BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
PHẠM TRỌNG THƠ
MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ
PHÁT TRIỂN CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO
TRÌNH ĐỘ CAO ĐẲNG NGHỀ
Ở TRƯỜNG CĐ NGHỀ KỸ THUẬT VIỆT - ĐỨC NGHỆ
AN
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC GIÁO DỤC
2
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
PHẠM TRỌNG THƠ
MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ
PHÁT TRIỂN CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO
TRÌNH ĐỘ CAO ĐẲNG NGHỀ
Ở TRƯỜNG CĐ NGHỀ KỸ THUẬT VIỆT - ĐỨC NGHỆ
AN
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã số: 60.14.01.14
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Văn TứLỜI CẢM ƠN
Tác giả xin chân thành cảm ơn thầy giáo, cô giáo, cán bộ và nhân
viên Trường Đại học Vinh đã tạo điều kiện, giúp đỡ nhiệt tình chúng tôi
trong quá trình học tập cũng như nghiên cứu đề tài này.
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN 50
CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO TRÌNH ĐỘ CAO ĐẲNG NGHỀ 50
Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ KỸ THUẬT VIỆT - ĐỨC NGHỆ AN 50
2.1. Khái quát hệ thống dạy nghề, cao đẳng nghề hiện nay và giới thiệu về
Trường Cao đẳng Nghề kỹ thuật Việt - Đức Nghệ An 50
2.3. Đánh giá chung về thực trạng quản lý phát triển chương trình đào tạo trình độ cao
đẳng nghề 72
Tiểu kết Chương 2 76
Chương 3 77
MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN CHƯƠNG TRÌNH 77
ĐÀO TẠO TRÌNH ĐỘ CAO ĐẲNG NGHỀ KỸ THUẬT VIỆT - ĐỨC NGHỆ
AN 77
3.1. Nguyên tắc đề xuất biện pháp quản lý phát triển chương trình đào tạo trình độ cao
đẳng nghề 77
3.1.1. Nguyên tắc bám sát định hướng phát triển chương trình đào tạo trình độ
cao đẳng nghề 77
3.2. Một số giải pháp quản lý phát triển phát triển chương trình đào tạo trình độ cao
đẳng nghề ở trường cao đẳng nghề kỹ thuật Việt Đức Nghệ An 78
4
Tiểu kết Chương 3 94
5
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt Chữ đầy đủ
CĐN Cao đẳng nghề
CNH, HĐH Công nghiệp hoá, hiện đại hoá
CTĐT Chương trình đào tạo
CTK Chương trình khung
CSDN Cơ sở dạy nghề
CSĐT Cơ sở đào tạo
ĐTN Đào tạo nghề
hoá đất nước trong bối cảnh hội nhập quốc tế, sự nghiệp giáo dục và đào
tạo nước ta phải đổi mới căn bản, toàn diện và mạnh mẽ” [Tài liệu tham
khảo số 10]
Thực hiện các chủ trương của Đảng và Nhà nước về phát triển đội
ngũ nhân lực kỹ thuật trực tiếp có chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp và tác
phong công nghiệp, dạy nghề cần được đổi mới và phát triển để có đủ năng
lực đào tạo nhân lực kỹ thuật đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động về
số lượng, chất lượng. Trong dạy nghề chương trình dạy nghề là một cấu
phần quan trọng quyết định đến chất lượng dạy nghề, bởi lẽ chương trình
đào tạo nghề thể hiện mục tiêu đào tạo, kết quả quả đào tạo nghề mà người
học nghề có thể đạt được sau khi tham gia khóa học nghề. Chương trình
1
đào tạo nghề là căn cứ để xây dựng các yếu tố khác trong đào tạo nghề như
xây dựng học liệu đào tạo nghề, bố trí giáo viên giảng dạy, mua sắm và bố
trí trang thiết bị, máy móc đào tạo nghề, tổ chức đào tạo… Các cơ sở dạy
nghề phải căn cứ vào chương trình dạy nghề để xây dựng và đổi mới
phương pháp, phương tiện dạy học, triển khai dạy học và kiểm tra đánh giá
người học, phát triển nhà trường.
