Khả Năng Sinh Trưởng, Phát Triển Của Một Số Giống Lúa Chất Lượng Cao Và Hiệu Quả Sử Dụng Chế Phẩm NEB-26 Kết Hợp Với Đạm Trên Giống Lúa ĐS1 - Pdf 35

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
–––––––––––––––––––

LA VĂN TUẤN

NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN
CỦA MỘT SỐ GIỐNG LÚA CHẤT LƯỢNG CAO
VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG CHẾ PHẨM Neb-26
KẾT HỢP VỚI ĐẠM TRÊN GIỐNG LÚA ĐS1
TẠI HIÊP HOÀ - BẮC GIANG
Chuyên ngành: TRỒNG TRỌT
Mã số: 60 62 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

Người hướng dẫn khoa học: TS. ĐẶNG QUÝ NHÂN

THÁI NGUYÊN - 2011


i

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu thực sự của tôi, số
liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa từng được
ai công bố.
Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã
được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn này đã được chỉ rõ
nguồn gốc.
Tác giả luận văn


......................................................................................................................... iii

Danh mục các chữ viết tắt................................................................................................ vi
ĐẶT VẤN ĐỀ................................................................................................................... 1
1.1. Tính cấp thiết của đề tài..........................................................................1
1.2. Mục tiêu nghiên cứu ...............................................................................2
1.3. Yêu cầu của đề tài...................................................................................2
1.4. Ý nghĩa của đề tài ...................................................................................3
PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU............................................................................... 4
2.1. Cơ sở khoa học và thực tiễn của đề tài ...................................................4
2.1.1. Cơ sở khoa học của đề tài.................................................................4
2.1.2. Cơ sở thực tiễn..................................................................................5
2.2. Tình hình sản xuất lúa gạo trên thế giới và việt nam ..................................5
2.2.1. Tình hình sản xuất luá gạo trên thế giới ...........................................5
2.2.2. Tình hình sản xuất lúa gạo ở Việt Nam............................................7
2.3. Tình hình nghiên lúa trong và ngoài nước............................................10
2.3.1. Tình hình nghiên cứu lúa trên thế giới ...........................................10
2.3.2. Tình hình nghiên cứu lúa trong nước .............................................14
2.4. Tổng quan về chế phẩm tiết kiệm đạm Neb -26 trong canh tác lúa .....19
2.4.1. Hiệu quả của bón phân truyền thống..............................................19
2.4.2. Tổng quan về hiệu suất sử dụng phân bón của cây lúa ..................23
2.4.3. Tổng quan tình hình nghiên cứu và sử dụng chế phẩm tiết
kiệm đạm Neb-26 .........................................................................26
PHẦN 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU...... 30
3.1. Đối tượng nghiên cứu ...........................................................................30


iv


hợp với chế phẩm Neb-226 đến số nhánh hữu hiệu, tỷ lệ
nhánh hữu hiệu của giống lúa ĐS1 ..............................................63
4.2.6. Ảnh hưởng của mức đạm bón dạng phân viên nén khi kết hợp với
chế phẩm Neb-26 đến chỉ số SPAD của giống lúa ĐS1 .....................64
4.2.7. Ảnh hưởng của mức đạm bón khi kết hợp với chế phẩm Neb26 đến năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất của
giống lúa ĐS1 ...............................................................................65
4.2.8. Hiệu quả kinh tế sử dụng chế phẩm Neb-26 kết hợp với phân
đạm của giống lúa ĐS1.................................................................67
PHẦN 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ......................................................................... 69
5.1. Kết luận.................................................................................................69
5.2. Đề nghị..................................................................................................69
TÀI LIỆU THAM KHẢO.............................................................................................. 70


