Một số giải pháp nâng cao hiệu quả đầu tư cho giáo dục trung học phổ thông ở thành phố hồ chí minh - Pdf 29

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
______________________
ĐỖ ANH TUẤN
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ
ĐẦU TƯ CHO GIÁO DỤC TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC S KHOA HỌC GIÁO DỤC
NGHỆ AN, 2014
1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
______________________
ĐỖ ANH TUẤN
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ
ĐẦU TƯ CHO GIÁO DỤC TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã số: 60.14.01.14
LUẬN VĂN THẠC S KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Đinh Xuân Khoa
NGHỆ AN, 2014
2
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập tại Trường Đại học Vinh, tôi đã nhận được rất
nhiều sự quan tâm, giúp đỡ.
Nhân dịp luận văn được bảo vệ, tôi bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới
PGS.TS. Đinh Xuân Khoa, người đã định hướng đề tài và trực tiếp hướng
dẫn, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn.
Cảm ơn các thầy giáo, cô giáo trong Phòng Đào tạo Sau Đại học -
Trường Đại học Vinh, Trung tâm thông tin - thư viện Nguyễn Thúc Hào

mọi thời đại. Để phát triển nguồn lực con người không gì bằng và không có
con đường nào khác ngoài con đường giáo dục. Bởi thế, đầu tư cho giáo dục
luôn là đòi hỏi thường trực, tất yếu của mọi thời đại. Tất nhiên, ở mỗi giai
đoạn, tùy theo từng điều kiện khách quan, chủ quan mà chiến lược đầu tư có sự
khác nhau trong việc xác định mục tiêu tổng quát, các nội dung đầu tư cần ưu
tiên và các hình thức đầu tư phù hợp.
1.2. Đầu tư nói chung và đầu tư trong giáo dục nói riêng đang còn
nhiều bất cập. Mới đây, tại kỳ họp thứ 6 Quốc hội khóa XIII, nhiều hạn chế,
tồn tại trong đầu tư đã được nêu ra, trong đó có nhiều ^ kiến tập trung vào
vấn đề thất thoát, lãng phí nguồn vốn. Đầu tư trong giáo dục mặc dù là lĩnh
vực đầu tư đặc thù song có quan hệ tới Luật Đất đai, Luật Xây dựng, Luật
Đầu tư, Luật Giáo dục nên những vướng mắc, khó khăn, tồn tại hạn chế
trong quan hệ đầu tư là không thể tránh khỏi. Do đó, hiệu quả đầu tư chưa
được phát huy tối đa, thậm chí đây đó còn xảy ra tình trạng thất thoát, lãng
phí. Trong bối cảnh hiện nay, nhất là trong thời điểm giáo dục nước nhà
đang gặp nhiều khó khăn, việc đề ra các giải pháp để nâng cao hiệu quả, chất
lượng đầu tư trong lĩnh vực giáo dục là điều kiện rất căn bản để tạo động lực
vực dậy nền giáo dục nước nhà, đi tới xây dựng nền “giáo dục sạch” (Bùi
Trần Phượng), công khai, minh bạch và có các điều kiện cơ bản để người
học phát huy tối đa năng lực.
1.3. TP Hồ Chí Minh là vùng đất giàu truyền thống văn hóa - lịch sử với
hơn 300 năm hình thành và phát triển. Là TP năng động, đầu tàu kinh tế của
khu vực phía Nam, những năm qua, các lĩnh vực đời sống xã hội của TP Hồ
1
Chí Minh liên tục có bước tăng trưởng khá. Ngành giáo dục của TP liên tiếp
mở rộng quy mô, cải thiện về chất lượng đào tạo, nhất là chất lượng mũi nhọn,
cơ sở vật chất đầu tư cho công tác dạy và học được chú trọng. Bên cạnh những
thành tích, kết quả đó, ngành giáo dục của TP Hồ Chí Minh vẫn còn bộc lộ một
số hạn chế như: chất lượng giáo dục chưa đồng đều, cơ sở vật chất phục vụ dạy
và học một số nơi chưa đáp ứng nhu cầu trong tình hình mới; một số trường, sĩ

