Người đàn bà trong tiểu thuyết của mạc ngôn (qua đàn hương hình, báu vật của đời và rừng xanh lá đỏ) - Pdf 29

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINHNGUYỄN THÁI BÌNH

NGƯỜI ĐÀN BÀ
TRONG TIỂU THUYẾT CỦA MẠC NGÔN
(QUA ĐÀN HƯƠNG HÌNH, BÁU VẬT CỦA ĐỜI
VÀ RỪNG XANH LÁ ĐỎ)
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
NGHỆ AN - 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN THÁI BÌNH

NGƯỜI ĐÀN BÀ
TRONG TIỂU THUYẾT CỦA MẠC NGÔN
(QUA ĐÀN HƯƠNG HÌNH, BÁU VẬT CỦA ĐỜI
VÀ RỪNG XANH LÁ ĐỎ)
Chuyên ngành: Lý luận Văn học
Mã số: 60.22.01.20
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học:
TS. LÊ THANH NGA
NGHỆ AN - 2014
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 5
1. Lý do chọn đề tài 5
2. Lịch sử vấn đề 5

2.3.1. Khát vọng hướng đến cái chân - thiện - mĩ 68
2.3.2. Khát vọng vượt thoát những định kiến và số phận 72
2.3.3. Khát vọng bản năng 77
Chương 3 NGHỆ THUẬT THỂ HIỆN HÌNH TƯỢNG NGƯỜI ĐÀN BÀ TRONG TIỂU
THUYẾT MẠC NGÔN 94
3.1. Nghệ thuật thể hiện hình tượng người đàn bà thể hiện trong tổ chức cốt truyện 94
3.1.1. Tổ chức cốt truyện theo sự kiện 94
3.1.2. Cốt truyện theo mạch vận động của tâm lí 98
3.1.3. Cốt truyện mang màu sắc huyền thoại 105
3.2. Nghệ thuật xây dựng tình huống 107
3.2.1. Đặt nhân vật vào tình huống tự nhận thức 107
3.2.2. Đặt nhân vật vào tình huống bi đát 110
3.3. Nghệ thuật miêu tả chi tiết 112
3.3.1. Chi tiết gợi dục 112
3.3.2. Chi tiết huyền thoại 115
KẾT LUẬN 118
TÀI LIỆU THAM KHẢO 120
4
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Mạc ngôn là một tác giả lớn của văn học Trung Quốc, cũng như văn
học thế giới đương đại, và là một nhà văn quen thuộc với với bạn đọc Việt Nam
trong mấy thập kỉ nay. Tìm hiểu sáng tác của nhà văn này không chỉ có ý nghĩa
trong việc nhận diện giá trị các sáng tác của một tác giả cụ thể, mà còn góp phần
không nhỏ vào việc nghiên cứu văn học Trung Quốc ở Việt Nam - nền văn học
của một quốc gia có mối quan hệ sâu sắc.
1.2. Trong các tiểu thuyết của Mạc Ngôn, các nhân vật nữ nói chung và
nhân vật người đàn bà chiếm một vị trí hết sức quan trọng. Có thể nói đây là
một loại nhân vật xuyên suốt, thể hiện một cách khá tập trung cái nhìn của Mạc
Ngôn về thế giới và góp phần không nhỏ tạo nên đặc sắc tiểu thuyết của nhà văn.