vi

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

HT1

Hương thơm 1

TBKHKT

Tiến bộ khoa học kỹ thuật

KHKT

Khoa học kỹ thuật


Năng suất thực thu

TSC

Tuần sau cấy

TGST

Thời gian sinh trưởng


vii

DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1. Tình hình sản xuất lúa gạo ở Việt Nam.......................................................... 9
Bảng 3.1. Phân loai, nguồn gốc, đặc điểm canh tác của các giống lúa tham gia
thí nghiệm ..................................................................................................... 30
Bảng 4.1. Đặc điểm sinh trưởng phát triển của mạ ..................................................... 44
Bảng 4.2. Thời gian sinh trưởng của các giống lúa thí nghiệm................................... 45
Bảng 4.3. Khả năng đẻ nhánh và chiều cao cây của giống lúa Vụ mùa
năm 2010 .......................................................................................48
Bảng 4.4. Một số đặc điểm hình dạng lá của các giống lúa......................................... 48
Bảng 4.5. Tình hình sâu, bệnh và khả năng chống đổ của các giống lúa trong
thí nghiệm ..................................................................................................... 50
Bảng 4.6. Các yếu tố cấu thành năng suất của các giống lúa vụ mùa năm 2010 ...... 52
Bảng 4.7. Các chỉ tiêu chất lượng gạo đánh giá qua xay xát và thương trường ........ 53
Bảng 4.8. Phẩm chất các giống qua nấu nướng............................................................ 54
Bảng 4.9. Chất lượng gạo qua phân tích sinh hoá ........................................................ 55
Bảng 4.10. Ảnh hưởng của mức đạm bón khi kết hợp với chế phẩm Neb-26
đến thời gian sinh trưởng của giống lúa ĐS1 (ngày)................................ 56

2010, tổng diện tích trồng lúa trên thế giới hiện nay gần 154 triệu ha, tổng sản
lượng lúa gạo đạt trên 615 triệu tấn, cung cấp lương thực cho cả thế giới.
Tuy nhiên, cùng với cuộc chạy đua nâng cao năng suất cây trồng con
người đã lạm dụng rất nhiều loại phân hóa học. Việc bón phân mất cân đối
làm ảnh hưởng không nhỏ đến sản xuất nông nghiệp bền vững, làm kiệt quệ
nguồn dinh dưỡng trong đất, môi trường sinh thái bị ô nhiễm. Bên cạnh đó giá
thành phân bón bị leo thang, nhập khẩu nguyên liệu chế biến phân hóa học
cao cũng làm ảnh hưởng không nhỏ đến chi phí sản xuất của người nông dân.
Trong thực tế sản xuất, hiệu quả sử dụng phân bón đặc biệt là phân
đạm chỉ đạt vào khoảng 40%. Lượng đạm bị mất đi theo con đường rửa
trôi, bốc hơi và thấm sâu. Việc mất đạm ngày càng được quan tâm nhiều
hơn và chúng không những làm lãng phí tiền đầu tư mà còn làm ô nhiễm
môi trường và gây hiệu ứng nhà kính. Hiệu quả sử dụng phân đạm thấp
cũng làm giảm hiệu quả kinh tế.


2

Chế phẩm Neb-26 là loại siêu phân bón thế hệ mới do công ty AGMOR,
Hoa Kỳ sản xuất. Neb- 26 được nhập khẩu bởi Công ty Cổ phần Xây dựng và
Thương mại Phú Bắc, phân phối bởi Công ty Cổ phần Kỹ thuật nông nghiệp
tỉnh Bắc Giang, Trung tâm nghiên cứu Đất và Phân bón vùng Trung Du. Neb26 là loại phân bón hữu cơ có tác dụng tạo điều kiện phát triển các vi sinh vật
có lợi trong đất, cây trồng sử dụng được nhiều dinh dưỡng hơn, tăng cường
phát triển bộ rễ, tăng sức đề kháng, giúp cây trồng chống chịu sâu bệnh, tăng
năng suất và chất lượng nông sản, tiết kiệm phân bón, giảm được lượng đạm
Urê. Năng suất tăng khoảng từ 10 - 15% so với cách bón thông thường, thân
thiện với môi trường và thân thiện với thực phẩm.
Xuất phát từ vấn đề trên tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: "Nghiên cứu
khả năng sinh trưởng, phát triển của một số giống lúa chất lượng cao và
hiệu quả sử dụng chế phẩm Neb- 26 kết hợp với đạm trên giống lúa ĐS1 tại

pháp triển trồng lúa. Một tiến bộ nữa đã và đang được áp dụng rộng rãi ở các
nước phát triển trên thế giới là sử dụng chế phẩm Neb- 26, đây là chế phẩm
được trộn trực tiếp với đạm trước khi bón cho lúa, chất này có tác dụng điều
chỉnh phản ứng thủy phân urea sau khi bón vào đất thông qua việc tác động
đến enzim urease. Kết hợp hai phương pháp trên tiết kiệm đáng kể lượng đạm
bị thất thoát trong canh tác lúa.


