường đại học sư
phạm”.
Luận văn thạc sĩ của tác giả Lê Thị Long (2009), “Hướng dẫn sinh viên tự
học chương trình giáo dục công dân lớp 12 ở trường THPT chuyên Phan Bội
Châu - Nghệ An”.
môn Chính trị ở Trường Cao đẳng Nghề Công nghiệp Thanh Hóa hiện nay.
Tiến hành thực nghiệm sư phạm hướng dẫn học sinh tự học môn Chính trị
ở Trường Cao đẳng Nghề Công nghiệp Thanh Hóa.
Đề xuất quy trình và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hướng dẫn học sinh
tự học nhằm phát huy tính tích cực của học sinh trong dạy học môn Chính trị ở
trường Cao đẳng.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu vấn đề hướng dẫn học sinh tự học trong dạy học môn
Chính trị.
Đối tượng khảo sát: Trường Cao đẳng nghề Công nghiệp Thanh Hoá
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu là học sinh trường Cao đẳng Nghề Công nghiệp Thanh
Hóa qua dạy học môn Chính trị.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận
5
Đề tài dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ
Chí Minh, các quan điểm của Đảng về giáo dục- đào tạo.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận chung của chủ nghĩa duy vật biện chứng
và chủ nghĩa duy vật lịch sử, đề tài còn sử dụng và phối hợp nhiều phương
pháp nghiên cứu trong đó chủ yếu các phương pháp sau:
+ Phương pháp quan sát, khảo sát, điều tra;
+ Phương pháp phỏng vấn, trò chuyện;
+ Phương pháp phân tích tổng hợp, so sánh đối chiếu;
+ Phương pháp thực nghiệm sư phạm;
+ Phương pháp xin ý kiến các chuyên gia.
6. Giả thuyết khoa học
Nếu quan tâm đúng mức và tiến hành hợp lí việc hướng dẫn học sinh tự
Đổi mới phương pháp dạy học là vấn đề thường xuyên, cấp thiết nhằm đáp
ứng những yêu cầu của thực tiễn đặt ra trong nền giáo dục và đào tạo ở mỗi quốc
gia. Trong những phương pháp dạy học tích cực, hướng dẫn học sinh tự học, tự
nghiên cứu là một phương pháp đóng vai trò quan trọng. Khi nói đến vấn đề tự
học, trong các giáo trình tài liệu, các tác giả đã đưa ra các định nghĩa khác nhau:
Nhà tâm lý học N.ARubakin cho rằng: “Tự tìm lấy kiến thức - có nghĩa là tự
học”. Tự học là quá trình lĩnh hội tri thức, kinh nghiệm xã hội, lịch sử trong thực
tiễn hoạt động cá nhân bằng cách thiết lập các mối quan hệ cải tiến kinh nghiệm
ban đầu, đối chiếu với các mô hình phản ánh hoàn cảnh thực tại, biến tri thức của
loài người thành vốn tri thức, kinh nghiệm, kỹ năng, kỹ xảo của chủ thể [33, tr 12].
Chủ tịch Hồ Chí Minh là một tấm gương sáng về tự học. Người cho rằng:
"Tự học là học một cách tự động" và "Phải biết tự động học tập" [29, tr. 32].
Theo Người: "Tự động học tập" tức là tự học một cách hoàn toàn tự giác, tự chủ,
không đợi ai nhắc nhở, không cần ai giao nhiệm vụ, mà tự mình chủ động vạch kế
hoạch học tập, rồi tự triển khai, thực hiện kế hoạch đó một cách tự giác, tự mình
làm chủ thời gian học và việc kiểm tra đánh giá quá trình học của mình.