Thiệu Tuấn, Phan Khải Hùng thừa nhận sức mạnh tưởng tượng của Mạc Ngôn rất
phong phú, kì lạ nhưng ngòi bút của ông nhiều khi không giữ được mực thước.
Thứ hai: Nhóm các nhà văn nghiên cứu dưới góc độ xã hội để tìm ra
những nét độc đáo trong 3 tác phẩm này. Trong các bài viết này, họ đã chỉ ra
những sự sáng tạo trong việc tìm ra một thủ pháp lạ hoá độc đáo, sáng tạo
những huyền thoại mới bên cạnh những huyền thoại cổ xưa. Có người lại tìm sự
ảnh hưởng của văn học Phương tây và Mĩ la tinh đối với Mạc Ngôn. Từ đây, họ
khẳng định “sự trở về và vượt lên” dân gian, dân tộc, và vượt lên đẳng cấp thế
giới của tiểu thuyết Mạc Ngôn. Tiêu biểu cho quan điểm này là ý kiến của Chu
Ân, Trương Thành. Bản thân tác giả Mạc Ngôn cũng đã giãi bày về việc viết
văn trong cuốn “Tự bạch” của mình.
2.2. Nghiên cứu ở Việt Nam
Nhà văn Mạc Ngôn đươc độc giả Việt Nam biết nhiều khi Báu vật của
đời được dịch giả Trần Đình Hiến dịch và xuất bản tháng 2 năm 2001. các nhà
6
nghiên cứu Việt Nam cũng dựa trên nhiều góc độ để đưa ra những quan điểm,
những nhận xét riêng của mình về 3 tiểu thuyết này.
Với Báu vật của đời, Nguyễn Khắc Phê đào sâu vào thủ pháp lạ hoá của
Mạc Ngôn bằng cái nhìn tổng quát toàn bộ những tác phẩm đã được dich sang
tiếng Việt (Tài phù phép của Mạc Ngôn, báo Tiền Phong, online). Trong bài “sự
sinh, sự chết, sự sống”: Đọc Báu vật của đời của Mạc Ngôn đăng trên trang
Tanviet.net (4/8/2005), Phạm Xuân Nguyên đã tóm lược những điểm chính trong
Báu vật của đời và đưa ra những nhận định về tác giả và tác phẩm. Có người lại
dựa vào Báu vật của đời để tìm ra sự sáng tạo của Mạc Ngôn trong việc đưa hơi
thở hiện đại vào đề tài lịch sử (Vương Trí Nhàn, Lê Huy Tiêu, Trần Trung Hỷ).
Trong tiểu luận “Một số vấn đề văn học Trung Quốc đương đại”( 2007), PGS Hồ
Sĩ Hiệp cũng đã điểm qua những nét đặc sắc của Mạc Ngôn thông qua những tác
phẩm đã được dịch. Bài viết đã chỉ ra sự sáng tạo của Mạc Ngôn trong tiểu
thuyết từ những tác phẩm đầu tiên. Năm 2012, Nguyễn Thị Tinh Thy - Giảng
viên Đại học Huế đã bảo vệ thành công luận án tiến sĩ với đề tài: Nghệ thuật tự