5.1. Nghiên cứu, làm rõ cơ sở l^ luận của hoạt động đầu tư trong lĩnh
vực giáo dục.
5.2. Điều tra, khảo sát, đánh giá thực trạng đầu tư trong lĩnh vực giáo
dục của TP Hồ Chí Minh thời gian qua.
5.3. Đề xuất phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ và một số giải pháp cơ
bản nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư trong lĩnh vực giáo dục THPT của TP Hồ
Chí Minh trong giai đoạn hiện nay.
6. Phương pháp nghiên cứu
4,-,5678019:9;
Phương pháp phân tích, tổng hợp, khái quát hóa tài liệu liên quan để
xây dựng cơ sở l^ luận của đề tài.
4,2,567801<=
- Phương pháp Điều tra qua các phiếu hỏi.
- Phương pháp Lấy ^ kiến chuyên gia.
- Phương pháp Tổng kết kinh nghiệm giáo dục.
- Phương pháp Nghiên cứu các sản phẩm hoạt động.
- Phương pháp Khảo nghiệm, thử nghiệm.
4,+, >8?0!
Sử dụng phương pháp này để xử l^ các số liệu thu được về mặt định lượng.
7. Đóng góp của đề tài
- Về l^ luận: Nêu và hệ thống hoá các cơ sở l^ luận về công tác đầu tư
trong lĩnh vực giáo dục.
3
- Về thực tiễn: Khảo sát thực trạng và đưa ra các giải pháp nhằm nâng
cao hiệu quả đầu tư trong lĩnh vực giáo dục của TP Hồ Chí Minh.
- Kết quả nghiên cứu của đề tài được công bố trong 01 bài báo: Đầu tư
cho giáo dục Trung học phổ thông ở Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và
giải pháp, Tạp chí Giáo dục, Số Đặc biệt (tháng 3/2014), tr.20-23.
8. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, luận văn gồm

Vẫn trên Tạp chí Nghiên cứu giáo dục, năm 1993 (số 03), tác giả
Nguyễn Quang Kính cho đăng bài "Một số đề xuất về đầu tư cho sự nghiệp
giáo dục và đào tạo". Với quan sát của một người quan tâm tới ngành giáo
dục và đào tạo, tác giả Nguyễn Quang Kính đã đề xuất 3 vấn đề cơ bản mà
ngành giáo dục lúc đó đang quan tâm là: đổi mới công tác quản l^ theo hướng
5
chú trọng hiệu quả giáo dục; tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, chú trọng xây
dựng các trường điểm; phân khai nguồn vốn hợp lí, có sự ưu tiên cho các mục
tiêu trước mắt.
Tác giả Trần Xuân Hải năm 2001 bảo vệ thành công Luận án Tiến sĩ
Kinh tế với đề tài Giải pháp tạo vốn đầu tư phát triển sự nghiệp đào tạo giai
đoạn hiện nay ở Việt Nam. Có thể nói, đây là công trình có quy mô đầu tiên
bàn về vấn đề đầu tư cho giáo dục, đào tạo. Trong công trình của mình, tác
giả đã giành phần đầu luận án để bàn về thực trạng đầu tư cho sự nghiệp giáo
dục. Ở phần sau, tác giả đề ra các giải pháp khai thác nguồn vốn đầu tư phát
triển sự nghiệp giáo dục đào tạo giai đoạn 2001 - 2020.
Tác giả Nguyễn Thị Hương trong bài "Một vài suy nghĩ về đầu tư cho
giáo dục", Tạp chí Giáo dục, số 107, năm 2005 đã nêu một số một số vấn đề
cơ bản trong công tác đầu tư cho giáo dục như: Cần hoàn thiện cơ sở lí luận,
thực tiễn, cơ chế chính sách và các giải pháp xã hội hóa giáo dục, khuyến
khích huy động và tạo điều kiện để toàn xã hội tham gia phát triển giáo dục,
phát triển các trường ngoài công lập, mở rộng các quỹ khuyến học.
Trên Tạp chí Giáo dục, số 112, năm 2005, tác giả Ngô Văn Hiền đăng
bài "Các giải pháp nâng cao hiệu quả đầu tư cho giáo dục đào tạo thời kỳ
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước"
Năm 2011, tác giả Phan Văn Sỹ bảo vệ thành công luận văn "Biện
pháp quản lý nguồn lực tài chính đầu tư cho giáo dục THPT thông qua tỉnh
Hòa Bình. Luận văn dầu tập trung vào mảng giáo dục THPT song đã đề cập
tới một số biện pháp cơ bản trong quản l^ nguồn tài chính, qua đó, có thể áp
dụng rộng rãi trong quản l^ ngân sách tài chính giáo dục nói chung.