Tác giả Nguyễn Cảnh Toàn [36, tr. 59,60], khả năng tự học là khả năng tự
mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (như quan sát, so sánh,
phân tích, tổng hợp, ) và có khi cả cơ bắp (khi phải sử dụng công cụ), cùng các
phẩm chất của mình, rồi cả động cơ, tình cảm, cả nhân sinh quan, thế giới quan
(như trung thực, khách quan, có chí tiến thủ, không ngại khó, ngại khổ, kiên trì,
8
nhẫn nại, say mê khoa học, ) để chiếm lĩnh một lĩnh vực nào đó của nhân loại,
biến lĩnh vực đó thành sở hữu của mình. Khả năng đó cần phải được rèn luyện
ngay từ khi học sinh còn ngồi trên ghế nhà trường. Vì vậy, quá trình dạy học phải
bao hàm cả dạy tự học. Dạy tự học là quá trình hoạt động có điều khiển ít nhất ở
hai cấp độ: quản lý và thực hiện. Việc dạy tự học đương nhiên chỉ có thể thực
hiện được trong cách dạy học mà người học là chủ thể, tự họ hoạt động để đáp
ứng nhu cầu của xã hội đã chuyển hoá thành nhu cầu của chính bản thân họ.
Theo tác giả Nguyễn Kỳ: "Tự học là tự đặt mình vào tình huống học, vào vị
học từ kho tàng tri thức của nhân loại, biến những kinh nghiệm này thành kinh
nghiệm và vốn sống của cá nhân người học.
Vì vậy, trong luận văn này, chúng tôi tập trung khai thác khía cạnh tổ chức
hướng dẫn học sinh tự học với tư cách là một phương pháp dạy học.
Nhưng dưới bất cứ góc nhìn nào, tự học đều được xem là sự tự giác, nỗ lực
lớn của người học. Với hoạt động tự học, học sinh có thể làm phong phú thêm
giá trị của mình bằng các thao tác của trí tuệ và cơ bắp nhờ vào ý chí nghị lực và
lòng đam mê tìm tòi, học hỏi nghiên cứu.
Với tất cả những ý nghĩa đó, trong quá trình dạy học ở trường Cao đẳng
Nghề có thể tiến hành hoạt động học dưới nhiều hình thức khác nhau, trong
những điều kiện khác nhau:
Một là, hoạt động tự học của học sinh diễn ra dưới sự điều khiển trực
tiếp của giáo viên và những phương tiện kỹ thuật ở trên lớp. Trong hình thức
này học sinh phải tự phát huy những phẩm chất và năng lực của mình như khả
năng chú ý, óc phân tích, năng lực khái quát hóa, tổng hợp hóa,v.v để tiếp
thu những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo mà giáo viên định hướng cho học sinh.
Hai là, hoạt động tự học của học sinh cũng có thể diễn ra khi không có sự
điều khiển trực tiếp của giáo viên. Ở đây học sinh phải tự sắp xếp quỹ thời gian
và điều kiện vật chất để tự ôn tập, tự củng cố, tự đào sâu những tri thức hoặc tự
hình thành kỹ năng, kỹ xảo ở một lĩnh vực nào đó theo yêu cầu của giáo viên,
hoặc quy định chương trình đào tạo của nhà trường.
10
Ba là, hoạt động tự học của học sinh cũng có thể diễn ra nhằm đáp ứng nhu
cầu hiểu biết riêng khi gặp những tình huống có vấn đề, để bổ sung và mở rộng
tri thức ngoài chương trình đào tạo và cũng không cần có sự điều khiển trực tiếp
của giáo viên. Bởi muốn học được nhiều thì chủ yếu vẫn là tự học, thầy không
thể dạy tất cả những điều cần thiết đối với trò. Vì mỗi học sinh có một vốn tri
thức riêng, có tư duy riêng. Chỉ có tự học mới có tất cả những gì mình muốn
học. Nhưng nếu có sự hướng dẫn, tổ chức của thầy giáo, cô giáo, tự học sẽ đạt
kết quả cao hơn.
của giáo viên nhằm bồi dưỡng cho các em các kỹ năng tự học để có khả năng tự
học suốt đời. Song thực tiễn dạy học bộ môn Chính trị ở trường cao đẳng Nghề
hiện nay cho thấy vấn đề tự học bộ môn Chính trị và việc rèn luyện kĩ năng tự
học môn Chính trị cho học sinh còn chưa được quan tâm đúng mực. Học sinh ít
hào hứng học tập bộ môn, “sợ” bộ môn Chính trị, vì chưa biết phương pháp học
tập, chưa có kĩ năng tự học.
Học tập là một khâu của quá trình dạy học, trong học tập thì “lấy tự học
làm cốt”. Tự học là một vấn đề quan trọng. Bởi vì, tự học là nhân tố nội lực
quyết định chất lượng học tập, còn hoạt động dạy là ngoại lực có tác dụng định
hướng, kích thích, điều khiển và chỉ đạo trực tiếp hoặc gián tiếp quá trình học.