Nghị quyết số 29 Hội nghị Trung ương 8 (khóa XI) về đổi mới căn
bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện
đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và
hội nhập quốc tế, cũng đã khẳng định, đối với giáo dục nghề nghiệp, tập
trung đào tạo nhân lực có kiến thức, kỹ năng và trách nhiệm nghề nghiệp;
hình thành hệ thống giáo dục nghề nghiệp với nhiều phương thức và trình
độ đào tạo kỹ năng nghề nghiệp theo hướng ứng dụng, thực hành, bảo đảm
đáp ứng nhu cầu nhân lực kỹ thuật công nghệ của thị trường lao động trong
nước và quốc tế; nội dung giáo dục nghề nghiệp được xây dựng theo hướng
tích hợp kiến thức, kỹ năng, tác phong làm việc chuyên nghiệp để hình
thành năng lực nghề nghiệp cho người học; đổi mới phương thức đánh giá
và công nhận tốt nghiệp giáo dục nghề nghiệp trên cơ sở kiến thức, năng
lượng và hiệu quả đào tạo nghề trình độ cao đẳng nghề.
Những năm qua, Trường Cao đẳng nghề kỹ thuật Việt –Đức Nghệ
An đã chú trọng, chủ động quan tâm đến việc phát triển chương trình đào
tạo nghề nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nghề. Tuy nhiên, công tác đào
tạo nghề của Nhà trường còn tồn tại một số vấn đề như quá trình quản lý
đào tạo nghề chưa đồng bộ từ mục tiêu, nội dung chương trình, đội ngũ
giáo viên, phương pháp đào tạo, điều kiện cơ sở vật chất còn bất cập, hạn
chế nên chất lượng đào tạo nghề chưa cao, chưa đáp ứng được nhu cầu sử
dụng lao động đa dạng hiện nay của thị trường.
Vì vậy việc nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn làm tiền đề đề xuất
một số giải pháp quản lý phát triển chương trình đào tạo trình độ cao đẳng
nghề trong giai đoạn tới là cần thiết và cấp bách nhằm nâng cao chất lượng
3
chương trình đào tạo nghề, góp phần nâng cao chất lượng dạy nghề, đáp
ứng yêu cầu nguồn nhân lực để phát triển kinh tế - xã hội theo hướng công
nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế của đất nước.
Xuất phát từ những lý do trên tôi chọn đề tài: “Một số giải pháp
quản lý phát triển chương trình đào tạo trình độ cao đẳng nghề ở Trường
Cao đẳng nghề kỹ thuật Việt Đức Nghệ An” làm luận văn thạc sỹ, nhằm
góp phần nâng cao chất lượng quản lý chương trình đào tạo, ngũ giáo viên,
cơ sở vật chất của Trường Cao đẳng nghề kỹ thuật Việt –Đức nghệ An nói
riêng cũng như đóng góp một số giải pháp trong quản lý để nâng cao chất
lượng đào tạo nghề ở các trường dạy nghề khác trong tỉnh và trên toàn quốc
nói chung.
2. Mục đích nghiên cứu
Từ những cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng, luận văn đề xuất một
số giải pháp quản lý phát triển chương trình đào tạo trình độ cao đẳng nghề
tại Trường Cao đẳng Nghề kỹ thuật Việt – Đức Nghệ An.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu
Nhóm phương pháp này sử dụng để phân tích, tổng hợp dữ liệu các
tài liệu có liên quan để tổng quan cơ sở lý luận về quản lý phát triển
chương trình đào tạo trình độ cao đẳng nghề; đồng thời dự báo để tìm kiếm,
xây dựng những giải pháp quản lý phát triển chương trình đào tạo trình độ
cao đẳng nghề.
6.2. Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp điều tra: khảo sát bằng phiếu hỏi tại một số đơn vị sản
xuất kinh doanh, người học để đánh giá về mức độ phù hợp với nhu cầu và
thực trạng quản lý phát triển chương trình đào tạo trình độ cao đẳng nghề.
Đồng thời, thu thập, phân tích tổng hợp các số liệu từ Tổng cục Dạy nghề,
sách báo, internet, xin ý kiến chuyên gia về quản lý phát triển chương trình
dạy nghề dạy nghề để tổng kết kinh nghiệm trong nước và quốc tế.
5
- Phương pháp thống kê: để xử lý các số liệu điều tra, tìm kiếm về
tính cấp thiết và tính khả thi của những giải pháp được đề xuất.
