Đánh giá tiềm năng và hiệu quả sản xuất một số giống lúa chất lượng cao tại huyện Đô Lương tỉnh Nghệ An - Pdf 29

i
MỤC LỤC
ii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
% Phần trăm
BNN Bộ Nông nghiệp
cm Centimet
o
C Độ C
DT Diện tích
đ Đồng
Đ/C Đối chứng
ĐVT Đơn vị tính
FAO Tổ chức lương thực và Nông nghiệp Liên hiệp quốc
g Gram
ha Hecta
IRRI Viện lúa quốc tế
kg Kilôgam
KHKT Khoa học kỹ thuật
KN Khuyến nông
m
2
Mét vuông
mm Milimet
NN & PTNT Nông nghiệp và phát triển nông thôn
NNVN Nông nghiệp VIệt Nam
NS Năng suất
NSLT Năng suất lý thuyết
NSTT Năng suất thực thu
NXB Nhà xuất bản
PGS TS Phó giáo sư Tiến sỹ

trọng trong đời sống kinh tế, chính trị và xã hội ở những nước lấy lúa gạo là
nguồn lương thực chính.
Đô Lương là một huyện đồng bằng nằm ở phía tây bắc của tỉnh Nghệ An,
có 33 đơn vị hành chính, dân số hơn 200 ngàn người, cách thành phố Vinh 75 km
về phía Tây bắc, trên địa bàn huyện có quốc lộ 15, Quốc lộ 46 và Quốc lộ 7 đi
qua; Sông Lam chảy qua Đô Lương với hơn 15 km, với vị trí địa lý tương đối
thuận lợi nên Đô Lương có cơ hội giao lưu với thị trường bên ngoài, tiếp cận với
các tiến bộ khoa học kỹ thuật; đời sống vật chất không ngừng được nâng cao,
nhu cầu sử dụng gạo có chất lượng trong bữa ăn hàng ngày có xu hướng tăng
cao.
2
Tổng diện tích tự nhiên của huyện là 35.008,4 ha, trong đó diện tích trồng
lúa là 7.822,9 ha (chiếm 22 % diện tích đất tự nhiên). Hàng năm diện tích lúa
gieo trồng 2 vụ là vụ Xuân và vụ Hè Thu. Việc khai thác sử dụng đất trong vụ
Xuân và vụ Hè Thu hiện nay ở Đô Lương đang được thực hiện theo hướng
chuyển đổi cơ cấu cây trồng, nhằm nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả
kinh tế góp phần vào việc nâng cao đời sống cho nhân dân, giải quyết nhu cầu
lương thực, nhất là gạo có chất lượng cho người dân, tận dụng nguồn lao động
sẵn có, ngoài ra khai thác đất 2 vụ gieo trồng bằng các giống lúa chất lượng cao
cũng là góp phần làm thay đổi tập quán, phương thức sản xuất tự cung, tự cấp,
chuyển sang sản xuất hàng hoá của một bộ phận nông dân, nông thôn, đó là
những mặt tích cực mà việc chuyển dịch cơ cấu sản xuất nhất là chuyển dịch cơ
cấu giống lúa trong nông nghiệp đem lại cho nông dân.
Tuy nhiên, do bước đầu triển khai thực hiện việc chuyển đổi cơ cấu cây
trồng, nhất là giống lúa chất lượng cao còn gặp phải khó khăn đó là thay đổi tập
quán của người dân, khi họ chỉ biết sản xuất ra các sản phẩm tự cung, tự cấp, họ
ít quan tâm đến sản xuất hàng hoá. Mặt khác, người dân chủ yếu trồng các giống
lúa thuần, hoặc lúa lai năng suất cao nhưng chất lượng gạo hạn chế, thiếu bộ
giống tốt, do đó diện tích lúa chất lượng cao tại Đô Lương còn ít, năng suất thấp
và hiệu quả kinh tế mang lại không cao. Cơ cấu giống lúa chất lượng tại địa bàn

đánh giá hiệu quả và nhân rộng. Xuất phát từ tình hình trên tôi thực hiện đề tài:
“Đánh giá tiềm năng và hiệu quả sản xuất một số giống lúa chất lượng
cao tại huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An”
2. Mục đích nghiên cứu
Đánh giá được tiềm năng sản xuất lúa chất lượng cao của huyện Đô
Lương, đồng thời chọn được những giống lúa mới có thời gian sinh trưởng phù
hợp, có năng suất cao, ổn định, chất lượng tốt, có khả năng chống chịu sâu bệnh
và thích ứng với điều kiện sinh thái để bổ sung vào cơ cấu giống của địa phương.