nhiên sắc dục nhưng toát lên trong toàn bộ tác phẩm vẫn là cái nhìn hiện thực và
thái độ xây dựng của tác giả”.
Gần đây, đã có nhiều khoá luận, luận văn tốt nghiệp từ bậc Cử nhân đến
Thạc sĩ ở một số trường Đại học nghiên cứu về Mạc Ngôn. Ở Trường Đại học
Vinh có Lương Thị Vân Anh với đề tài: Đặc trưng nghệ thuật tiểu thuyết Mạc
Ngôn. Tác giả đã nói được một số nét về hình ảnh người phụ nữ, đặc biệt là tình
thương con vô bờ bến, cùng với nó là tấm lòng của Mạc Ngôn đối với đất mẹ
quê hương. Cũng qua đó, nhà văn thể hiện những trăn trở của mình về thời kì
cải cách mở cửa, những day dứt về bản sắc văn hoá dân tộc. Đề tài cũng đã khai
thác được một số bình diện về hình thức như cốt truyện lồng ghép, cốt truyện đa
tuyến; nghệ thuật miêu tả tâm lí…, tuy nhiên đang mang tính khái quát mà chưa
đi sâu phân tích cụ thể qua những tác phẩm cụ thể; Hoàng Thị Thanh Lê với đề
tài: Tìm hiểu 41 chuyện tầm phào của Mạc Ngôn khi bàn về tiểu thuyết Rừng
8
xanh lá đỏ đã nói một khía cạnh của dục vọng con người là chạy theo lối sống
hưởng lạc qua nhân vật Lâm Lan; Lê Thị Hương Thuỷ với đề tài: Con người
bản năng trong Báu vật của đời đã nói được quan niệm nghệ thuật về con người
nhưng cũng chỉ mới chú tâm khai thác con người chủ yếu ở khía cạnh bản năng,
con người với những dục vọng thấp hèn ; Và Nguyễn Thi Hoài với đề tài:
Những dấu hiệu của chủ nghĩa hậu hiên đại trong tiểu thuyết Mạc Ngôn chủ
yếu đi từ lí thuyết hậu hiện đại để nghiên cứu về tiểu thuyết Mạc Ngôn; Trường
ĐHSP.TPHCM có Trần Văn Tuân với đề tài: Văn hoá dân gian trong tiểu
thuyết Đàn hương hình của Mạc Ngôn đi vào khai thác tiểu thuyết Đàn hương
hình dưới góc nhìn văn hoá với điệu Miêu Xoang.
Trên nhiều trang mạng cũng như các báo đài cũng đã nói nhiều về Mạc
Ngôn và tác phẩm của ông như:
Trần Đình Sử.worlpress.com: Báu vật của đời của Mạc Ngôn - lên bờ
xuống ruộng trước khi nhận giải Nobel.
Dântri.com.vn: Những tác phẩm đáng đọc nhất của Mạc Ngôn: Với độc
giả Việt Nam, Mạc Ngôn đã từng làm nên cơn sốt sách với hàng loạt tác phẩm

3.2. Phạm vi khảo sát
Phạm vi khảo sát chính của luận văn là ba tác phẩm Đàn hương hình,
Báu vật của đời và Rừng xanh lá đỏ, ngoài ra, chúng tôi khảo sát thêm một số
tiểu thuyết, truyện ngắn của Mạc Ngôn.
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1. Tìm hiểu vị trí của Mạc Ngôn trong tiểu thuyết Trung Quốc đương đại.
4.2. Tìm hiểu nhân vật đàn bà trong tiểu thuyết của Mạc Ngôn qua Đàn
hương hình, Báu vật của đời, Rừng xanh lá đỏ trên phương diện nội dung.
4.3. Tìm hiểu nhân vật đàn bà trong tiểu thuyết của Mạc Ngôn qua
Đàn hương hình, Báu vật của đời, Rừng xanh lá đỏ trên phương diện hình
thức thể hiện.
10
5. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng các phương pháp cơ bản sau:
- Phương pháp phân tích - tổng hợp
- Phương pháp khảo sát thống kê
- Phương pháp so sánh - đối chiếu
6. Cấu trúc của luận văn
Tương tự với mục đích, nhiệm vụ đề ra, ngoài Mở đầu, Kết thúc và Tài
liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn được chia làm ba chương:
Chương 1. Tiểu thuyết của Mạc Ngôn trong bối cảnh tiểu thuyết Trung
Quốc đương đại
Chương 2. Nhân vật người đàn bà trong tiểu thuyết Đàn hương hình,
Báu vật của đời, Rừng xanh lá đỏ nhìn từ phương diện nội dung
Chương 3. Nhân vật người đàn bà trong các tiểu thuyết của Mạc Ngôn
nhìn từ phương diện hình thức