Sản phẩm của quá trình học chính là con người phát triển toàn diện về các
mặt tri thức, phẩm chất đạo đức và kĩ năng, kĩ xảo. Đó cũng là quá trình hướng
tới sự phát triển của chủ thể hoạt động học, thông qua các hành động khám phá
lại và dần dần lĩnh hội được kho tàng tri thức của nhân loại, biến thành tri thức
của nhân loại, biến thành tri thức của bản thân mình. Trên cơ sở đó tự bồi dưỡng
phẩm chất, đạo đức rèn luyện các kĩ năng, kĩ xảo. Trong quá trình học, hoạt
động tự học giữ một vai trò đặc biệt quan trọng. Các Mác đã ghi rõ “sự hình
thành con người không chỉ là kết quả của những tác động bên ngoài mà là một
quá trình hiện thực khách quan của sự thay đổi, tự chuyển hóa” [28, tr.28]. Do
đó, Mác – Ăngghen đã nêu ra yêu cầu con người phải được phát triển toàn diện
bằng hoạt động thực tiễn sinh động.
12
Quá trình dạy học chỉ có kết quả khi người học tự nỗ lực, tự học để nắm
vững những tri thức mà nhân loại đã tích lũy được, tức là việc “tự chuyển hóa”
như Mác nói.
Xuất phát từ sự quan tâm đặc biệt tới giáo dục, nhất là đối với thế hệ trẻ,
Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhắc nhở phải coi trọng phát triển toàn diện học
sinh. Người cho rằng mục đích tối thượng của giáo dục là “Nhằm đào tạo những
người kế tục sự nghiệp cách mạng to lớn của Đảng và nhân dân ta” [29, tr.12] và
nền giáo dục đó phải phát triển toàn diện những năng lực sẵn có của học sinh,
đã cho rằng: “Bất phẫn, bất phỉ, bất phát; cử nhất ngung bất dĩ, tam ngung phản,
trì bất phục dã”, có nghĩa là: nếu không biết phẫn uất (tha thiết mong học hỏi cái
gì) thì không chỉ dẫn cho; nếu không lâm vào thế bí “không tự tìm hiểu được”
thì cũng không chỉ bảo cho, chỉ ra cho biết một góc mà không lấy nó để suy ra
ba góc còn lại thì không dạy nữa. Khổng Tử đòi hỏi học trò phải biết phát huy trí
tuệ, thể hiện qua lòng ham muốn hiểu biết, ham muốn học hỏi, tự học, tự tìm tòi
và biết suy nghĩ vận dụng kiến thức đã học để hiểu biết kiến thức mới.
Tác giả Đặng Vũ Hoạt cho rằng “Tự học là một hình thức hoạt động nhân
thức của cá nhân nhằm nắm vững hệ thống tri thức và kĩ năng do chính bản thân
người học tiến hành ở trên lớp hoặc ở ngoài lớp, hoặc không theo chương trình
và sách giáo khoa đã được quy định. Tự học có quan hệ chặt chẽ tới quá trình
dạy học, nhưng có tính độc lập cao và mang đậm nét sắc thái cá nhân”
[20, tr.174], Tác giả Thái Duy Tuyên khẳng định rằng “Tự học là hoạt động độc
lập chiếm lĩnh kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo…và kinh nghiệm lịch sử xã hội loài
người nói chung và của chính bản thân người học” [40, tr, 302 -303].Từ nghiên cứu chúng ta có thể hiểu, tự học là một bộ phận của việc học tập,
là sự nỗ lực của mỗi cá nhân nhằm đạt đến một mục đích nào đó trên con đường
chiếm lĩnh kho tàng tri thức của nhân loại. Sự nỗ lực đó của con người bao gồm
cả tư duy, trí tuệ, động cơ tâm lí, thái độ tình cảm. Hay nói cách khác tự học là
cách học với sự tự giác, tính tích cực và độc lập cao của từng cá nhân. Kết quả
tự học cao hay thấp phụ thuộc vào năng lực của mỗi con người.