3. Nội dung nghiên cứu
- Đánh giá tiềm năng sản xuất lúa chất lượng cao của huyện Đô Lương.
- Đánh giá hiệu quả sản xuất một số giống lúa chất lượng cao trồng thử
nghiệm tại huyện Đô Lương.
4
4. Ý nghĩa nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
4.1. Ý nghĩa khoa học
- Nghiên cứu xác định được thời gian sinh trưởng, phát triển, khả năng
thích ứng, năng suất của các giống lúa chất lượng cao.
- Làm cơ sở cho việc đề xuất hướng chuyển dịch cơ cấu giống cây trồng
theo hướng sản xuất hàng hoá.
4.2. Ý nghĩa thực tiễn
- Lựa chọn được một số giống lúa có chất lượng cao, thích ứng với điều
kiện sinh thái, có khả năng chống chịu sâu bệnh, cho năng suất và hiệu quả kinh
tế cao, khuyến cáo nhân rộng mô hình với qui mô hợp lý.
- Đa dạng hoá thêm bộ giống lúa chất lượng cao tại địa phương, góp phần định
hướng cho nông dân chuyển từ sản xuất tự cung, tự cấp sang sản xuất hàng hoá.
- Đề tài mang tính ứng dụng cao, được ứng dụng vào thực tiễn sản xuất
góp phần làm thay đổi tập quán sản xuất tự cung, tự cấp, chuyển sang sản xuất
hàng hoá của nông dân.
5
Chương 1. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

giá khả năng thích ứng, độ đồng đều, tính ổn định, khả năng chống chịu sâu,
bệnh, mức độ chịu chua, mặn, khả năng cho năng suất, hiệu quả kinh tế của
giống đó so với các giống đang gieo trồng đại trà hiện có tại một khu vực hoặc
một địa phương nào đó.
1.2. Những căn cứ để xây dựng đề tài
- Đảng và nhà nước ta có nghị quyết về nông nghiệp, nông dân, nông thôn:
Xác định nông nghiệp, nông dân, nông thôn có vị trí chiến lược trong sự nghiệp
công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, là cơ sở quan trọng
để phát triển kinh tế - xã hội bền vững, giữ vững ổn định chính trị, đảm bảo an
ninh, quốc phòng, giữ gìn, phát huy bản sắc văn hoá dân tộc và bảo vệ môi
trường sinh thái của đất nước.
- Đảm bảo được mục tiêu về an ninh lương thực quốc gia trong mọi
tình huống, từng bước cải thiện chất lượng bữa ăn, chuyển nhu cầu từ ăn
no sang ăn ngon.
- Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (PTNT), các Viện nghiên cứu
nông nghiệp trung ương, các viện nghiên cứu vùng, các Sở Nông nghiệp và Phát
triển nông thôn các tỉnh, các Trung tâm giống trực thuộc các Sở Nông nghiệp và
Phát triển nông thôn, đã rất quan tâm đến công tác phục tráng giống đặc sản,
giống nhập nội và chọn tạo các giống lúa chất lượng cao phục vụ tiêu dùng trong
nước và xuất khẩu.
- Căn cứ vào những tiến bộ khoa học công nghệ (KHCN) để phát triển
nông nghiệp hàng hoá đa dạng, đáp ứng nhu cầu đòi hỏi ngày càng cao của
người tiêu dùng. Vì vậy cần bố trí những vùng trồng lúa chất lượng cao chuyên
canh của cả nước.
- Căn cứ vào nghị quyết của đại hội Đảng bộ huyện Đô Lương khóa XIX
về việc thực hiện chủ trương chuyển dịch cơ cấu cây trồng trên địa bàn huyện
Đô Lương.
- Dựa trên nhu cầu thị hiếu của người tiêu dùng và việc tiêu thụ sản phẩm
7
lúa gạo chất lượng cao ngày càng tăng lên ở địa phương.