11
Chương 1
TIỂU THUYẾT MẠC NGÔN TRONG BỐI CẢNH

Trong một cách hiểu khác, nhận định của Bêlinski: "tiểu thuyết là sử thi
của đời tư" chỉ ra khái quát nhất về một dạng thức tự sự, trong đó sự trần thuật
tập trung vào số phận của một cá nhân trong quá trình hình thành và phát triển
của nó. Sự trần thuật ở đây được khai triển trong không gian và thời gian nghệ
thuật đến mức đủ để truyền đạt cơ cấu của nhân cách.
Theo từ điển bách khoa Hoa Kì xuất bản 1963 trang 127 thì “tiểu thuyết
là một thể tản văn thuật lại một truyện tưởng tượng trong đó nhân vật và hoàn
cảnh lấy ngay ở cuộc sống thực tại dựng thành cốt truyện”.
Trong từ điển thuật ngữ văn học, tiểu thuyết là “tác phẩm tự sự cỡ lớn có
khả năng phản ánh hiện thực đời sống ở mọi giới hạn không gian và thời gian.
Tiểu thuyết có thể phản ánh số phận của nhiều cuộc đời, những bức tranh phong
tục, đạo đức xã hội, miêu tả các điều kiện sinh hoạt giai cấp, tái hiện nhiều tính
cách đa dạng.” [24; 134].
Thật khó để đưa ra một khái niệm tiểu thuyết hoàn chỉnh. Vì bản chất của
tiểu thuyết là thể loại sống, thể loại đang và sẽ vận động, luôn tự đổi mới và
cách tân. Nhưng chúng ta có thể thấy các khái niệm đều chỉ ra được những đặc
trưng cơ bản sau của tiểu thuyết.
Thứ nhất, tiểu thuyết nhìn cuộc sống từ góc độ đời tư. Mức độ đời tư có thể
đậm nhạt khác nhau tùy theo từng thời kì. Yếu tố đời tư càng phát triển, chất tiểu
thuyết càng tăng, yếu tố lịch sử càng tăng, chất sử thi càng đậm đà. Đặc trưng này
giúp ta phân biệt tiểu thuyết với sử thi. Tuy nhiên vẫn tồn tại một loại tiểu thuyết có
sự kết hợp giữa yếu tố sử thi và yếu tố tiểu thuyết: tiểu thuyết sử thi.
Thứ hai, đó là chất văn xuôi. Chính đặc trưng này giúp ta phân biệt thể
loại này với thơ, trường ca, chuyện thơ. Nếu như chất thơ là cụm từ chỉ những
13
cái tồn tại cao hơn đời sống, gắn liền với cảm xúc, cái đẹp, cái dễ làm cho con
người ta rung động thì chất văn xuôi lại là toàn bộ đời sống thực như vốn dĩ nó tồn
tại, có buồn vui đẹp xấu đầy đủ sắc thái thẩm mĩ. Tiểu thuyết miêu tả cuộc sống
như bản chất cuộc sống vốn có. Bao gồm mọi yếu tố ngổn ngang của cuộc đời; cái
cao cả và cả cái thấp hèn; cái nghiêm túc và cái đùa cợt; cái bi và cả cái hài…