14
Hoạt động tự học diễn ra dưới nhiều hình thức:
Tự học dưới sự hướng dẫn của thầy như tự học của học sinh, sinh viên,
thực tập sinh, nghiên cứu sinh;
Tự học không có sự hướng dẫn của thầy – Trường hợp này thường liên
quan đến những người đã trưởng thành;
Tự học trong cuộc sống – Thường gặp ở các nhà văn, các nhà văn hóa, các
thần lao động cần cù. Khi có khả năng tự học bộ môn Chính trị học sinh không
chỉ nắm vững, hiểu sâu kiến thức, các kĩ năng học tập bộ môn mà còn có phẩm
chất của người lao động: kiễn nhẫn, tự tin, cần cù và sáng tạo.
Thực tiễn cuộc sống cho thấy, người được coi là có năng lực tự học trước
hết phải có thái độ lao động đúng đắn, luôn bổ sung, hoàn chỉnh thế giới quan
riêng của mình trên cơ sở vận dụng linh hoạt, nhanh nhạy và mềm dẻo của tư
duy. Năng lực đó vừa thể hiện ở dạng tư chất con người vừa là kết quả của quá
trình nỗ lực rèn luyện trong lĩnh hội những tri thức khoa học, hay năng lực tự
học là khả năng tự mình tìm tòi nhận thức và vận dụng kiến thức vào tình huống
mới hoặc tương tự với chất lượng cao.
Từ những vấn đề nêu trên chúng ta có thể khẳng định, nói đến năng lực tự
học nói chung, năng lực tự học bộ môn Chính trị nói riêng là nói đến tri thức của
người học về phương pháp tự học, các kỹ năng, kinh nghiệm tự học và thái độ, ý
chí, tinh thần trong tự học. Chính vì vậy, năng lực tự học được coi là một nguồn
nội lực quí giá tiềm ẩn trong bản thân mỗi người. Kỹ năng tự học nói chung, kỹ
năng tự học bộ môn Chính trị nói riêng là một thành tố quan trọng cấu thành
năng lực tự học.
Theo Từ điển tiếng Việt “kĩ năng là khả năng vận dụng những kiến thức đã
thu nhận được trong một lĩnh vực nào đó áp dụng vào thực tế [42].
Theo các nhà tâm lý học, giáo dục học người có kĩ năng về một hành động
nào đó là người phải có:
Trí thức về hành động, trong đó bao gồm: mục đích, cách thức thực hiện
hành động, các điều kiện thực hiện hành động;
Thực hiện hành động đúng với yêu cầu của nó;
Đạt được hiệu quả của hành động như mục đích đã đề ra;
16
Có thể hành động đạt kết quả với những hành động tương tự trong những
điều kiện khác.
Như vậy, có thể hiểu kĩ năng là sự thực hiện có kết quả một hành động nào
đó bằng cách vận dụng những kiến thức, những kinh nghiệm đã có để hành động
thế sẽ mang lại hiệu quả thiết thực. Nghiên cứu của các nhà tâm lý đã chứng minh
được rằng năng lực của mỗi cá nhân được hình thành và phát triển chủ yếu trong
quá trình hoạt động và giao lưu. Con đường tối ưu nhất, có hiệu quả nhất để nâng
cao chất lượng đào tạo và đạt được mục tiêu giáo dục - đào tạo là: Học bằng hoạt
động tự học, tự nghiên cứu của học sinh, thông qua chính hoạt động tự lực, chiếm
lĩnh kiến thức mà hình thành năng lực và thái độ cho học sinh.
Giúp học sinh học cách học: Cách học là cách tác động của chủ thể đến đối
tượng học, hay là cách thực hiện hoạt động học. Có ba cách học cơ bản: Học cá
nhân tức là tự nghiên cứu; học thầy, học bạn tức là học tập hợp tác; học từ thông
tin phản hồi tức là cách tự kiểm tra, tự điều chỉnh. Các cách học có quan hệ với
nhau, chẳng hạn như tự học, tự nghiên cứu hỗ trợ cho cách học hợp tác và tự đánh
giá, điều chỉnh, làm tăng khả năng tiếp cận và xử lý thông tin. Vì vậy nó giúp cho
cách học của học sinh có hiệu quả hơn. Trong xu thế toàn cầu hoá, học tập suốt
đời là yêu cầu để hướng tới xây dựng một xã hội học tập. Đồng thời nó cũng là
chìa khoá nhằm vượt qua những thách thức của thời đại, với bốn mục tiêu: học để
làm, học để biết, học để chung sống và học để làm người. Quan niệm "học tập
suốt đời" sẽ giúp con người đáp ứng được những đòi hỏi của xã hội thay đổi ngày
một. Điều mà "không thể thoả mãn những đòi hỏi đó được, nếu mỗi người không
học cách học" [4, tr 47]. Trong đó, học cách học chính là học cách tự học.