thuận hòa. Cơ quan FAO ở Rome đã đánh giá năm 2011, sản lượng lúa đạt đến
721 triệu tấn, 481 triệu tấn gạo, tăng 24 triệu tấn (3 %) so với 2010 [30].
Bảng 1.1. Diện tích và sản lượng lúa gạo thế giới 2005-2012
Năm
Diện tích
(1000 ha)
Năng suất
(tạ/ha)
Sản lượng
(1000 tấn)
2005 154.944,44 40,94 634.391,23
2006 155.250,03 41,30 641.239,84
2007 154.985,98 42,40 657.149,81
2008 157.654,87 43,71 689.043,76
2009 158.367,65 43,24 684.779,90
2010 153.652,01 43,74 672.015,59
2011 163.146,98 44,29 722.559,58
2012 163.463,01 43,95 718.345,38
Nguồn: http//:faostat.fao,2005 - 2012
Phần lớn sự gia tăng này do sản xuất thuận lợi tại Ấn Độ, Ai Cập,
Bangladesh, Trung Quốc và Việt Nam, vượt hơn số lượng từ Indonesia,
Madagascar, Pakistan, Philippines và Thái Lan. Sự gia tăng còn do diện tích
trồng lúa thế giới tăng lên 164,6 triệu ha tăng 2,2 % và năng suất bình quân cũng
tăng nhẹ lên mức 4,38 tấn/ha, tức tăng 0,8 % trong hơn 1 năm vừa qua [30].
Châu Á sản xuất 651 triệu tấn lúa (435 triệu tấn gạo) tăng 2,9 % so với
2010; dù có nhiều trận bão lớn xảy ra ở Philippines và lũ lụt nặng nề kéo dài ở
Campuchi, Lào, Myanmar và Thái Lan. Sự gia tăng lớn này chủ lực do Ấn Độ và
Trung Quốc, với sự tham gia ở mức độ thấp hơn từ Bangladesh, Hàn Quốc, Nhật
Bản, Pakistan và Việt Nam.
Châu Phi sản xuất lúa khoảng 26 triệu tấn lúa (17 triệu tấn gạo), cao hơn

Pakistan và Trung Quốc giảm bớt xuất khẩu [29].
Viễn cảnh giao dịch lúa gạo thế giới năm 2012 có thể giảm đôi chút,
khoảng 500.000 tấn gạo. Theo dự báo của FAO, giao dịch này chỉ đạt 33,8 triệu
10
tấn do nhu cầu châu Á giảm bớt chút ít. Về mặt xuất khẩu, Thái Lan giảm xuất
khẩu từ 10,3 triệu tấn gạo xuống 8,2 triệu tấn 2012, do tình trạng ngập lụt nặng
và thay đổi chính sách lúa gạo. Ấn Độ sẽ bù đắp giảm sút này của Thái Lan.
Theo dự đoán, các nước Pakistan, Trung Quốc, Úc Châu và Việt Nam sẽ tăng
xuất khẩu vào những năm tới. Còn Argentina, Brazil, Hoa Kỳ, Myanmar và
Uruguay sẽ giới hạn xuất khẩu [30].
Sử dụng lúa gạo thế giới 2011-2012 đạt đến 479 triệu tấn gạo, tăng 9,7
triệu tấn hay 2 % hơn năm vừa qua. Số lượng tiêu dùng này gồm có 397 triệu tấn
dành cho thức ăn, 12 triệu tấn cho nuôi gia súc, và sự dụng khác như làm giống,
chế biến và thất thoát sau thu hoạch khoảng 61 triệu tấn hay 3 %. Khẩu phần
thức phẩm trung bình tăng từ 56,5 kg/người/năm trong 2010 lên 56,8 kg 2011.
Riêng tại các nước phát triển khẩu phần tăng thêm 0,4 kg lên mức 67,8 kg và tại
các nước phát triển giảm 1 % còn 12,2 kg mỗi năm. Gạo tồn trữ 145 triệu tấn
trong 2011, tăng 10,5 triệu tấn hay 8 % so với 2010, số lượng này có thể cung
cấp 30 % nhu cầu thế giới. FAO gạo tồn trữ tăng thêm 4 triệu tấn đến 149 triệu
tấn trong 2012 [30].