5

Kết quả nghiên cứu của đề tài làm cơ sở cho các công trình nghiên cứu
sau này nhằm góp phần mở rộng phạm vi sử dụng chế phẩm tiết kiệm đạm.
Đặc biệt là việc tìm ra các công thức sử dụng chế phẩm siêu phân bón Neb26 kết hợp phân đạm để tiết kiệm chi phí đầu tư, tăng năng suất cây trồng và
giữ được cân bằng sinh thái của ruộng lúa.
2.1.2. Cơ sở thực tiễn
Hiện nay, phân Neb- 26 đã được áp dụng rộng rãi ở nhiều tỉnh thành
trong cả nước và đang là phương pháp bón phân mới được nhiều nông dân
chấp nhận do những tác dụng mà phương pháp này mang lại như: làm tăng
năng suất lúa, giảm chi phí phân bón, hạn chế chi phí bảo vệ thực vật... Nhìn
chung ở những vùng mưa tập trung, đất dốc, điều kiện kinh tế nông hộ còn
khó khăn và nhất là khi giá phân bón lên cao thì nông dân đều mong muốn
được áp dụng các biện pháp làm giảm lượng phân bón. Nhiều vùng xung
quanh những thành phố lớn cũng mong muốn áp dụng phương pháp này vì sẽ
hạn chế được hàm lượng đạm dư thừa trong nông sản.
Trên thế giới cũng như nước ta hiện nay bên cạnh việc áp dụng các
phương pháp bón phân tiết kiệm đạm thì một vấn đề cũng đang chú ý tới đó là
sử dụng các chế phẩm hữu cơ để tiết kiệm lượng đạm bón. Việc sử dụng chế
phẩm tiết kiệm đạm làm áo urê đã được một số nước như Mỹ, Newzealand sử
dụng và mang lại kết quả rất khả quan do việc hạn chế thêm được 25% lượng
đạm thất thoát do biến thành amoniac bay vào không khí [61].

giống được cải tiến phù hợp [45].
Tuy nhiên, trong những năm gần đây do việc sử dụng các giống lúa
mới cộng với việc áp dụng các biện pháp canh tác và bố trí cơ cấu các trà lúa
hợp lý làm cho sản lượng lúa tăng đáng kể ở hầu hết các quốc gia trồng lúa.
Tổng sản lượng lúa trong vòng 30 năm qua đã tăng gấp đôi: từ 257 triệu tấn
năm 1965 lên tới 535 triệu tấn năm 1994. Cùng với nó, diện tích trồng lúa
cũng tăng lên đáng kể, năm 1970 diện tích trồng lúa toàn thế giới là 134.390
triệu ha, đến năm 1994 con số này đã lên tới 146.542 triệu ha. Trong đó, các


7

nước Châu Á vẫn giữ vai trò chủ đạo trong sản xuất và tiêu thụ lúa gạo...[51],
[53]. Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia, Bangladesh, Việt Nam, Thái Lan,
Burma, Philippines, Brazil, Nhật Bản, Hoa Kỳ, Pakistan vẫn là 12 nước đứng
đầu thế giới về sản xuất lúa gạo, với tổng sản lượng lúa gạo chiếm tới 89%
tổng sản lượng lúa gạo của cả thế giới.
Năm 2008, Thái Lan, Việt Nam, Ấn Độ, Pakistan, Trung Quốc, Ai Cập,
Hoa Kỳ vẫn là 7 nước được dự báo vẫn đứng đầu thế giới về xuất khẩu gạo,
với tổng khối lượng gạo xuất khẩu dự kiến đạt 23,7 triệu tấn, chiếm 82% thị
phần của thế giới [66].
2.2.2. Tình hình sản xuất lúa gạo ở Việt Nam
Với điều kiện khí hậu nhiệt đới, Việt Nam có thể coi là cái nôi hình
thành cây lúa nước. Đã từ lâu, cây lúa trở thành cây lương thực chủ yếu, có ý
nghĩa đáng kể trong nền kinh tế và xã hội nước ta. Với địa bàn trải dài trên 15
vĩ độ Bắc bán cầu, từ Bắc vào Nam đã hình thành những vùng đồng bằng
châu thổ trồng lúa phì nhiêu.
Trước năm 1945 diện tích trồng lúa ở hai đồng bằng Bắc Bộ và Nam
Bộ là 1,8 triệu ha và 2,7 triệu ha với sản lượng thóc tương ứng là 2,4 và 3
triệu tấn. Năng suất bình quân đạt 13 tạ/ha. Từ năm 1976 đến năm 1994 diện