Mạc Ngôn từng viết: “Trong vũ trụ bao la, vị trí của con người là vô cùng
bé nhỏ” và “lịch sử của quá khứ và thế giới hiện đại liên quan mật thiết với
nhau, máu của lịch sử lại chảy trong mạch máu của người đương đại”. Mỗi nhà
văn, không riêng gì Mạc Ngôn đều sống, hít thở bầu khí quyển của thời đại
mình. Từ đó họ đưa hết khả năng của mình để thi triển giữa cuộc đời. Mỗi nghệ
sĩ là một thế giới tâm hồn riêng, lại được sinh ra trong một thời kỳ lịch sử nhất
định cho nên cách biểu hiện tư tưởng nghệ thuật trong tác phẩm cũng mang dấu
ấn cá nhân.
Mạc Ngôn sinh ra trong một thời đại đầy những biến động mang tính bi
kịch. Đó là sự trói buộc chính trị, là cuộc Đại cách mạng văn hóa vô sản, và còn
là vấn đề nhận thức lại cuộc sống. Tất cả những điều này ảnh hưởng mạnh mẽ,
sâu sắc đến sáng tác của ông. Ta bắt gặp trong tiểu thuyết Mạc Ngôn mọi vấn đề
của cuộc sống, của lịch sử, của quá khứ, của hiện tại và có khi đó còn là cả
chiều dài lịch sử vĩ đại nhưng cũng không kém phần đau thương của đất nước
Trung Hoa. Cải cách ruộng đất nông thôn, đấu tố địa chủ đã mắc sai lầm nghiêm
trọng như thời cổ đại. Tiếp đó công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội với những
mô hình ấu trĩ duy ý chí như “công xã nhân dân”, phong trào “đại nhảy vọt”.
Tình trạng quan liêu cửa quyền, tham nhũng triền miên, kinh tế suy đốn, xã hội
điêu tàn, chính trị khủng hoảng, văn nghệ khô cứng. Tình trạng đó tất yếu phải
dẫn đến một sự đổ vỡ nào đó. Vai trò lãnh đạo của Chủ tịch Mao Trạch Đông
suy yếu, cặp Lâm Bưu - Giang Thanh rồi đến “bè lũ bốn tên” chụp lấy cơ hội
thao túng chính trường, đặc biệt là “10 năm Đại cách mạng văn hóa vô sản”.
15
Thực chất cách mạng văn hóa chỉ diễn ra trong ba năm (1966-1969) nhưng hậu
quả của nó kéo dài đến 1979 và những di chứng lâu dài hơn. Lịch sử gọi đó là “10
năm động loạn”, làm cho văn học nghệ thuật chân chính bị tê liệt. Trong thời kỳ
xây dựng hòa bình mà có tới hàng triệu người, trong đó có hàng trăm văn nghệ sĩ
cách mạng bị bức hại đến chết, tất cả trường đại học, học viện đóng cửa… Từ sau
1976 đến 1982, những người Đảng viên cộng sản chân chính với sự ủng hộ của
quần chúng cách mạng, kiên quyết đấu tranh chống lại “bè lũ bốn tên” đã giành lại

nề những biến thiên, đảo lộn của cuộc sống con người. Nhà văn, hơn ai hết, là
người đứng giữa “tâm bão” của cuộc đời phải dũng cảm dấn mình vào cuộc đấu
tranh chống lại những ngang trái bất công, phi nhân tính, góp phần bảo vệ quyền
sống làm người cho mỗi cá nhân, cá thể, hướng tới những giá trị nhân văn cao
cả. Đó là sứ mệnh cao cả của một nhà văn chân chính mà lịch sử Trung Hoa
hiện đại đã đặt lên ngòi bút của thế hệ các nhà văn như Mạc Ngôn.
Xu thế toàn cầu hóa tạo nên một luồng gió mới lạ thổi vào đất nước
Trung Hoa rộng lớn vốn tự xem mình là trung tâm của nhân loại, dị ứng với
những yếu tố ngoại lai. Xu thế toàn cầu hóa tác động sâu sắc đến mọi mặt đời
sống xã hội Trung Quốc lúc bấy giờ, trong đó có văn học.
Trong bối cảnh toàn cầu hoá về kinh tế và đồng nhất hoá về văn hoá như
hiện nay, nhà văn phải dấn mình vào cuộc đấu tranh chống lại những biến động
chính trị, kinh tế, xã hội không phải với tư cách một chiến binh chuyên nghiệp,
mà là với tư cách một con người biết động lòng trắc ẩn vì chân, thiện, mỹ.
Chiến đấu bằng ngòi bút là cách tốt nhất mà một nhà văn có thể làm. Phần lớn
người dân còn chưa ý thức về những gì đang diễn ra. Vì vậy, chính những người
nghệ sĩ phải là chiếc cầu nối người dân với các vấn đề xã hội nóng bỏng.
1.1.3. Một số thành tựu cơ bản của tiểu thuyết Trung Quốc đương đại
Theo sự thống kê chưa đầy đủ, chỉ tính riêng năm 1978 ở Trung Quốc đã
xuất bản được 55 bộ tiểu thuyết, năm 1979 tăng lên 61 bộ và năm 1980 lại tăng
17
lên 90 bộ. Từ năm 1980 đến 1982 bình quân mỗi năm có hơn 200 bộ tiểu thuyết
được xuất bản. Mười bảy năm trước cách mạng văn hoá đỉnh cao của sáng tác
tiểu thuyết là năm 1959, năm thứ 10 của nước Trung Hoa mới ra đời (1949)
cũng chỉ có 32 bộ. Điều này chứng tỏ tiểu thuyết của thời kì mới gặt hái nhiều
kết quả rực rỡ. Không chỉ trên số lượng mà chất lượng tiểu thuyết của thời kì
này phát triển chưa từng thấy ở cả hai bình diện nghệ thuật và tư tưởng.
Tiểu thuyết của sáu năm sau cách mạng văn hoá mà nội dung chủ yếu là
vạch trần tội ác của bè lũ bốn tên, chỉ ra cho người đọc thấy được sư ác độc, tàn
bạo và nguy hiểm của cuộc cách mạng văn hoá. Chỉ hai, ba năm sau khi đập tan