- Phương pháp chuyên gia: xin ý kiến chuyên gia về kết quả đánh giá
thực trạng và một số biện pháp quản lý phát triển CTĐT TĐCĐN để tìm
hiểu về tính hợp lý và khả thi của các biện pháp đề xuất.
7. Đóng góp mới của luận văn
- Luận văn góp phần khái quát một số vấn đề về cơ sở lý luận quản
lý giáo dục, quản lý nhà trường và quản lý phát triển chương trình đào tạo
trình độ cao đẳng nghề ở trường cao đẳng nghề kỹ thuật Việt – Đức Nghệ
An.
- Từ kết quả đánh giá thực trạng công tác nói trên, luận văn đề xuất
một số giải pháp quản lý phát triển chương trình đào tạo trình độ cao đẳng
nghề tại Trường Cao đẳng Nghề kỹ thuật.
8. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, tài liệu tham khảo, phụ
lục, luận văn có 3 chương:
Chương 1. Cơ sở lý luận và kinh nghiệm quốc tế về quản lý
- Nguyễn Đức Trí (2010), Giáo dục nghề nghiệp: Một số vẫn đề lý luận
và thực tiễn, NXB Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội.
- Nguyễn Đức Trí (2010), Giáo trình Quản lý quá trình đào tạo trong
nhà trường, Nhà xuất bản khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội.
Các nghiên cứu nói trên đã đề cập đến nhiều khía cạnh khác nhau trong
quản lý phát triển chương trình đào tạo nghề (ĐTN), như cơ sở lý luận phát
7
triển chương trình ĐTN, quản lý phát triển chương trình ĐTN Tuy nhiên,
các nghiên cứu nói trên đa phần chỉ đề cập đến phương pháp luận phát triển
chương trình ĐTN và quản lý một số khâu trong phát triển chương trình
ĐTN mà chưa có nghiên cứu chuyên sâu về quản lý phát triển chương trình
đào tạo trình độ cao đẳng nghề trong tiến trình hiện đại hóa, công nghiệp
hóa đất nước, hội nhập kinh tế quốc tế và đặc biệt là nhu cầu xã hội từng
thời điểm, đặc điểm vùng miền, Vì vậy, việc nghiên cứu quản lý phát
triển chương trình đào tạo trình độ cao đẳng nghề là cần thiết.
1.1.2. Kinh nghiệm quản lý phát triển chương trình đào tạo nghề
tại một số quốc gia
Trên thế giới, nhiều quốc gia đã có một nền giáo dục phát triển,
trong đó có đào tạo nghề. Một trong những thành công của các quốc gia đó
là đã xây dựng được một chiến lược phát triển chương trình đào tạo khoa học,
hiện đại, cập nhật với mục tiêu phát triển nguồn nhân lực của quốc gia đó.
Những kết quả quản lý phát triển chương trình đào tạo nghề tại Australia,
Singapore, Thái Lan, và nhiều quốc gia khác là những bài học kinh nghiệm
cho việc quản lý phát triển chương trình đào tạo nghề cho Việt Nam.
1.1.2.1. Quản lý phát triển chương trình của Australia
Tại Australia có đào tạo trình độ đào tạo quốc gia AQTF (Australian
Quality Training Framework) là các tiêu chuẩn đào tạo ở mỗi cấp do Cơ
quan thẩm quyền nhà nước về quản lý chất lượng đào tạo ANTA (Australia
National Training Authority) quản lý. Đào tạo AQTF gồm 6 cấp trình độ
chuẩn của giáo dục nghề nghiệp, được xây dựng dựa trên các hệ thống tiêu
theo hướng dẫn đào tạo được triển khai từ các gói đào tạo, đăng ký bao gồm:
các liên quan giữa chương trình hiện tại và yêu cầu chất lượng mới; mối quan
hệ giữa cấu trúc chương trình hiện tại và các bài học mới; các quy định hoặc
các giấy phép yêu cầu; thời gian danh nghĩa của các bài học và các chất lượng
yêu cầu; các chương trình đào tạo mẫu; danh mục các nguồn lực hiện tại và
nguồn lực mới có thể được sử dụng triển khai đào tạo; bảng các kế hoạch
9
tiến độ được chấp thuận cho thời gian học nghề.