-,2,-,AB&>
Giáo dục là khái niệm chỉ một hoạt động trong xã hội loài người. Cổ
nhân đã từng nói: “Cổ giả dịch tử nhi giáo chi” (người xưa đổi con cho nhau
mà dạy dỗ) (Mạnh Tử) để đề cao cách thức, phương pháp giáo dục. Từ đây,
7
trong nội dung diễn ngôn của Mạnh Tử, chúng ta có thể nhận thấy cách hiểu,
cách định nghĩa súc tích về giáo dục: giáo dục = dạy dỗ.
Theo từ "giáo dục" tiếng Anh - "Education" - vốn có gốc từ tiếng La
tinh "Educare" có nghĩa là "làm bộc lộ ra". Có thể hiểu "giáo dục là quá trình,
cách thức làm bộc lộ ra những khả năng tiềm ẩn của người được giáo dục”.
Theo Từ điển Tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên, giáo dục là: “Hoạt
động nhằm tác động một cách có hệ thống đến sự phát triển tinh thần, thể chất
của một đối tượng nào đó, làm cho đối tượng ấy dần có được những phẩm
chất và năng lực như yêu cầu đề ra” [28; 379].
Theo Bách khoa Toàn thư Wikipedia (), mục từ
“giáo dục” được hiểu là: “Q
uá trình được tổ chức có ^ thức, hướng tới mục đích khơi gợi hoặc biến
đổi nhận thức, năng lực, tình cảm, thái độ của người dạy và người học theo
hướng tích cực. Nghĩa là góp phần hoàn thiện nhân cách người học bằng những
tác động có ^ thức từ bên ngoài, góp phần đáp ứng các nhu cầu tồn tại và phát
triển của con người trong xã hội đương đại” [10].
Dù có nhiều cách diễn đạt khác nhau, nhưng theo chúng tôi, giáo dục
hiểu một cách chung nhất là truyền thụ, phổ biến kiến thức, sự hiểu biết cho
một đối tượng nào đó (nhóm người, cá nhân nào đó) nhằm mục đích nâng cao
nhận thức, sự hiểu biết cho đối tượng.
Từ cách hiểu trên (nghĩa gốc, là động từ), từ giáo dục được hiểu theo
nghĩa thứ hai, là danh từ: chỉ hệ thống hoạt động phục vụ công tác truyền thụ,
phổ biến kiến thức cho các đối tượng. Giáo dục ở đây được hiểu như một
phạm trù, một tồn tại, chỉ một lĩnh vực, phân biệt với lĩnh vực khác trong đời
sống xã hội. Biểu hiện rõ nhất của nghĩa thứ hai là từ giáo dục được đặt cạnh

tư. Ngay cả tổ chức Thương mại Quốc tế (WTO) cũng không quy định cụ thể
về vấn đề đầu tư. Ở các nước trên thế giới, pháp luật cũng có những cách hiểu
khác nhau về đầu tư, thậm chí, pháp luật một số nước không đưa ra khái niệm
“đầu tư” (Cambodia).
9
Trong Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên, khái niệm đầu tư
được hiểu rất chung, đó là việc: “bỏ nhân lực, vật lực, tài lực vào công việc gì,
trên cơ sở tính toán hiệu quả kinh tế xã hội” [28; 291]. Trong Kinh tế học, đầu
tư được hiểu là hoạt động sử dụng các nguồn lực hiện tại nhằm đem lại cho
nền kinh tế, xã hội những kết quả trong tương lai lớn hơn những nguồn lực đã
sử dụng để đạt được các kết quả đó. Tại Điều 3 của Luật Đầu tư số
59/2005/QH11 do Quốc hội khóa XI ban hành, đầu tư được hiểu là: “Đầu tư
là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình
thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của Luật này và
các quy định khác của pháp luật có liên quan”. Luật Đầu tư thống nhất có sự
phân biệt về thuật ngữ giữa đầu tư và hoạt động đầu tư, theo đó hoạt động
đầu tư được hiểu là “hoạt động của các nhà đầu tư trong quá trình đầu tư bao
gồm các khâu chuẩn bị đầu tư, thực hiện và quản lí dự án đầu tư" [22].
Như vậy, theo quy định tại Luật Đầu tư, hoạt động đầu tư là một bộ
phận của hoạt động thương mại, phù hợp với khái niệm của Luật Thương mại
2005 (Khoản 1, Điều 3). Hoạt động đầu tư có những đặc điểm của hoạt động
thương mại nói chung đó chính là mục đích lợi nhuận, đồng thời hoạt động
đầu tư cũng có mối liên hệ mật thiết với các hoạt động thương mại khác như
mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ thương mại… Tuy nhiên, hoạt động đầu
tư có đặc thù riêng so với các hoạt động thương mại khác, hoạt động đầu tư là
hoạt động có tính chất tạo lập, là sự bỏ vốn, tài sản… nhằm hình thành cơ sở
vật chất, kĩ thuật cũng như các điều kiện khác để thực hiện hoạt động tìm
kiếm lợi nhuận.
Đầu tư cho giáo dục là lĩnh vực đầu tư có điều kiện và được ưu đãi.
Cách thức vẫn là hi sinh một nguồn lực trong hiện tại để tiến hành những hoạt