Giá gạo thế giới đạt đỉnh cao 570 USD/tấn vào tháng 12/2010 và tháng
1/2011, bắt đầu giảm từ tháng 2 đến tháng 5/2011 (500 USD /tấn) do thu hoạch
mùa lúa đông xuân ở châu Á. Từ tháng 6 đến tháng 11/2011, giá gạo tăng cao trở
lại (630 USD /tấn) do lũ lụt tại một số nước châu Á, và Chính phủ Thái Lan đưa
ra chính sách tăng giá lúa gạo hỗ trợ nông dân kể từ 7/10/2011, với 502 USD cho
mỗi tấn gạo trắng premium và 667 USD cho gạo thơm, tức tăng 66 và 33 % so
với thời điểm bấy giờ, theo thứ tự. Vào tháng 9/2011, giá gạo Việt Nam và
Indonesia tăng 32 % và 12 % so với tháng trước. Vào cuối tháng 11/2011, giá
gạo Việt Nam 5 % tấm là 560 USD /tấn và 25 % là 510 USD /tấn [28].
Ấn Độ đang trở lại thị trường quốc tế với sức cạch tranh cao do giá gạo

12
Pháp thuộc) vào năm 1942; trong đó Nam kỳ chiếm gần 50 % tổng số diện tích
cả nước, Bắc kỳ 27 %, Trung kỳ 23 % [3].
Năng suất lúa bình quân cả nước tăng chậm, khoảng 1,2 tấn/ha trong 50
năm đầu của thế kỷ 20. Miền Bắc luôn dẫn đầu về năng suất (1,4 tấn/ha). Đầu
thập niên 1960, năng suất lúa Việt Nam đạt 1,9 tấn /ha do nông dân bắt đầu sử
dụng phân bón hóa học, công tác tuyển chọn lúa được Đảng và nhà nước quan
tâm các nhà khoa học vào cuộc đã nâng sản lượng lúa đạt 9 triệu tấn/năm.
Cách mạng xanh được thực hiện trên thế giới từ giữa những năm 1960 -
1970. Việt Nam là một trong những nước tiên phong của phong trào này. Năm
2000, diện tích lúa được tưới chiếm 65 %, và đạt 85 % hiện nay; đó là tiền đề
quan trọng cho sự tăng năng suất lúa. Giống lúa IR8 được du nhập rất sớm vào
miền Nam với tên gọi Thần Nông 8, sau đó phát triển ở miền Bắc với tên gọi
Nông Nghiệp 8. Dạng hình cây lúa có lá thẳng đứng, không cảm quang, nằng
suất cao (5 đến 6 tấn/ha và có thể đạt 8 đến 9 tấn/ha) đã được phát triển thay thế
dần giống lúa cổ truyền địa phương.
Từ năm 1986 tới nay Việt Nam bắt đầu đổi mới phương thức sản xuất
nông nghiệp theo hướng phát triển kinh tế hộ gia đình. Cơ chế này thúc đẩy
ngành nông nghiệp phát triển, đạt được nhiều thành tựu to lớn và được xem như
một điểm son trong phát triển nông nghiệp của thời kỳ đổi mới. Bước phát triển
đó đã đưa nước ta từ nước phải nhập khẩu lương thực trở thành nước xuất khẩu
lương thực đứng thứ hai trên thế giới vào cuối những năm 90 của thê kỷ XX.
Năng suất lúa bình quân toàn quốc hiện nay dẫn đầu các nước Đông Nam Á.
Hiện nay nước ta đã xuất khẩu gạo sang 85 nước trên thế giới, trong đó
châu Á và châu Mỹ là thị trường tiêu thụ lớn nhất. Nhưng vấn đang tồn tại là: Độ
bạc bụng lớn, chiều dài hạt gạo ngắn, hương vị kém, làm cho giá trị xuất khẩu
gạo của Việt Nam chưa cao. Nguyên nhân sâu xa của tình trạng này là chưa có
bộ giống chất lượng cao, chống chịu sâu bệnh tốt. Trong khi đó, xu hướng yêu
cầu gạo chất lượng cao trên thị trường châu Á và châu Mỹ ngày càng tăng. Bên
13

14
Việt Nam làm nông nghiệp. Hầu hết nông dân vẫn coi công việc trồng lúa đem
lại nguồn thu nhập chính của họ.