Các hướng dẫn này cũng được công khai trên thông tin đại chúng.
Trong quá trình đào tạo các chương trình vẫn được tiếp tục đánh giá
điều chỉnh thông qua các chuyên gia quản lý duy trì nội dung chương trình
thường được xem như là các nhà quản lý chương trình (CMMs -
CurriculuM Managers), được chỉ định ban đầu bởi văn phòng đào tạo và
giáo dục sau phổ thông (OTTE) của vùng, nhằm đánh giá và duy trì bản
quyền nội dung chương trình và cung cấp một dịch vụ thông tin và tư vấn
đào tạo. Các chuyên gia này thuộc biên chế của cơ sở TAFE. Các nhà quản
lý chương trình là nguồn tư vấn chính trên các gói đào tạo, nội dung
chương trình và các nguồn học liệu có sẵn được phân bổ nằm trong nhóm
ngành của họ. Trách nhiệm của họ bao gồm: đóng góp phát triển chuyên môn
trong các hướng dẫn đào tạo; tư vấn các thông tin ban đầu trên việc thực hiện
các gói đào tạo; tư vấn trong thực hiện điều chỉnh nội dung chương trình đào
tạo; tư vấn thông tin trong các quá trình đánh giá trong gói đào tạo; cung cấp
các chỉ dẫn thích hợp cho triển khai chương trình đào tạo.
1.1.2.2. Quản lý phát triển chương trình của Singapore
Việc xây dựng các chương trình ĐTN ở Singapore chủ yếu bởi các
Học viện giáo dục kỹ thuật ITE (Institute of Technical Education), Bộ Giáo
dục Singapore có trách nhiệm phân loại các CTĐT do trường xây dựng.
Quản lý phát triển các chương trình đào tạo của ITE thông qua quản
lý hoạt động phát triển chương trình theo một quy trình phát triển chương
trình hệ thống với cấu trúc chương trình quy định trước cho toàn thể các
quan của DSD Trung ương và vùng. Các chương trình đào tạo và tài liệu
ĐTN được phát triển chủ yếu tại bộ phận kế hoạch và nghiên cứu công
nghệ nằm trong cơ quan của DSD Trung ương theo kế hoạch hàng năm.
DSD của các vùng căn cứ theo các chương trình đã được ban hành và
đặc trưng của vùng để tiến hành điều chỉnh cho phù hợp. Quá trình điều
chỉnh phải báo cáo lại cho DSD Trung ương về nội dung điều chỉnh
11
trước khi đào tạo.
Kinh nghiệm quản lý phát triển chương trình đào tạo nghề tại một số
quốc gia nói trên đã đặt ra một số vấn đề lý luận và thực tiễn để chúng ta
học tập, vận dụng vào việc đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục – đào tạo
nói chung và dạy nghề nói riêng.
1.2. Một số khái niệm cơ bản
1.2.1. Khái niệm đào tạo cao đẳng, đào tạo cao đẳng nghề kỹ thuật
1.2.1.1. Khái niệm đào tạo cao đẳng
Trong hệ thống giáo dục đào tạo của Việt Nam nói riêng và của nhiều
nước trên thế giới nói chung luôn tồn tại bậc học trình độ cao đẳng. Mục tiêu
là đào tạo cơ bản cho người lao động có kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp, có
đạo đức, lương tâm nghề nghiệp, ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp, có
sức khoẻ nhằm tạo điều kiện cho người lao động có khả năng tìm việc làm, tự
tạo việc làm hoặc tiếp tục học tập nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ,
đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh.
1.2.1.2. Khái niệm đào tạo cao đẳng nghề kỹ thuật
Hiện nay, đang tồn tại nhiều định nghĩa về đào tạo nghề (Dạy nghề).
Một số nhà nghiên cứu trong và ngoài nước đã đưa ra một số khái niệm:
Đào tạo là một lĩnh vực bao gồm toàn bộ các hoạt động của nhà
trường nhằm cung cấp kiến thức, kỹ năng và giáo dục cho học sinh, sinh
viên. Đây là công việc kết nối giữa mục tiêu đào tạo, nội dung chương
trình đào tạo, tổ chức thực hiện chương trình và các vấn đề liên quan đến
tuyển sinh, đào tạo, giám sát, đánh giá, kiểm tra, tổ chức thực tập, thi tốt
hành. Sự tích hợp thể hiện ở chỗ nó đòi hỏi người học sinh hôm nay,
người thợ trong tương lai phải vừa chuyên sâu về kiến thức, vừa phải
thành thục về kỹ năng tay nghề. Đây là điểm khác biệt lớn trong dạy nghề
so với dạy văn hoá.