những vấn đề đặt ra.
Giải pháp, theo hình thức chiết tự, là cách ghép nhập 2 từ tố với hai nội
dung khác nhau. Giải có nghĩa là cởi bỏ cái gì đó ra khỏi sự ràng buộc. Pháp
là phép, cách thức. Như vậy, theo nghĩa Hán Việt, giải pháp là cách thức cởi
11
bỏ cái gì đó ra khỏi sự ràng buộc. Nói cách khác, giải pháp chính là cách
thức, phương pháp đưa ra nhằm hướng tới một thực trạng tốt đẹp hơn so với
hiện tại. Dĩ nhiên, đã nói đến giải pháp là nói đến một hoặc một nhóm cách
thức, phương pháp đưa ra để thực hiện một mục đích nào đó tốt đẹp hơn.
Giải pháp nâng cao hiệu quả đầu tư là cách thức, phương pháp đưa ra
một hoặc một nhóm định hướng trong hoạt động đầu tư nhằm nâng cao hiệu
quả đầu tư (so với việc không tiến hành các cách thức, phương pháp này).
Trong đầu tư, hiệu quả đầu tư là thước đo khép lại một quá trình, một quy
trình. Bởi vậy, hiệu quả đầu tư, về lí thuyết, bao giờ cũng tồn tại sau khi đã
đầu tư. Song, nếu hiệu quả đó là tất yếu thì câu hỏi đặt ra là: liệu cách thức,
phương pháp tiến hành các hoạt động đầu tư để có kết quả đó đã thực sự tối
ưu hay chưa? Chính câu hỏi này buộc các chủ thể tham gia trong đầu tư phải
tính đến một cách chặt chẽ, căn cơ các giải pháp để làm sao hiệu quả đầu tư
đạt được là cao nhất song cách thức tiến hành tổ chức các hoạt động đầu tư là
tối ưu nhất.
Ở phần trên, chúng tôi đã tìm hiểu các khái niệm liên quan đến đề tài
đó là: giáo dục, giáo dục THPT; đầu tư, hiệu quả đầu tư; giải pháp, giải pháp
nâng cao hiệu quả đầu tư. Các khái niệm này là “hòn đá tảng” cơ bản để tiến
hành nghiên cứu và đưa ra các hoạt động nhằm đạt hiệu quả cao nhất trong
hoạt động đầu tư cho giáo dục THPT ở TP Hồ Chí Minh.
1.3. Một số vấn đề lý luận về đầu tư cho giáo dục trung học phổ
thông
-,+,-,) !"#
Đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển. Bởi vậy, đầu tư cho giáo
dục THPT nói riêng, giáo dục các cấp học, bậc học nói chung là vì sự phát

nền giáo dục thực sự đổi mới, năng động, phát huy tinh thần sáng tạo của học
sinh, tránh được tình trạng áp đặt, thụ động. Tất nhiên, để tiến tới mục đích đó
đòi hỏi phải tính đến "độ trễ thời gian", tức là thời gian thu được kết quả, đạt
được mục đích sau khi đã thực hiện các biện pháp đầu tư.
13
-,+,2,5 !"#
Trong bối cảnh nguồn vốn đầu tư cho giáo dục THPT có hạn, việc xác
định các nội dung đầu tư là cần thiết và tất yếu bởi nếu không, nguồn vốn sẽ
dàn trải, dẫn đến tình trạng bị “chia năm sẻ bảy” trong khi các mục tiêu đầu tư
không thực hiện được. Có thể nói, việc xác định đúng các nội dung đầu tư cho
giáo dục THPT sẽ quyết định trực tiếp đến việc mục tiêu đầu tư, chất lượng
giáo dục đào tạo có được đáp ứng hay không?
Tùy từng trường hợp cụ thể, căn cứ vào tình hình thực tế các cơ sở giáo
dục đào tạo, vào định hướng phát triển giáo dục THPT và khả năng đáp ứng
của nguồn vốn mà chúng ta xác định các nội dung đầu tư cụ thể cho phù hợp.
Tuy nhiên, nhìn chung, nội dung đầu tư cho giáo dục THPT chủ yếu tập trung
vào các lĩnh vực sau:
- Đầu tư cơ sở vật chất: đây là nội dung đầu tư được quan tâm nhất trong
bối cảnh hiện nay bởi vì cơ sở vật chất các trường THPT đang tồn tại các bất
cập, nhất là tình trạng xuống cấp của hệ thống phòng học chuyên môn, phòng
chức năng, sự thiếu hụt và lạc hậu của các trang thiết bị phục vụ dạy học. Đầu
tư cơ sở vật chất cho giáo dục THPT chủ yếu tập trung vào các nội dung:
+ Đầu tư quỹ đất: bao gồm toàn bộ diện tích đất phục vụ cho việc dạy
và học của nhà trường.
+ Đầu tư xây dựng mới các công trình nhà trường đang thiếu hoặc
không còn khả năng phục vụ hoạt động dạy học như nhà đa năng, trung tâm
thông tin, thư viện, hệ thống phòng học (nhất là phòng chức năng).
+ Đầu tư nâng cấp, sửa chữa, duy tu, bảo dưỡng công trình nhà học, các
phòng học, nhà điều hành, các phòng chức năng, phòng chuyên môn, khu nội
trú cho giáo viên, nhà thư viện, nhà để xe cho giáo viên, học sinh, sân trường,

xây dựng. Đặc điểm của các chương trình mục tiêu là thường tiến hành trong
thời gian dài, với sự huy động, hỗ trợ của nhiều nhân tố, bộ phận và cần nỗ lực
rất lớn của cả hệ thống để đạt mục tiêu đề ra. Do vậy, việc đầu tư về vật chất,
cơ chế chính sách, nhân lực… là rất cần thiết. Cụ thể, hiện nay, chương trình
15
mục tiêu của giáo dục THPT TP Hồ Chí Minh là chương trình đào tạo đạt
chuẩn giáo dục THPT; chương trình nâng cao năng lực sử dụng tiếng Anh cho
giáo viên và học sinh (bao gồm kinh phí tập huấn, bồi dưỡng năng lực tiếng
anh cho giáo viên, trang thiết bị phục vụ dạy và học ngoại ngữ).
- Đầu tư chương trình đổi mới giáo dục THPT: bao gồm đầu tư mua
sách giáo khoa, chi phí tập huấn chương trình mới, đào tạo cán bộ quản l^
theo yêu cầu chương trình mới; chi phí cho cán bộ, giáo viên tham quan các
mô hình đã thành công ở các trường THPT khác, đầu tư mua sắm các thiết bị
dạy học theo chương trình mới như các thiết bị thí nghiệm, thiết bị nghe, nhìn
(không nằm trong hạng mục đầu tư cơ sở vật chất nói trên vì đã được tính vào
tổng chi phí phục vụ cho chương trình).
Ngoài các nội dung kể trên, tùy từng trường hợp và điều kiện cụ thể mà
có thể xác định thêm các nội dung đầu tư khác phù hợp với Luật Giáo dục và
Luật Đầu tư. Đích đến cuối cùng của việc xác định nội dung đầu tư chính là
để nâng cao hiệu quả đầu tư và tiến tới nâng cao chất lượng giáo dục THPT.
-,+,+,&C1 !"#
Hình thức đầu tư là cách tiến hành hoạt động đầu tư của các nhà đầu tư
theo quy định của pháp luật. Trong điều kiện và môi trường giáo dục THPT,
hình thức đầu tư là cách thức mà pháp luật cho phép các nhà đầu tư sử dụng
nguồn lực đầu tư, liên kết và thụ hưởng kết quả đầu tư. Căn cứ vào nhu cầu và
điều kiện mà mình có thể đáp ứng, các nhà đầu tư có thể lựa chọn những hình
thức đầu tư trên cơ sở luật định. Theo quy định của Luật Đầu tư (2005), hình
thức đầu tư mà nhà đầu tư được phép tiến hành bao gồm hình thức đầu tư trực
tiếp (Khoản 2, Điều 3 của Luật Đầu tư) và hình thức đầu tư gián tiếp (Khoản
3, Điều 3 của Luật Đầu tư). Luật Đầu tư (2005) quy định hai loại hình thức

dung thường gắn theo một hình thức đầu tư đi kèm bởi vì tính phù hợp cũng
như sự quy định của pháp luật về nó. Chẳng hạn, đầu tư của nước ngoài vào
giáo dục THPT, nội dung là xây dựng cơ sở vật chất trường học, hình thức
thường sẽ là: liên kết hợp tác giữa các bên. Ngoài ra, do đặc thù của giáo dục
THPT nên nội dung và hình thức đầu tư có khác hơn so với đầu tư cho các
bậc học khác, nhất là giáo dục sau THPT. Phạm vi của giáo dục sau THPT
thường rộng hơn, quy mô lớn hơn và tập trung hơn.
17
-,+,D, E0BF0GHI !
"#
Đầu tư bất kỳ một lĩnh vực nào cũng phải đề ra các yêu cầu và nguyên
tắc trong quá trình triển khai thực hiện. Đó là hai vấn đề nhằm đảm bảo thực
hiện thành công, hiệu quả chương trình, dự án đầu tư.
Yêu cầu của việc đầu tư cho giáo dục THPT là những vấn đề bắt buộc
chủ đầu tư phải thực hiện khi đầu tư cho giáo dục THPT. Nói cách khác, đó là
những vấn đề thuộc thẩm quyền, trách nhiệm của chủ thể đầu tư. Thông
thường, đó là các yêu cầu về: hiệu quả đầu tư, thời gian đầu tư, sự an toàn
trong quá trình đầu tư, sự quản lí nhà nước về đầu tư.
Nguyên tắc đầu tư cho giáo dục THPT là những điều bắt buộc phải tuân
theo khi tiến hành các hoạt động trong chuỗi hoạt động đầu tư cho giáo dục
THPT. Vì là một khái niệm “mở” nên nguyên tắc thường không quy định cụ
thể gồm những điều nào, vấn đề nào trong hoạt động đầu tư mà chủ yếu dựa
vào từng chương trình, dự án mà có các điều, những vấn đề cơ bản đặt ra một
cách phù hợp. Đối với đầu tư cho giáo dục THPT, các nguyên tắc có thể đặt
ra là: nguyên tắc thực tiễn (căn cứ vào thực tiễn giáo dục THPT và thực tế để
đưa ra các giải pháp đầu tư phù hợp); nguyên tắc khả thi (các giải pháp thực
hiện đầu tư phải đảm bảo thực hiện được trong thực tế); nguyên tắc hiệu quả
(đầu tư phải mang lại hiệu quả như: đảm bảo cơ sở vật chất; nâng cao chất
lượng giờ dạy, giờ học; có sự chuyển biến trong học tập của học sinh).
Nội hàm, tính chất và mức độ của hai khái niệm “yêu cầu” và

phòng, tổ chức vững mạnh và hoạt động đồng bộ thì sẽ tạo nền móng tích cực
để công tác đầu tư cho hoạt động giáo dục đạt kết quả cao và ngược lại.
+ Cấu trúc dân số và nhu cầu đi học của con em trong độ tuổi trên
địa bàn.
+ Công tác quản l^, hiệu quả sử dụng nguồn vốn của nhà trường; công
tác tổ chức và hiệu quả dạy học; truyền thống của nhà trường.
Như vậy, hiệu quả của hoạt động đầu tư trong lĩnh vực giáo dục THPT
chịu nhiều yếu tố tác động, bao gồm yếu tố khách quan và yếu tố chủ quan.
-,+,4,&
Thể hiện bởi hệ số hiệu quả vốn đầu tư phát triển toàn xã hội ICOR
(Incremental Capital output Ratio) – là tỷ lệ % vốn đầu tư bỏ ra để tạo ra một
19

Trích đoạn Đầu tư cho các đơn vị trực thuộc Sở Giáo dục và Đào tạo Về việc chi ngân sách cho giáo dục trung học phổ thông Về đầu tư phát triển đội ngũ cán bộ, giáo viên Về đầu tư cho người học Về đầu tư cơ sở vật chất
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status