vậy, vấn đề cấp thiết đặt ra ở đây là cần phải nâng cao hơn nữa năng suất và
chất lượng lúa, nhằm đáp ứng được nhu cầu lương thực cho người dân và cho
xuất khẩu [35]. Tuy nhiên trong những năm gần đây do quá trình đô thị hoá,
công nghiệp hoá đã làm diện tích trồng lúa bắt đầu đã có dấu hiệu giảm về
diện tích, mặc dù sản lượng vẫn tăng cao do việc ứng dụng các TBKHKT vào
sản xuất làm tăng năng suất và sản lượng của lúa. Bên cạnh sản lượng lúa
tăng chúng ta cũng đã chú trọng đến chất lượng của lúa gạo, những giống lúa
cổ truyền như tám ấp bẹ, tám xoan Dự, nếp cái Hoa vàng, Nàng thơm đã được
phục tráng và mở rộng sản xuất [24] .


9

Bảng 2.1. Tình hình sản xuất lúa gạo ở Việt Nam
Năm

Diện tích (1000 ha) Năng suất(tạ/ha) Sản lượng(triệu tấn)

2000

7,655

42,5

32,550

2001

7,484


7,340

49,5

36,340

2006

7,320

48,9

35,801

2007

7,200

49,1

35,900

2008

7.400

52,3

38,730


2.3. TÌNH HÌNH NGHIÊN LÚA TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC
2.3.1. Tình hình nghiên cứu lúa trên thế giới
Cùng với sự phát triển của loài người, nghề trồng lúa được hình thành
và phát triển. Trình độ thâm canh cây lúa cũng ngày một nâng cao. Các giống
lúa địa phương không ưa thâm canh, khả năng chống chịu sâu, bệnh kém,
năng suất thấp dần được thay thế bằng các giống lúa mới chịu thâm canh,
chống chịu sâu, bệnh tốt và thích hợp với điều kiện sinh thái tại địa phương.
Vào đầu những năm 1960, viện nghiên cứu lúa gạo Quốc tế International Rice
Research Institute (IRRI) đã được thành lập ở Philippin. Viện này đã tập trung
vào lĩnh vực nghiên cứu lai tạo và đưa ra sản xuất nhiều giống lúa các loại,
tiêu biểu như các dòng IR, Jasmin [36]. Đặc biệt vào thập niên 80 giống lúa
IR8 được trồng phổ biến ở Việt Nam đã đưa năng suất lúa tăng cao đáng kể.
Cuộc " cách mạng xanh " từ giữa thập niên 60 đã có ảnh hưởng tích cực đến
sản lượng lúa của châu Á. Nhiều tiến bộ kỹ thuật đã được tạo ra để nâng cao
năng suất và sản lượng lúa gạo.
Các nhà nghiên cứu của viện lúa Quốc tế (IRRI) đã nhận thức rằng các
giống lúa mới thấp cây, lá đứng tiềm năng năng suất cao cũng chỉ có thể có
giải quyết vấn đề lương thực trong phạm vi hạn chế. Hiện nay viện IRRI đang
tập trung vào nghiên cứu chọn tạo ra các giống lúa cao sản (siêu lúa) có thể
đạt 13 tấn/ha/vụ, đồng thời phát huy kết quả chọn tạo 2 giống là IR64 và
Jamin là giống có phẩm chất gạo tốt, được trồng rộng rãi ở nhiều nơi trên thế
giới. Trên cơ sở là một giống lúa chất lượng cao viện IRRI đang tập trung vào
nghiên cứu, chọn tạo các giống lúa có hàm lượng Vitamin và Prôtêin cao, có