Dạy nghề cung cấp cho học sinh những kiến thức và kỹ năng, thái độ
nghề nghiệp cần thiết của một nghề. Về kiến thức học sinh hiểu được cơ sở
13
khoa học về vật liệu, dụng cụ, trang thiết bị, quy trình công nghệ, biện pháp tổ
chức quản lí sản xuất để người công nhân kỹ thuật có thể thích ứng với sự
thay đổi cơ cấu lao động trong sản xuất và đào tạo nghề mới. Học sinh được
cung cấp kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp như kỹ năng sử dụng công cụ gia
công vật liệu, các thao tác kỹ thuật, lập kế hoạch tính toán, thiết kế và khả
năng vận dụng vào thực tiễn. Đó là những cơ sở ban đầu để người học sinh-
người cán bộ kỹ thuật tương lai hình thành kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp, phát
huy tính sáng tạo hình thành kỷ luật, tác phong lao động công nghiệp.
Nguyên lý và phương châm của dạy nghề: Học đi đôi với hành; lấy
thực hành, thực tập kỹ năng nghề làm chính; coi trọng giáo dục đạo đức,
lương tâm nghề nghiệp, rèn luyện ý thức tổ chức kỷ luật, tác phong công
nghiệp của người học, đảm bảo tính giáo dục toàn diện.
Dạy nghề hiện nay có ba cấp trình độ đào tạo là sơ cấp nghề, trung
cấp nghề và cao đẳng nghề. Hình thức dạy nghề bao gồm dạy nghề chính
quy, dạy nghề thường xuyên.
Dạy nghề trình độ cao đẳng nhằm trang bị cho người học nghề kiến
thức chuyên môn và năng lực thực hành tốt nhất các công việc của một
nghề, có khả năng làm việc độc lập và tổ chức làm việc theo nhóm; có khả
năng sáng tạo, ứng dụng kỹ thuật, công nghệ vào công việc; giải quyết
được các tình huống phức tạp trong thực tế; có đạo đức, lương tâm nghề
nghiệp, ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp, có sức khoẻ, tạo điều kiện
cho người học nghề sau khi tốt nghiệp có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc
làm hoặc tiếp tục học lên trình độ cao hơn.
trình tự cách thức tổ chức thực hiện và kiểm tra đánh giá các hoạt động
giảng dạy cho toàn khoá đào tạo và cho từng môn học, phần học, chương,
mục và bài giảng. Chưong trình đào tạo do các cơ sở đào tạo xây dựng trên
cơ sở chưong trình đào tạo đã đựoc các cấp có thẩm quyền phê duyệt.
Như vậy chương trình đào tạo hay chương trình giảng dạy không chỉ
phản ánh nội dung đào tạo mà là một văn bản hay bản thiết kế thể hiện tổng
15
thể các thành phần của quá trình đào tạo , điều kiện, cách thức, quy trình tỏ
chức, đánh giá các hoạt động đào tạo để đạt được mục tiêu đào tạo.
Theo Luật giáo dục 2005 (sửa đổi bổ sung năm 2009), chương trình
giáo dục được quy định theo điều 6 Chương I là: “Chương trình giáo dục
thể hiện mục tiêu giáo dục, quy định chuẩn kiến thức, kỹ năng, phạm vi và
cấu trúc nội dung giáo dục, phương pháp và hình thức tổ chức hoạt động
giáo dục, cách thức đánh giá kết quả giáo dục đối với các môn học ở mỗi
lớp, mỗi cấp học hay trình độ đào tạo”[ ]
Theo các bậc học loại hình giáo dục, Luật Giáo dục 2005 cũng quy
định chương trình giáo dục cụ thể: “Chương trình giáo dục nghề nghiệp thể
hiện mục tiêu giáo dục nghề nghiệp, quy định chuẩn kiến thức, kỹ năng,
phạm vi và cấu trúc nội dung giáo dục nghề nghiệp, phương pháp và hình
thức tổ chức hoạt động giáo dục, cách thức đánh giá kết quả giáo dục đối
với các môn học, ngành, nghề,trình độ đào tạo của giáo dục nghề nghiệp;
bảo đảm liên thông với các chương trình giáo dục khác”.