Giúp học sinh cách tiếp cận nghiên cứu: Khi hướng dẫn và giúp học sinh tự
học, giáo viên phải yêu cầu học sinh học tập và làm việc với tác phong của một
người nghiên cứu (sắp xếp, phân loại, so sánh đối chiếu, phân tích, tự tìm ví dụ
minh họa, ) với những yêu cầu đó, qua quá trình tự học, tự nghiên cứu và các
hoạt động hợp tác, học sinh học và rèn luyện được nhiều năng lực phẩm chất,
giúp họ có thể tiếp tục tự học, tự nghiên cứu về sau và tự nghiên cứu suốt đời. Từ
18
đó học sinh có khả năng phát hiện, giải quyết vấn đề và đặc biệt là có tác phong
công nghiệp, tư duy độc lập, sáng tạo.
Giúp học sinh nâng cao phẩm chất, rèn luyện tính cách: Hoạt động học tập
của học sinh là quá trình tự giác, tích cực, chủ động chiếm lĩnh tri thức khoa học
cần thiết ảnh hưởng tới chất lượng và hiệu quả học tập. Khi quan niệm về tổ
chức, hướng dẫn quá trình dạy học, có rất nhiều quan niệm khác nhau.
I.P.Raptrenco cho rằng: “Hướng dẫn quá trình dạy học là quá trình thực hiện
những biện pháp có cơ sở khoa học nhằm đảm bảo hiệu suất cao nhất của quá
trình dạy học với điều kiện sử dụng hợp lý thời gian, sức lực, phương tiện của
giáo viên và học sinh”. Còn theo V.B.Bololepov thì: “Tổ chức là một sự sắp xếp
tương hỗ và liên hệ qua lại của các yếu tố trong một phức hợp nào đó. Tổ chức
không phải là nội dung của hoạt động mà là hình thức và phương pháp thực hiện
và hành động của nó”. Như vậy, theo các tác giả thì tổ chức, hướng dẫn dạy học
là sự sắp xếp các thao tác, các hành động dạy học.
Từ đó ta có thể hiểu tổ chức, hướng dẫn hoạt động học tập cho học sinh là
cách thiết kế, sắp xếp các biện pháp hoạt động phối hợp chung giữa giáo viên và
học sinh trong học tập trên lớp và ở nhà, theo quy chế học tập, dưới sự chỉ đạo
của nhà trường nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả của hoạt động học tập.
Vận dụng những quan điểm nêu trên vào việc tổ chức, hướng dẫn hoạt
động tự học cho học sinh , chúng tôi cho rằng: Hướng dẫn hoạt động tự học cho
học sinh là quá trình thiết kế, sắp xếp các biện pháp tổ chức giảng dạy của giáo
viên nhằm tiến hành hướng dẫn, điều khiển, chỉ đạo cách tự thiết kế, tự sắp xếp
các biện pháp hoạt động tự học, tự nghiên cứu của học sinh, giúp học sinh phát
huy tới mức cao nhất năng lực tự học, tự nghiên cứu của mình, thực hiện tốt
mục đích và nhiệm vụ học tập đề ra.
Bản chất của việc hướng dẫn hoạt động tự học cho học sinh là sắp xếp và
tiến hành các biện pháp dạy học sao cho phát huy được tính tích cực, tính tự giác
của người học ở mức độ cao nhất. Vì vậy, có thể nói rằng hướng dẫn hoạt động tự
học cho học sinh là quá trình tiến hành các biện pháp nhằm tích cực hóa hoạt
động học tập của học sinh trong quá trình lĩnh hội tri thức và rèn luyện nghiệp vụ
ở trên lớp, ở nhà.
20
1.1.2.2. Yêu cầu của hướng dẫn sinh viên tự học
a. Yêu cầu đối với giáo viên: