ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
ĐÀO THỊ NGỌC
NGHIÊN CỨU KỸ THUẬT TRỒNG RAU CẢI BẮP
TRÁI VỤ SỬ DỤNG MÀNG PHỦ NÔNG NGHIỆP
TẠI PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CÂY TRỒNG
THÁI NGUYÊN, 2014
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
ĐÀO THỊ NGỌC
NGHIÊN CỨU KỸ THUẬT TRỒNG RAU CẢI BẮP
TRÁI VỤ SỬ DỤNG MÀNG PHỦ NÔNG NGHIỆP
TẠI PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN
Chuyên ngành: KHOA HỌC CÂY TRỒNG
Mã số: 60.62.01.10
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CÂY TRỒNG
THÁI NGUYÊN, 2014
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là đề tài nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết quả
nêu trong luận văn là trung thực và chưa được ai công bố trong các nghiên cứu
khác. Mọi trích dẫn đều có nguồn gốc rõ ràng.
Tác giả
Đào Thị Ngọc
ii
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành đề tài: “Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật trồng rau cải
bắp trái vụ tại Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên” trước hết em xin bày tỏ lòng biết ơn
tới sự giúp đỡ tận tình về chuyên môn và mọi mặt của cô giáo hướng dẫn TS.
Nguyễn Thuý Hà.
1.2.1.4. Cỏc loi vt liu ph trong sn xut rau 12
1.2.2. Nhng nghiờn cu v phõn hu c 13
1.2.2.1. Li ớch ca vic bún phõn hu c cho cõy trng 13
1.2.2.2. Cỏc loi phõn hu c trong sn xut nụng nghip 14
1.2.3. Nhng nghiờn cu v phõn bún lỏ 20
1.2.4. Nhng nghiờn cu v thuc tr sõu sinh hc trờn rau 23
1.2.4.1. Thành phần vi sinh vật gây bệnh lên côn trùng hại rau 23
1.2.4.2. Một số kết quả nghiên cứu về ảnh hởng của các chế phẩm vi sinh vật
đến khả năng phòng trừ sâu hại, năng suất và chất lợng rau 24
1.2.5. Nhng vt liu nghiờn cu liờn quan n ti 27
Chng 2. NI DUNG V PHNG PHP NGHIấN CU 32
2.1. I TNG, VT LIU V PHM VI NGHIấN CU 32
iv
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu 32
2.1.1. Vật liệu nghiên cứu 32
2.1.3. Địa điểm và thời gian nghiên cứu 32
2.2. NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 32
2.2.1. Nội dung nghiên cứu 32
2.2.2. Phương pháp nghiên cứu 33
2.3. CHỈ TIÊU VÀ PHƯƠNG PHÁP THEO DÕI 36
2.3.1. Các chỉ tiêu sinh trưởng và phát triển 36
2.3.3. Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất 38
2.3.5. Phương pháp xử lý số liệu 39
Chương 3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 40
3.1. Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của các vật liệu phủ khác nhau đến sinh
trưởng, năng suất và hiệu quả kinh tế của rau cải bắp trái vụ 40
3.1.1. Ảnh hưởng của việc che phủ đến động thái ra lá ngoài của cải bắp 40
3.1.2. Ảnh hưởng của việc che phủ đến đường kính tán cải bắp 42
3.1.3. Ảnh hưởng của việc che phủ đến đường kính bắp cải bắp 43
3.1.4. Ảnh hưởng của việc che phủ đến tình hình sâu bệnh hại cải bắp. 45
3.4.5. Sơ bộ hoạch toán hiệu quả kinh tế các công thức đến cải bắp 76
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 788
1. Kết luận 78
2. Đề nghị 78
TÀI LIỆU THAM KHẢO 799
vi
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT
Ký hiệu viết tắt
Diễn giải nội dung viết tắt
BVTV
Bảo vệ thực vật
CT
Công thức
CV
Hệ số biến động
ĐBSCL
Đồng bằng sông cửu long
FAO
Tổ chức Nông nghiệp và Lương thực thế giới
HCBVTV
Hóa chất bảo vệ thực vật
IPM
Phòng trừ dịch hại tổng hợp
LSD
Sai khác nhỏ nhất có ý nghĩa
NSLT
Năng suất lý thuyết
NSTT
Năng suất thực thu
VSATTP
Hình 3.1: Biểu đồ biểu diễn động thái ra lá ngoài của cải bắp 41
Hình 3.2: Biểu đồ biểu diễn đường kính tán lá của cải bắp 43
Hình 3.3: Biểu đồ biểu diễn động thái tăng trưởng đường kính bắp cải bắp 44
Hình 3.4: Biểu đồ biểu diễn mật độ sâu tơ gây hại cải bắp 46
Hình 3.5: Biểu đồ biểu diễn mật độ sâu xanh gây hại cải bắp 47
Hình 3.6: Biểu đồ biểu diễn tình hình bệnh hại cải bắp 48
Hình 3.7: Biểu đồ biểu diễn khối lượng trung bình bắp 49
Hình 3.8: Biểu đồ biểu diễn năng suất của cải bắp 53
Hình 3.9: Biểu đồ biểu diễn động thái ra lá ngoài của cải bắp 55
Hình 3.10: Biểu đồ biểu diễn đường kính tán lá của cải bắp 56
Hình 3.11: Biểu đồ biểu diễn đường kính bắp cải bắp 57
Hình 3.12: Biểu đồ biểu diễn khối lượng trung bình của cải bắp 59
Hình 3.13: Biểu đồ biểu diễn năng suất của cải bắp 59
Hình 3.14: Biểu đồ biểu diễn động thái ra lá của cải bắp 62
Hình 3.15: Biểu đồ biểu diễn đường kính tán lá cải bắp 63
Hình 3.16: Biểu đồ biểu diễn đường kính bắp của cải bắp 65
Hình 3.17: Biểu đồ biểu diễn khối lượng trung bình của cải bắp 67
Hình 3.18: Biểu đồ biểu diễn năng suất của cải bắp 67
Hình 3.19: Biểu đồ biểu diễn mật độ sâu tơ gây hại cải bắp 70
Hình 3.20: Biểu đồ diễn biến sâu xanh gây hại cải bắp 71
Hình 3.21: Biểu đồ biểu diễn hiệu lực trừ sâu tơ 72
Hình 3.22: Biểu đồ biểu diễn hiệu lực trừ sâu xanh 74
Hình 3.23: Biểu đồ biểu diễn khối lượng trung bình bắp 75
Hình 3.24: Biểu đồ biểu diễn năng suất cải bắp 76
1
MỞ ĐẦU
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Khi xã hội ngày càng phát triển kéo theo nhu cầu của con người càng tăng.
Trước kia nhu cầu của con người là “ăn no mặc ấm” ngày nay là “ăn ngon mặc
đẹp”. Nhu cầu về ăn uống của con người không chỉ ngon mà còn phải đảm bảo vệ
nước, các hóa chất độc hại, thuốc bảo vệ thực vật tồn dư trên rau đã ảnh hưởng
không nhỏ đến sức khỏe cộng đồng trước mắt cũng như lâu dài. Các phương pháp
sản xuất cũ tốn công lao động, sử dụng nhiều hóa chất bảo vệ thực vật đang là vấn
đề nhức nhối của sản xuất hiện nay.
Trong những năm gần đây trên thế giới và trong nước đang hình thành xu thế
xây dựng nền nông nghiệp phát triển bền vững nhằm nâng cao sản lượng và chất
lượng cây trồng, mà yêu cầu đặt ra là giảm thiểu được những chất độc hại vào môi
trường tự nhiên[3]. Sản xuất rau theo quy trình sản xuất nông nghiệp tốt Việt Gap
cũng được coi là một trong những biện pháp quan trọng để hình thành các cân bằng
sinh học dựa trên cơ sở sử dụng cân đối phân bón hóa học, dùng nhiều phân hữu cơ,
tăng cường sản xuất có che phủ bề mặt và sử dụng phân bón thông qua lá, áp dụng
các biện pháp phòng trừ sâu bệnh bằng các loại chế phẩm từ tự nhiên[11]. Các biện
pháp trong quy trình sản xuất đó đã đẩy mạnh vào việc phát triển một nền nông
nghiệp bền vững mà tất cả các nước có nền nông nghiệp đều phải hướng đến.
Huyện Phú Bình là khu vực có truyền thống sản xuất rau màu lâu đời tuy
nhiên ở đây vẫn chưa áp dụng kỹ thuật mới vào sản xuất vì vậy dẫn đến năng suất,
chất lượng rau chưa cao hiệu quả từ nghề trồng rau thấp chưa cải thiện đời sống cho
người nông dân.
Xuất phát từ yêu cầu thực tế, để góp phần vào việc nâng cao hiệu quả kinh
tế của sản xuất rau cải bắp tại địa phương chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài:
“Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật trồng rau cải bắp trái vụ tại Phú Bình,
tỉnh Thái Nguyên”
2. MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU, Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI
2.1. Mục đích
Lựa chọn được một số biện pháp kỹ thuật phù hợp để sản xuất rau cải bắp
trái vụ tại Phú Bình – Thái Nguyên.
3
2.2. Yêu cầu
- Đánh giá sinh trưởng, các yếu tố năng suất, hiệu quả kinh tế của rau cải bắp
trái vụ trồng sử dụng các vật liệu phủ khác nhau.
đạt cao nhưng hiệu quả sản xuất thấp do chính vụ lượng rau nhiều giá thành thấp.
Người dân còn chưa quan tâm đầu tư sản xuất rau màu trái vụ do điều kiện thời tiết
không được thuận lợi cũng chưa có các đầu tư về điều kiện sản xuất theo các mô
hình lớn. Sản xuất rau trái vụ tại địa phương còn nhỏ lẻ, sinh trưởng kém, sâu bệnh
nhiều, mất nhiều công chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh, năng xuất rau trái vụ lại
không cao do vậy mà giá thành rau trái vụ tuy cao nhưng không thu hút được người
dân đầu tư sản xuất[18].
Sản xuất rau tại địa phương đang có xu hướng tăng, nhưng phương thức sản
xuất của người dân lại không được thay đổi. Người dân còn ngại áp dụng các khoa
học kỹ thuật mới vào trong sản xuất. Trong sản xuất rau người dân vẫn sử dụng
nhiều thuốc hóa học bảo vệ thực vật, thuốc độc cấm sử dụng, nguồn nước, nước rửa
bẩn, ô nhiễm nặng nề ảnh hưởng nghiêm trọng tới chất lượng rau.
Tuy đã có lịch sử trồng rau lâu đời nhưng tại địa phương vẫn sản xuất rau
theo lối lạc hậu. Các loại rau trồng chủ yếu là trồng không có phân bón hay nếu có
thì cũng chỉ sử dụng rất ít các loại phân hóa học. Theo thống kê thì mới chỉ có 30%
số hộ thâm canh trong sản xuất trong đó thì phân hữu cơ đáp mới đáp ứng 20% nhu
cầu của cây, phân đạm là 30%, phân lân 10%, kaly 10% nhu cầu để cây cho năng
xuất cao nhất. Tại địa phương 90% người dân trồng rau để đáp ứng nhu cầu tiêu
dùng của gia đình khi dư thừa mới đem bán vì vậy mà họ chưa quan tâm đến việc
bón phân để tăng năng xuất cây trồng.