Chương trình đào tạo về đào tạo trung cấp chuyên nghiệp bao gồm
cơ cấu nội dung, số môn học, thời lượng các môn học, tỷ lệ thời gian giữa
lý thuyết và thực hành, thực tập đối với từng ngành nghề đào tạo. Căn cứ
vào chương trình đào tạo, trường trung cấp chuyên nghiệp xác định chương
trình đào tạo của mình (Điều 35- Luật Giáo dục 2005)
Chương trình đào tạo cho từng ngành đào tạo đối với trình độ cao
đẳng, trình độ đại học bao gồm cơ cấu nội dung các môn học, thời lượng
đào tạo, tỷ lệ phân bổ thời gian giữa các môn học, giữa lý thuyết và thực
phát triển của khoa học kỹ thuật, công nghệ mới đáp ưng nhu cầu thị
trường lao động thì chương trình đào tạo trình độ cao đẳng nghề phải
luôn luôn phát triển.
1.2.3. Khái niệm quản lý, giải pháp quản lý
1.2.3.1. Khái niệm về quản lí
“Quản lí” là từ Hán Việt được ghép giữa từ “Quản” và từ “Lí”.
17
“Quản” là sự trông coi, chăm sóc, giữ gìn, duy trì ở trạng thái ổn định. “Lí”
là sự sửa sang, sắp xếp, làm cho nó phát triển. Như vậy, “Quản lí” là trông
coi, chăm sóc, sửa sang làm cho nó ổn định và phát triển.
Quản lí là một hiện tượng xã hội xuất hiện rất sớm, là một phạm trù
tồn tại khách quan được ra đời từ bản thân nhu cầu của mọi chế độ xã hội,
mọi quốc gia và ở mọi thời đại. Lịch sử đã chỉ rõ, ngay từ buổi sơ khai của
loài người, để tồn tại và phát triển con người đã biết liên kết nhau thành các
nhóm để chống lại thú dữ và thiên nhiên, Do đó đã xuất hiện các mối quan
hệ giữa con người với con người, giữa con người với thiên nhiên, giữa con
người với xã hội và giữa con người với bản thân mình. Trong quá trình ấy
đã xuất hiện một số người có năng lực chi phối được người khác, họ điều
khiển hoạt động của nhóm sao cho phù hợp với mục tiêu chung. Những
người đó đóng vai trò thủ lĩnh để quản lí nhóm, điều này đã làm nẩy sinh
nhu cầu về quản lí. Như vậy, quản lí xuất hiện từ rất sớm và tồn tại, phát
triển đến ngày nay.
Theo quan điểm điều khiển học: Quản lí là chức năng của những hệ
có tổ chức, với bản chất khác nhau: sinh học, xã hội học, kỹ thuật nó bảo
toàn cấu trúc các hệ, duy trì chế độ hoạt động. Quản lí là một tác động hợp
quy luật khách quan, làm cho hệ vận động, vận hành và phát triển.
Theo quan điểm của lí thuyết hệ thống: Quản lí là "Phương thức tác
động có chủ định của chủ thể quản lí lên hệ thống, bao gồm hệ các quy tắc,
các ràng buộc về hành vi đối với mọi đối tượng ở các cấp trong hệ thống
nhằm duy trì tính trội hợp lí của cơ cấu và đưa hệ thống đạt tới mục tiêu".
cứu Nguyễn Ngọc Quang quan niệm: "Quản lí là tác động có mục đích, có
kế hoạch của chủ thể quản lí đến tập thể những người lao động (khách thể
quản lí) nhằm thực hiện những mục tiêu dự kiến". Theo tác giả Hồ Văn
Vĩnh thì: “Quản lí là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể
quản lí tới đối tượng quản lí nhằm đạt mục tiêu đã đề ra”. Khái niệm này
được tác giả Nguyễn Văn Bình định nghĩa:"Quản lí là một nghệ thuật đạt
19