11

mùi thơm, cơm dẻo...) vừa để giải quyết vấn đề an ninh lương thực, vừa đáp
ứng được nhu cầu đòi hỏi ngày càng cao của nguời tiêu dùng [41].
Nhiều nước ở châu Á có diện tích trồng lúa lớn, có kỹ thuật thâm canh

suất, sản lượng lúa gạo của đất nước [45].
Lúa lai ra đời đã giúp nền sản xuất lúa lai Trung Quốc phá được hiện
tượng ''đội trần" của năng suất lúa lúc bấy giờ và lúa lai được coi là thành tựu
sinh học của loài người, được xem là "chàng hiệp sỹ khổng lồ đứng lên tiêu
diệt giặc đói đang đe doạ hành tinh chúng ta" [17]. Có thể nói rằng Trung Quốc
là nước đi tiên phong trong lĩnh vực nghiên cứu, ứng dụng lúa lai, đưa lúa lai
vào sản xuất đại trà. Nhờ đó đã làm tăng năng suất và sản lượng lúa gạo của
Trung Quốc, góp phần đảm bảo an ninh lương thực cho một nuớc đông dân
nhất thế giới (1,3 tỷ dân). Các giống lúa lai của Trung Quốc được tạo ra trong
thời gian gần đây đều có tính ưu việt hơn hẳn về năng suất, chất lượng và khả
năng chống chịu sâu, bệnh. Các giống lúa lai như Bồi Tạp Sơn Thanh, Nhị Ưu
838, San Ưu Quế, SYN6, Thục Hưng6…Ngày nay Trung Quốc đã hình thành
hệ thống nghiên cứu lúa lai đến tận các tỉnh, đào tạo đội ngũ cán bộ nghiên cứu
và kỹ thuật viên đông, xây dựng hệ thống sản xuất, kiểm tra, kiểm nghiệm,
khảo nghiệm và chỉ đạo thâm canh lúa lai thương phẩm.
Theo FAOSTAT năm 2011, Ấn Độ là nước có diện tích trồng lúa đứng
đầu thế giới (41.850 nghìn ha), đồng thời Ấn Độ cũng là nước đi đầu trong
cuộc "cách mạng xanh" về đưa các TBKHKT nhất là giống mới vào sản xuất,
làm nâng cao năng suất và sản lượng lúa gạo của Ấn Độ. Viện nghiên cứu
giống lúa trung ương của Ấn Độ được thành lập năm 1946 tại khu Cuttuck
bang Orisa là nơi tập trung nghiên cứu, lai tạo các giống lúa mới phục vụ sản
xuất. Bên cạnh đó Ấn Độ cũng là nước có giống lúa chất lượng cao nổi tiếng
trên thế giới như giống lúa: Basmati, Brimphun có giá trị rất cao trên thị
trường tiêu thụ. Ấn Độ cũng là nước nghiên cứu lúa lai khá sớm và đã đạt
được một số thành công nhất định, một số tổ hợp lai được sử dụng rộng rãi