chống kịch liệt giữa các lực lượng chính phủ và các giai cấp; sự tranh giành
quyền lực của chủ thể Trung Quốc; một số nhân sĩ trí thức trong con đường cứu
dân cứu quốc. Tác phẩm Bất tận Trường Giang cổn cổn lai của Bành Tuệ, Gió
xoáy của Dương Bội Cẩn biểu hiện phong trào nông dân và công nhân trước và
sau cách mạng, miêu tả cuộc đấu tranh phức tạp, biểu thị sự trưởng thành của
lực lượng công nông trong cuộc đấu tranh cách mạng; ghi chép lại những trang
lịch sử cực kì quan trọng trong lịch sử cách mạng Trung Quốc. Tác phẩm Bắt
tay lần thứ hai của Trương Dương và Yêu và thù của Chu San từ trên các bình
diện khác nhau biểu hiện con đường trưởng thành của phần tử trí thức tiến bộ
phản kháng lại sự gian ác xấu xa để đi tìm chân lí và ánh sáng. Tác phẩm Dòng
xoáy của Yên Quốc Bồi kết hợp giữa đấu tranh kinh tế với đấu tranh chính trị,
biểu hiện đời sống xã hội muôn màu, muôn vẻ của hai bên bờ Xuyên Giang
trong những năm 30. Tác phẩm Bắc quốc phong vân lục của Mã Như và Cáp
Nhĩ Tân dưới màn đêm của Trần Kỳ miêu tả chân thực âm mưu và hành động bỉ
ổi của quân đội Nhật trước và sau sự kiện “ngày 18 tháng 9”, miêu tả sự quật
khởi của nghĩa quân chống Nhật và cả phong trào cứu vong kháng Nhật ở thành
thị, nông thôn, công xưởng, trường học. Tác phẩm Bảo nương của Vương Bảo
miêu tả quá trình của một thanh niên đi theo cách mạng, lột tả một cách hình
19
tượng vận mệnh bi thảm của người phụ nữ trong xã hội cũ và con đường sống
mới của họ. Tác phẩm Lê Viên Phận của Ngọc Nhân Dịch dựa theo vở Xuyên
kinh Ngọc đĩnh ban miêu tả cuộc sống phiêu bạt vô định, lưu lạc trôi nổi của
những nghệ nhân trong xã hội cũ.
Tiểu thuyết miêu tả lịch sử cách mạng trong mười bảy năm coi trọng ở
việc theo đuổi tình tiết câu chuyện và sắc thái truyền kì, còn rất nhiều tiểu
thuyết thời kì mới viết về lịch sử cách mạng thì coi trọng việc bộc lộ hoàn cảnh,
phản ánh sự thay đổi, cuộc sống rộng lớn, đặc trưng bản chất của thời đại và sự
phát triển của lịch sử. Tác phẩm Phương đông của Ngụy Nguy được coi là bức
tranh tráng lệ của cuộc kháng Mỹ viện Triều gần 3 năm, biểu thị tiến trình hoàn
chỉnh của sự phát sinh, phát triển và kết thúc của cuộc chiến tranh. Tác phẩm