Trong những năm gần đây, tuy diện tích trồng lúa có xu hướng giảm dần từ
7,666 triệu ha năm 2000 xuống còn 7,440 triệu ha năm 2009 nhưng năng suất lại từ
4,243 tấn/ha năm 2000 lên 5,229 tấn/ha năm 2009 do đó sản lượng lương thực đã
tăng từ 32,530 triệu tấn năm 2000 lên 38,896 triệu tấn vào năm 2009 không những
đảm bảo an ninh lương thực trong nước mà còn xuất khẩu thứ nhất trong năm 2012.
Việt Nam vẫn là một trong những nước xuất khẩu gạo lớn nhất, điều đó
được chứng minh bằng việc Việt Nam tiếp tục giành nhiều lợi thế cạnh tranh trong
sản xuất gạo so với những nhà sản xuất khác và lợi thế này phát triển mạnh đối với
sản phẩm gạo chất lượng cao. Tuy nhiên, vẫn còn những câu hỏi đặt ra là làm thế
nào để gạo đạt được chất lượng cao và duy trì tốc độ xuất khẩu như hiện nay.
Trong nghiên cứu về hệ thống sản xuất nông nghiệp hàng hóa phải được bắt
đầu bằng công tác đánh giá các điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, hiện trạng
canh tác là hết sức quan trọng. Việc cải tiến những hệ thống canh tác được các nhà
khoa học nông nghiệp nước ta quan tâm, nghiên cứu, bước đầu đạt được nhiều kết
quả tốt. Cải tiến cơ cấu cây trồng trong thời gian tới cần nghiên cứu bố trí lại hệ
thống cây trồng thích hợp với các điều kiện đất đai và chế độ nước khác nhau, phải
áp dụng các biện pháp kỹ thuật tổng hợp nhằm khai thác cao nhất các nguồn lợi tự
nhiên, lao động và sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn đầu tư, đa dạng giống cây
trồng (Trần Đình Long 1997) [11].
Cũng theo tác giả này thì giống cây trồng là tư liệu sản xuất sống, có liên
quan chặt chẽ với điều kiện ngoại cảnh, có vai trò quan trọng trong thương mại hóa
sản phẩm nông nghiệp. Để tăng năng suất, chất lượng cần tác động các biên pháp kỹ
thuật thích hợp theo yêu cầu của giống. Sử dụng giống tốt là một biện pháp để tăng
chất lượng và ít tốn kém.
Điều kiện sản xuất nông nghiệp ở nước ta còn nhiều khó khăn, chịu nhiều rủi
ro như: Bão, lụt, hạn hán, sâu bệnh, làm cho năng suất, chất lượng cây trồng thấp
và không ổn định, ảnh hưởng đến thị trường tiêu thụ hàng nông sản của nước ta. Do

16
được chất lượng tương tự Khao Daxk Mali 105.
Giống Thái Jasmine được duy trì trong sản xuất ở Thái Lan trong nhiều
năm. Jasmine là giống lúa thơm, hạt thon dài, chiều dài hạt ≥7mm, sau khi nấu
cơm trắng bóng, thơm ngon và hơi dính.
Trong số 6 loại gạo chất lượng chính trên thị trường thế giới, Thái Lan có
bốn loại đó là: Indica hạt dài chất lượng tốt, Indica hạt dài trung bình chất lượng
tốt, lúa thơm và lúa nếp hoặc lúa dẻo dính.
Ở Đài Loan do nhu cầu tiêu dùng của người dân địa phương, ngày nay
người ta trồng khoảng 90 % là lúa Japonica. Các giống chủ lực ở Đài Loan hiện
nay gồm các giống thuộc nhóm Japonica như: Tainung 67, Taikeng 8, Taikeng 9,
Tainan 5 , giống lúa chất lượng thơm: Tainungsen 20, Tainung 72, Taikeng 4.
Các giống đặc sản như: Taichungsen 1, Taichungsen 2 (Shi Shiung Chen and
Ten Ming Chu, 2001) [26].