Theo sản xuất truyền thống Phân bón sẽ được dùng để bón thúc hay bón lót
cho cây có thể bón theo thời kỳ hoặc người dân thấy khi cây thiếu dinh dưỡng sẽ
6
bón bổ sung cho cây. Các loại phân được sử dụng là các loại phân đơn như ure, kaly
phân lân hoặc các loại phân đa lượng như NPK tổng hợp…Phân bón sẽ được bón
trực tiếp vào đất hoặc pha loãng với nước rồi tưới. Các loại phân bón vào đất làm
ảnh hưởng lớn đến hệ sinh vật đất, nước,khi bón phân song có thể bị rủa trôi do ảnh
hưởng của mưa bão. Bón phân hóa học lâu dài vào đất sẽ pha hủy cấu trúc của đất
và lâu dần sẽ làm ảnh hưởng đến các đặc tính tốt vốn có của đất. Các loại phân bón
vào đất rất phổ biến và được dùng quen thuộc thì một số loại phân bón lá lại không
Hiện nay sản xuất nông nghiệp theo xu thế năng suất cao nhưng vẫn phải
đảm bảo chất lượng tốt và không phá vỡ hệ sinh thái tự nhiên. Các biện pháp sử
dụng quá nhiều các chất hóa học như phân bón hóa học, thuốc hóa học bảo vệ thực
vật đã làm mất đi hệ sinh thái tự nhiên vốn có. Các biện pháp kỹ thuật sản xuất mới
như sử dụng các loại phân bón qua lá, giảm việc bón phân trực tiếp vào đất vừa
cung cấp kịp thời nguồn dinh dưỡng cho cây trồng mà không gây ảnh hưởng tới hệ
sinh vật đất như khi bón trực tiếp vào đất. Áp dụng các chế phẩm có nguồn gốc sinh
học là sử dụng hình thức đối kháng tự nhiên không có chất hóa học, không phá vỡ
hệ sinh thái sinh vật, không ảnh hưởng tới sức khỏe người tiêu dùng mà còn đẩy
mạnh một nền sản xuất tiên tiến bền vững[12].
1.2. NHỮNG NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.2.1. Những nghiên cứu về che phủ đất trên thế giới và Việt Nam
1.2.1.1. Những nghiên cứu về che phủ đất trên thế giới
Che phủ đất là biện pháp sản xuất trong đó cây trồng được che phủ bằng các
vật liệu che phủ hay được che phủ bằng các loại cây trồng khác nhằm nhiều lợi ích
khác nhau để tăng năng suất cây trồng, giảm thiểu sâu bệnh hại, bảo vệ đất và hệ
sinh vật đất duy trì một nền sản xuất bền vững.
Trên thế giới có rất nhiều các nghiên cứu về che phủ đất đã chứng minh lợi
ích của che phủ với sản xuất là rất lớn.
Tiến sĩ Lienhard pascal [18] đã nghiên cứu các giải pháp để bảo vệ đất trồng
đồng thời cũng tăng được năng suất cây trồng tại Saybouni ( Lào) trong đó có biện
pháp che phủ đất kết hợp với xen canh, trồng cây ngắn ngày sẽ giúp tăng vụ trồng,
tăng năng suất, giảm công lao động, giảm rủi do trong sản xuất che phủ giúp bảo vệ
môi trường đất, thảm thiểu sói mòn rửa trôi dinh dưỡng, bảo vệ các đặc tính của đất
8
như độ xốp, khả năng giữ nước. Che phủ kết hợp với xen canh giúp hiệu quả kinh tế
tăng 15%.
Theo nghiên cứu của Lienhard thì che phủ đất kết hợp cải tạo đất sẽ giúp
giảm 50% lượng phân bón trong sản xuất, từ đó sẽ tăng được hiệu quả sản xuất.
Việc nghiên cứu và sử dụng cây trồng xen, che phủ ngô ở một số nước
rộng rãi ngoài thực tế sản xuất và đã khẳng định được vai trò trong việc bảo vệ và
cải tạo đất như: Cốt khí, Muồng hoa vàng, Đậu mèo, Đậu nho nhe và một số loại cỏ
khác , đặc biệt là cây lạc dại.