thời kì mới tình hình này có sự đổi khác.Vùng cấm được xoá bỏ không còn ranh
giới, không còn cấm kị, phân biệt. Tiểu thuyết lich sử đã giám đột phá vào thể
loại này, viết nên những tác phẩm mang nhiều tính sử thi, sử truyện được độc
giả đón nhận nồng nhiệt.
Đề tài lịch sử trong tiểu thuyết mười bảy năm chủ nghĩa xã hội không
nhiều, chủ yếu là tập trung miêu tả cuộc khởi nghĩa nông dân. Tiểu thuyết lịch
sử của thời kì mới về phương diện đề tài có một sự đột phá và mở rộng hơn
trước rất nhiều. Một loạt tác phẩm lấy hiền thần lương tướng của xã hội phong
kiến làm nhân vật chính, mở ra một lĩnh vực đề tài mới. Đó là các tác phẩm
như: Kim âu khuyết, Mậu Tuất điệp huyêt kí, 103 ngày v.v…
Tiểu thuyết của thời kì mới còn xuất hiện các tác phẩm phản ánh cuộc
sống của nước Trung Hoa mới. Trong đó tác phẩm miêu tả cuộc sống của nhà
trường chiếm một vị trí chưa từng có. Ví dụ tác phẩm Thời đại đại học của
Trình Thụ Thung miêu tả đời sống của sinh viên đại học. Tuổi trẻ muôn năm
của Vương Mông miêu tả đời sống của học sinh phổ thông trung học và ngay cả
tác phẩm Mã lan thảo của Cang Sam Bình miêu tả đời sống của thầy cô giáo đại
21
học mà văn học từ khi thành lập nước đến nay rất ít thấy. Những tác phẩm này
phản ánh bộ mặt tinh thần của các trí thức thanh niên Trung Quốc trong những
năm 50. Tác phẩm miêu tả cuộc sống của nông thôn cũng có nhiều. Trước đây
về đề tài này độc giả rất quen thuộc với tác phẩm Sáng ngiệp sử của nhà văn Liễu
Thanh (2 tập). Giờ đây độc giả lại được thưởng thức các tác phẩm mang hơi thở
của cuộc sống ở nông thôn, như Phù Dung trấn của Cổ Hoa, một tiểu thuyết được
coi là “ngụ ý thời tiết chính trị nhưng ở bức tranh phong tục dân tình”.
Ngoài các đề tài trên đây, Tiểu thuyết thời kì mới còn phản ánh đời sống
của các dân tộc ít người. Đáng chú ý nhất là tác phẩm Cơ lộc nhai của Bành
Kình Phong lần đầu tiên đem cuộc sống của người khổ thông trong rừng sâu
nguyên thuỷ ở núi An Lão bày ra trước mắt làm cho ai nấy đều ngạc nhiên, cảm
nhận. Tác phẩm Đoá mai cách Tang của Giáng Biên Gia Tích miêu tả giải
phóng quân tiến quân vào Tây Tạng là một bộ tiểu thuyết đầu tiên của một nhà