13

như: IR58025A/IR9716, IR62829A/IR46, PMS8A/IR46, ORI 161, ORI 136,

Thái lan trong mấy thập kỷ qua phát triển tuơng đối ổn định và Thái Lan cùng
nhiều nước Đông Nam Á khác trong buổi đầu phát triển kinh tế Tư Bản chủ
nghĩa, đều xuất phát từ thế mạnh nông nghiệp [21].
Ở khu vực Đông Á còn có một số nước cũng có diện tích trồng lúa
đáng kể đó là: Hàn Quốc, Bắc Triều Tiên, Đài Loan. Các nước này chủ yếu sử
dụng giống lúa thuộc loại hình Japonica, hạt gạo tròn, cơm dẻo phù hợp với
thị hiếu tiêu dùng của người dân khu vực này. Các giống lúa nổi tiếng của khu
vực này là Ton gil (Hàn Quốc ), Tai chung1, Tai chung 2, Gang chan gi, ĐeeGeo- Wô- Gen (Đài Loan)… đặc biệt giống Đee- Geo- Wo- Gen là một vật
liệu khởi đầu để tạo ra giống lúa IR8 nổi tiếng một thời [48].
Ngoài châu Á, thì ở Mĩ, trong thời gian gần đây các nhà koa học không
chỉ quan tâm đến việc chọn lọc, lai tạo và đưa ra những giống lúa có năng
suất cao, ưa thâm canh và ổn định, mà còn nghiên cứu tỷ lệ Prôtêin trong gạo,
phù hợp với thị trường hiện nay.
Ngoài ra, trên thế giới còn rất nhiều nhà khoa học đã và đang nghiên
cứu các giống lúa nhằm mục đích đưa ra những giống lúa có năng suất cao,
phẩm chất tốt, có khả năng chống chịu với điều kiện ngoại cảnh, thâm canh.
2.3.2. Tình hình nghiên cứu lúa trong nước
2.3.2.1. Tình hình nghiên cứu lúa ở Việt Nam
Trải qua hơn bốn nghìn năm dựng nước và giữ nước, cây lúa luôn gắn
liền với đời sống hàng ngày của dân tộc ta. Vì vậy, có thể nói rằng Việt Nam
là cái nôi của nền văn minh lúa nước, sản xuất lúa gạo đóng vai trò quan trọng
đối với đời sống của người dân Việt Nam, nó không những đáp ứng nhu cầu
tiêu dùng của người dân trong nước mà nó còn góp phần quan trọng vào thị
trường xuất khẩu lúa gạo của thế giới.
Trước năm 1954, người dân Việt Nam với đức tính cần cù sáng tạo đã
đúc rút được nhiều kinh nghiệm trong sản xuất và đã sử dụng các giống lúa


15


Nhận thức rõ tầm quan trọng của sản xuất nông nghiệp nói chung và
sản xuất lúa gạo nói riêng, cho nên từ đại hội Đảng lần thứ VI và các kỳ đại
hội tiếp theo ngành nông nghiệp đã được Đảng, nhà nước quan tâm thúc đẩy
đúng mức. Trong một thời gian không lâu đất nước đang từ một quốc gia
nhập khẩu lương thực, người nông dân làm ra sản phẩm lúa gạo và các sản
phẩm nông nghiệp khác song quanh năm vẫn chịu cảnh thiếu đói lương thực,
nay đã trở thành một quốc gia xuất khẩu lúa gạo đứng thứ 2 trên thế giới,
song một vấn đề đặt ra đó là số lượng xuất khẩu nhiều nhưng giá bán không
cao do chất lượng gạo Việt Nam còn kém so với các nước khác như Thái Lan.
Vì thế chiến lược sản xuất lúa gạo của Việt Nam trong những năm tới và các
thập niên tiếp theo là: phấn đấu đạt và duy trì sản lượng lúa hằng năm ở mức
gần 40 triệu tấn/năm như hiện nay, đồng thời đưa vào gieo cấy khoảng 1 triệu
ha lúa chất lượng cao để phục vụ nhu cầu tiêu dùng trong nước và đẩy mạnh
xuất khẩu gạo chất lượng cao nhằm đem lại hiệu quả kinh tế [59].
Với điều kiện thời tiết, khí hậu địa lí thuận lợi cho việc trồng lúa, Việt
Nam được coi như là cái nôi của nền văn minh lúa nước. Phát huy những lợi
thế đó trong những năm qua thực hiện chủ trương đổi mới của Đảng, từ nghị
quyết đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 6 đến nay nền nông nghiệp nước ta
được Đảng và nhà nước đặc biệt quan tâm, coi nông nghiệp là mặt trận hàng
đầu và đã được đầu tư đúng mức nên năng suất và sản lượng lúa gạo Việt
Nam không ngừng được nâng cao.
Để có được một ngành nông nghiệp như ngày nay, đã có nhiều thế hệ
nhà khoa học đóng góp công sức, trí tuệ để nghiên cứu ra các công trình khoa
học nông nghiệp có giá trị, phục vụ đất nước từ những năm trước giải phóng
cho tới nay. Sau thành công về sản lượng lúa chúng ta cần có một cách nhìn
toàn diện hơn về sản xuất lúa gạo của Việt Nam trong đó vấn đề chất lượng
của lúa gạo cần đặc biệt quan tâm.


17




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status