Viện Khoa học kỹ thuật nông lâm nghiệp miền núi phía Bắc đã tiến hành đề
tài “Nghiên cứu, đánh giá khả năng che phủ, bảo vệ, cải tạo đất và xây dựng quy
trình trồng cây lạc dại - LD99 (Arachis pintoi) ở Vùng miền núi phía Bắc”, [18]
Các kết quả nghiên cứu đã chứng minh tính khoa học về khả năng sinh trưởng
phát triển, khả năng chống xói mòn, bảo vệ, cải tạo độ phì đất và hiệu quả của
cây lạc dại trong một số hệ thống canh tác có trồng xen cây lạc dại trên một số
vùng đất dốc miền núi phía Bắc và đã đi đến kết luận.
* Lạc dại - LD99 là cây che phủ nhập nội có những đặc tính tốt như: Khả
năng sinh trưởng phát triển tốt, sinh khối lớn, dạng hình bò, có khả năng nhân
giống vô tính Khi trồng xen Lạc dại dưới tán cây ăn quả có khả năng sinh trưởng
tốt, không cạnh tranh ánh sáng với cây trồng chính, cây sinh trưởng quanh năm nên
duy trì độ che phủ tốt, chống xói mòn vào mùa mưa, duy trì độ ẩm đồng ruộng vào
mùa khô. Là cây họ đậu sinh khối lớn, hàm lượng chất dinh dưỡng trong thân lá
cao nên khả năng cải tạo đất rất tốt. Là cây che phủ đất có thảm lá xanh xen với
hoa vàng quanh năm tạo nên bức tranh sinh thái rất tốt cho cảnh quan công sở,
đường phố và bảo vệ môi trường.
Mới đây, một nhóm các nhà khoa học thuộc Viện khoa học kỹ thuật nông
lâm nghiệp miền núi phía Bắc đã nghiên cứu sử dụng các loại vật liệu che phủ đất
để sản xuất ngô trên đất dốc có hiệu quả tại huyện Văn Chấn (tỉnh Yên Bái)[18].
Trước thực trạng: cộng đồng người Hmông, người Dao ở đây vẫn trồng ngô và lúa
nương theo phương thức lạc hậu là dọn sạch và đốt trước khi gieo trồng ngô, lúa
nên bề mặt đất bị xói mòn, rửa trôi làm giảm năng suất cây trồng và suy thoái đất.
10
Bởi vậy, để sản xuất ngô trên đất dốc đạt hiệu quả, ổn định và lâu bền hơn, các nhà
khoa học sử dụng các loại vật liệu che phủ như thân lá ngô, rơm rạ, thân lá các loại
cỏ tự nhiên và bón các loại phân đơn, thuốc bảo vệ thực vật thông thường. Thực
nghiệm cho thấy, che phủ đất bằng xác thực vật có tác dụng tích cực đối với quá
- Tác dụng của che phủ đất đến việc tăng năng suất cây trồng
Tăng năng suất cây trồng là chỉ tiêu quan trọng nhất của mọi tiến bộ kỹ thuật
về giống và kỹ thuật canh tác. Thông thường, việc bón nhiều phân và cân đối sẽ cho
năng suát cao hơn. Tuy nhiên, sói mòn rửa trôi đang làm giảm năng suất rất nhiều.
Che phủ đất là một biện pháp rất quan trọng trong việc tăng và ổn định năng suất
cây trồng mà không cần sử dụng nhiều phân bón, nhất là phân hoá học.
- Tác dụng của che phủ đất trong việc bảo vệ đất khỏi bị xói mòn
Xói mòn đất là một trong những nguyên nhân chủ yếu gây thoái hoá đất.