Trung Quốc hiện nay, ngoài mục tiêu chọn tạo các giống lúa siêu cao
sản, việc chọn giống lúa cải tiến có năng suất, chất lượng tốt và các giống lúa
lai vừa có năng suất cao vừa có chất lượng tốt cũng đang được chú trọng. Cải
tiến dạng hạt và hàm lượng amylose của các giống lúa loại Indica và Japonica
hiện là mục tiêu chính của chương trình tạo giống lúa chất lượng ở Trung Quốc
ngày nay. Một số giống lúa chất lượng tốt đang được gieo trồng phổ biến ở đây
như: Zhongyouzao3; Zhong-xiang1; Changsi-han; Shengtai1; Fengbazhan;
Nanjing-yuxian. Hầu hết các giống lúa này đều có dạng hạt thon, chất lượng
xay xát tốt, gạo trắng trong, hàm lượng amylose từ thấp đến trung bình, độ bền
gel mềm (chiều dài gel từ 63-100). Trong tương lai, Trung Quốc sẽ tiến hành
chương trình chọn tạo giống lúa có năng suất siêu cao nhưng đồng thời có chất
lượng tốt, dạng hạt đẹp [27].
Giống lúa Koshihikari là một giống lúa chất lượng cổ truyền ở Nhật Bản
thuộc loại Japonica. Chất lượng ăn uống và hương vị của nó được coi là loại tốt
nhất đối với thị hiếu của người Nhật. Giống lúa này được gieo trồng từ lâu đời và
nó trở thành nguồn vật liệu quý cho công tác chọn tạo giống lúa chất lượng tốt ở

18
khi nó được gieo trồng ở vùng Tây Bắc Ấn Độ và vùng Bắc Pakistan, nơi mà
giống lúa Basmati 370 chín vào tháng 10 khi thời tiết mát mẻ. Giống lúa Basmati
cần nhiệt độ mát khoảng 25
0
C vào ban ngày và 12
0
C vào ban đêm trong suốt giai
đoạn trỗ chín. Điều này chỉ ra rằng chính điều kiện khí hậu của vùng là yếu tố ảnh
hưởng đến chất lượng của lúa gạo.
Giống lúa mới được coi là giống tốt thì phải có độ thuần cao, thể hiện đầy
đủ các yếu tố di truyền của giống đó, khả năng chống chịu tốt các điều kiện ngoại
cảnh bất lợi của từng vùng khí hậu, đồng thời chịu thâm canh, kháng sâu bệnh,
năng suất cao, phẩm chất tốt và ổn định. Nghiên cứu vai trò của giống trong sản
xuất nông nghiệp cho thấy: Giống luôn là yếu tố quan trọng làm năng cuất, tăng
sản lượng và hạ giá thành sản phẩm.
Chương trình dài hạn về chọn giống của Viện nghiên cứu lúa Quốc tế nhằm
đưa vào những dòng lúa thuộc kiểu cây cải tiến những đặc trưng chính như: Thời
gian sinh trưởng, kể cả tính mẫn cảm quang chu kỳ thích hợp nhất với những vùng
trồng lúa khác nhau, tính chống bệnh và sâu hại, những đặc điểm cải tiến của hạt,
kể cả hàm lượng protein cao, chịu nước sâu, khả năng trồng khô và tính chịu lạnh.
Trong năm 1970, Viện đã đưa ra những dòng lúa mới, chín sớm như : IR 747, B2
-6; các dòng chống bệnh bạc lá như IR497-83-3 và IR498 -1-88; dòng chống sâu
đục thân IR747,B2-6.
Những năm gần đây các nhà khoa học đã tập trung nghiên cứu và đưa ra
mô hình kiểu cây mới. Theo Lu B.R, Lorestto G.C, 1980 [23], kiểu cây lúa mới
có đặc điểm hình thái như sau:
+ Khái niệm về kiểu cây mới
- Khả năng đẻ nhánh thấp (3-4 nhánh với lúa gieo vãi, 5-8 nhánh với lúa cấy).
- Không có nhánh vô hiệu.

thay đổi theo vùng sinh tháu khác nhau nhưng các nhà chọn giống hiện nay có
phương hướng chung như sau:
20
- Năng suất cao, ổn định.
- Có nhiều dạng hình phong phú, thích nghi với từng điều kiện sinh thái cụ
thể của vùng.