đập tan tập đoàn Giang Thanh có số lượng không nhiều và chưa có tác phẩm
nào thật vượt trội về nội dung và nghệ thuật. Số lượng tuy ít và chất lượng chưa
cao nhưng nó được người đọc chú ý. Trong đó, tác phẩm Đôi cánh nặng nề của
Trương Khiết và Người cải cách của Dương Khiết lấy việc cải cách thể chế ở
thành thị trước đây làm chủ đề. Từ trong cuộc sống hiện thực trước kia, nhanh
chóng tạo thành một tấm gương lich sử, phê phán một cách sâu sắc tập quán cũ
và tư tưởng cũ nhằm cản trở công cuộc cải cách, ca ngợi một cách mạnh mẽ
những con người vì sự chấn hưng của một nước Trung Hoa mới mà hiến dâng
bản thân mình. Những tác phẩm này trong việc phản ánh đời sống đã có tính sâu
sắc và mẫn tiệp. Nhưng do chu kì ngắn, sự am hiểu của nhà văn đối với cuộc
sống chưa nhiều, nên biểu hiện ở mặt nghệ thuật chưa công phu. Hai tác phẩm
Đôi cánh nặng nề và Người cải cách có thể coi là đại diện cho trào lưu sáng tác
mới trong tiểu thuyết thời kì mới.
Qua sự trình bày có thể rút ra những thành tích đáng chú ý của tiểu thuyết
thời kì mới:
23
Trước hêt, nhiều tác phẩm đã duy trì, ủng hộ và phát huy một số truyền
thống ưu tú của sáng tác tiểu thuyết trong thời kì “mười bảy năm”. Đó là sự
quan tâm to lớn đến đời sống, chú ý đến vận mệnh của nhân dân, đất nước. Từ
trong dòng chảy mạnh mẽ của đời sống, các tác giả đã chọn lựa chủ đề và đề tài
có liên quan mật thiết đến vân mệnh của nhân dân và tình hình đất nước. Các tác
phẩm đã chú ý đến yếu tố thẩm mỹ của nhân dân Trung Quốc, cổ vũ mạnh mẽ
niềm lạc quan phấn khởi của nhân dân trong phong trào cách mạng mới.
Về mặt nghệ thuật, nhiều tác giả đã thể hiện hình thức biểu hiện mới, tỏ
rõ phong cách, phong thái của người sáng tác văn học, làm cho mọi người phấn
khởi sáng tạo ra cái mới, nhất là việc sáng tạo ra hình thức nghệ thuật mới. Nhân
vật anh hùng mới được xây dựng đẹp đẽ, sáng tạo và có sức thuyết phục cao.
Đề tài của tiểu thuyết thời kì mới tương đối rộng lớn, bao quát, có tính
khái quát cao. Trong sáng tác tiểu thuyết của thời kì “mười bảy năm”, tầm nhìn
của nhà văn hẹp, giản đơn, nói chung chỉ chú trọng biểu hiện cuộc sống đấu

các nhân vật nữ trong sách. Lên lớp 4 Mạc Ngôn viết một bài về ngày Quốc tế
lao động 1-5 khi trường tổ chức đại hội Thể dục thể thao. Bài viết được thầy
giáo Trương khen ngợi hết lời. Sau đó Mạc Ngôn còn viết rất nhiều bài luận, tất
cả các bài viết đều được thầy giáo đọc trước lớp, được dán lên cả bảng tin nhà
trường, thậm chí có bài còn được các trường trung học lân cận lấy làm bài văn
mẫu. Nhưng năm 11 tuổi cách mạng văn hoá nổ ra, Mạc Ngôn phải nghỉ học khi
chưa học hết bậc tiểu học, phải tham gia lao động nhiều năm ở nông thôn.
Trong khoảng 10 năm kể từ ngày đó, tuổi thơ ông suốt ngày chăn dê ở ngoài
đồng “đói khát và cô đơn luôn là người bạn đồng hành”. Mạc Ngôn trong một
bài phỏng vấn đã tâm sự: “Cuộc sống nghèo khổ đã bám tôi suốt hai mươi năm.
Nỗi sợ hãi đói khát luôn ám ảnh cuộc sống và tác phẩm của tôi sau này. Nếu
được chọn lại tôi muốn chọn lấy tuổi thơ có cơm no áo ấm”.
Do thành phần xuất thân của gia đình nên việc đi học trở lại của Mạc
Ngôn chấm dứt, tấm bằng trung học không thể lấy được, ngay cả đến đi bộ đội
25

Trích đoạn Khát vọng hướng đến cái châ n thiệ n mĩ Khát vọng bản năng Tổ chức cốt truyện theo sự kiện Cốt truyện theo mạch vận động của tâm lí Cốt truyện mang màu sắc huyền thoại
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status