Muốn canh tác bền vững, nhiệm vụ quan trọng nhất là chống xói mòn. Các kết quả
nghiên cứu của Lal và cộng sự (1977) đã cho thấy rằng che phủ đất có tác dụng
ngăn chặn xói mòn rất tốt và lượng đất bị mất đi do xói mòn sẽ giảm nhiều khi
lượng vật liệu che phủ càng tăng. Khi vật lượng vật liệu che phủ là 6 tấn khô/ha thì
xói mòn đất là không đáng kể (0.05 tấn/ha) hay giảm 99 % so với không che
phủ.
- Tác dụng của che phủ đất trong việc giữ ẩm cho đất
Cây trồng trên đất có độ ẩm cao thì cây sẽ sinh trưởng tốt hơn và tất nhiên là
sẽ cho năng suất cao hơn. Như đã nêu trên, việc che phủ đất đã làm giảm nhiệt độ
mặt đất từ 3 đến 7 độ vào lúc 15h00. Nhờ vậy lượng nước bốc hơi sẽ giảm. Ngoài ra
che phủ đất còn giúp cho nước đỡ bị bốc hơi do gió và giảm sự cạnh tranh về nước
của cỏ dại. Do vậy, ẩm độ đất dưới lớp che phủ luôn luôn cao hơn so với đất trống,
nhất là trong những thời kỳ nắng kéo dài.
- Tác dụng của che phủ đất trong việc khống chế cỏ dại
Khi che phủ thì thành phần cỏ dại giảm rõ rệt, đặc biệt là các loài cỏ lá rộng
như rau tàu bay, cỏ hôi và đơn kim.
12
Do che phủ đất có tác dụng khống chế cỏ dại nên số công làm cỏ giảm đáng
kể. Các kết quả nghiên cứu của chương trình SAM tại Chợ Đồn, Bắc Kạn năm 2002
cho thấy việc che phủ lúa nương có thể giảm 80 % số công làm cỏ. Trong thí
nghiệm che phủ ngô ở Văn Chấn thì số công làm cỏ giảm từ 60 ngày/ha/vụ xuống
còn 20, 10 và 5 ngày, tương ứng cho các lượng vật liệu 5, 7 và 10 tấn khô/ha[18].
Rơm rạ: là nguồn tàn dư cây trồng của quá trình sản xuất lúa gạo, rơm rạ khi
dùng làm vật liệu phủ có tác dụng giữ ấm, giữ nước cho cây trồng, ngăn chặn quá
trình sói mòn rửa trôi khi có mưa to, giảm sự thoát hơi nước khi có nắng to, ngăn
chặn sự phát sinh phát triển tràn lan của cỏ dại cạnh tranh dinh dưỡng. Khi rơm rạ
mục trên mặt tạo cho đất một nguồn chất hữu cơ lớn làm cho đất tơi xốp, không bị
chặt dí sau một vụ sản xuất. Khi sử dụng rơm rạ lại không phải thu gom, giá thành
rơm rạ rất rẻ làm giảm chi phí sản xuất, nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất nông
nghiệp.
1.2.2. Những nghiên cứu về phân hữu cơ
1.2.2.1. Lợi ích của việc bón phân hữu cơ cho cây trồng
Việc bón thuần phân hoá học trong nhiều năm, nhất là phân đạm cũng như
thuốc bảo vệ thực vật đã giết chết nhiều loài VSV có ích trong đất, tình trạng này đã
làm hư hỏng đất nên dịch hại ngày càng tăng. Việc sử dụng phân hoá học không cân
đối, thâm canh với cường độ cao mà không chú ý bón bổ sung chất hữu cơ cho đất,
về lâu dài có khả năng làm cho đất hoá chua và sẽ sinh ra hiện tượng thiếu hụt, mất
cân đối nhất là đối với các nguyên tố vi lượng. Khi độ phì tự nhiên của đất giảm sút
thì dù bón nhiều phân hoá học, năng suất cây trồng cũng như hiệu quả kinh tế của
việc sử dụng phân vẫn giảm thấp[3].