- Chiều cao cây trung bình (110 đến 130 cm), khả năng đẻ nhánh khá từ 3
đến 4 dảnh/khóm lên dần tới 20 dảnh/khóm.
- Thân cứng, chống đổ tốt.
- Có đặc điểm về chất lượng hạt phong phú.
- Chuyển từ dạng bông to sang dạng nhiều bông trong điều kiện sinh thái
thuận lợi.
- Mạ khỏe, bộ rễ khỏe, ăn sâu.
- Tỷ lệ hạt lép thấp, hạt chắc nhiều, hạt đều, chín tập trung.
- Phản ứng với quang chu kỳ ở các mức độ khác nhau.
- Chịu hạn tốt, khả năng cạnh tranh được với cỏ dại.
- Chống chịu được với bệnh đạo ôn, khô vằn, đốm nâu, bệnh biến màu
hạt, chống sâu đục thân, rầy nâu.
- Chịu được đất nhiều dinh dưỡng, thiếu lân, thừa nhôm hoặc đất chua.
Theo Chanh T. (1984) [19] là mục tiêu chung của các nhà chọn tạo giống lúa ở
Đông Nam Á và IRRI.
- Nâng cao năng suất bằng cách phát triển kiểu hình có chiều cao cây
trung bình, đẻ nhánh khá để thay thế các giống lúa cổ truyền cao cây thân yếu đẻ
nhánh kém.
- Khả năng chống chịu các đối tượng sâu bệnh có liên quan đến ổn định
năng suất, tính chống chịu được với bệnh đạo ôn, bệnh khô vằn, khả năng chịu
hạn, khả năng phục hồi đẻ nhánh sau mỗi đợt hạn.
- Tạo ra được những giống có thời gian sinh trưởng khác nhau để thích
hợp với các vùng sinh thái khác nhau.
- Đặc tính nhạy cảm với quang chu kỳ có thể là một yếu cầu cho một cố

giống sau: (Nguyễn Xuân Hiển và cộng sự, 1976) [9].
- Chọn giống có năng suất cao.
22
- Chọn giống theo khả năng phản ứng mạnh với việc bón nhiều phân.
- Chọn giống theo tính chín sớm.
- Chọn giống chịu nước và chịu úng.
- Chọn giống theo tính chống mặn và chống kiềm của đất.
- Chọn giống theo tính chống hạn.
- Chọn giống theo tính chống đổ.
- Chọn giống lúa không rụng hạt.
- Chọn giống lúa để chống lúa dại.
- Chọn giống lúa theo tính chống bệnh.
1.6.Tình hình nghiên cứu chọn tạo giống lúa ở Việt Nam
Chương trình chọn tạo giống ở Việt Nam đã thu được những thành tựu lớn
nhờ vận dụng tốt các kết quả nghiên cứu của mạng lưới quốc tế về đánh giá
nguồn tài nguyên di truyền cây lúa [10]. Tạo giống lúa chất lượng tốt theo hướng
cải tiến từ giống lúa cổ truyền đã được một số tác giả phía bắc thực hiện. Đến
nay đã có những giống lúa kiểu này được đưa ra sản xuất như: Tám thơm đột
biến, TK106, TX1, TX2, Tuy nhiên chất lượng của các giống này đều kém
hơn giống gốc và hầu hết không giữ được mùi thơm.
Theo Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và PTNT: mục tiêu hàng đầu trong
chọn tạo giống cây trồng hiện nay là nâng cao năng suất và chất lượng, đối với
giống lúa xuất khẩu cần đạt ngưỡng 6 đến 8 tấn/ha, cùng lúc cần đạt các chỉ tiêu
chất lượng gạo cao, với giống lúa chất lượng đặc sản (lúa thơm cao sản) cần đạt
ngưỡng 5 đến 6 tấn/ha (Bùi Bá Bổng, 2002) [1].
Theo Vũ Tuyên Hoàng [7], giống lúa bông to, hạt to đều cho năng suất
cao. Vật liệu chọn giống có năng suất cá thể cao thường cho năng suất cao.
Khi nghiên cứu mối tương quan giữa sức chứa và nguồn ở cây lúa: tác giả
Đào Thế Tuấn [15] đã đưa ra kết luận rằng: Những giống lúa có năng suất cao
phải có đủ những điều kiện sau:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status