Nhiều nghiên cứu cho thấy trong điều kiện có bón phân đạm đầy đủ thì cây
trồng vẫn lấy đi từ đất 1/2 đến 2/3 tổng lượng đạm cần thiết cho cây. Chính vì vậy,
hướng lâu dài để cải thiện và phục hồi dần cấu trúc đất, tăng cường độ phì nhiêu về
mặt dinh dưỡng và sinh học đất, chống chịu các nguồn sâu bệnh từ đất là tăng
cường hàm lượng chất hữu cơ trong đất. Các loại phân hữu cơ như phân chuồng,
phân xanh, rơm rạ, tàn dư thực vật,… đóng vai trò quan trọng trong việc phục hồi
14
và nâng cao độ phì nhiêu của đất bị thoái hóa. Khối lượng phân hữu cơ vùi vào đất
càng lớn thì độ phì nhiêu được phục hồi càng nhanh.
Lợi ích của việc bón phân hữu cơ :
- Cải thiện và ổn định kết cấu của đất, đây là điều kiện tiên quyết làm cho đất
tơi xốp, thoáng khí.
hữu cơ để tiêu diệt hạt cỏ dại và mầm mống côn trùng, bệnh cây vừa thúc đẩy quá
trình phân huỷ chất hữu cơ, đẩy nhanh quá trình khoáng hoá để khi bón vào đất
phân hữu cơ có thể nhanh chóng cung cấp chất dinh dưỡng cho cây.
Ủ phân làm cho trọng lượng phân chuồng có thể giảm xuống, nhưng chất
lượng phân chuồng tăng lên. Sản phẩm cuối cùng của quá trình ủ phân là loại phân
hữu cơ được gọi là phân ủ, trong đó có mùn, một phần chất hữu cơ chưa phân huỷ,
muối khoáng, các sản phẩm trung gian của quá trình phân huỷ, một số enzym, chất
kích thích và nhiều loài vi sinh vật hoại sinh[3].
Các phương pháp ủ phân: Có 3 phương pháp ủ phân:
* Ủ nóng : Khi lấy phân ra khỏi chuồng để ủ, phân được xếp thành từng lớp
ở nơi có nền không thấm nước, nhưng không được nén. Sau đó tưới nước phân lên,
giữ độ ẩm trong đống phân 60 – 70%. Có thể trộn thêm 1% với bột (tính theo khối
lượng) trong trường hợp phân có nhiều chất độn. Trộn thêm 1 – 2% supe lân để giữ
đạm. Sau đó trát bùn bao phủ bên ngoài đống phân. Hàng ngày tưới nước phân lên
đống phân.
Sau 4 – 6 ngày, nhiệt độ trong đống phân có thể lên đến 60
o
C. Các loài vi
sinh vật phân giải chất hữu cơ phát triển nhanh và mạnh. Các loài vi sinh vật háo
khí chiếm ưu thế. Do tập đoàn vi sinh vật hoạt động mạnh cho nên nhiệt độ trong
đống phân tăng nhanh và đạt mức cao. Để đảm bảo cho các loài vi sinh vật háo khí
hoạt động tốt cần giữ cho đống phân tơi, xốp, thoáng.
Phương pháp ủ nóng có tác dụng tốt trong việc tiêu diệt các hạt cỏ dại, loại
trừ các mầm mống sâu bệnh. Thời gian ủ tương đối ngắn. Chỉ 30 – 40 ngày là ủ
xong, phân ủ có thể đem sử dụng. Tuy vậy, phương pháp này có nhược điểm là để
mất nhiều đạm.
* Ủ nguội : Phân được lấy ra khỏi chuồng, xếp thành lớp và nén chặt. Trên
mỗi lớp phân chuống rắc 2% phân lân. Sau đó ủ đất bột hoặc đất bùn khô đập nhỏ,