Sự thay đổi trong đời sống kinh tế và văn hóa của người mã liềng (người chứt) ở tuyên hóa (quảng bình) sau tái định cư (từ năm 1959 đến 2012) - Pdf 29

B GIO DC V O TO
TRNG I HC VINH
=== ===
PHM TH HNG Sự THAY ĐổI TRONG ĐờI SốNG KINH Tế
Và VĂN HóA CủA NGƯờI Mã LIềNG (NGƯờI CHứT)
ở TUYÊN HóA (QUảNG BìNH) SAU TáI ĐịNH CƯ
(Từ NĂM 1959 ĐếN 2012) LUN VN THC S KHOA HC LCH S VIT NAM

NGH AN - 2014
B GIO DC V O TO


Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi.
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được
ai công bố trong bất kì công trình nào khác.

Nghệ An, ngày 20 tháng 9 năm 1014
(Ký tên và ghi rõ họ tên) Phạm Thị Hường
LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ của
các cơ quan, tổ chức, cá nhân.
Đầu tiên, tôi xin chân thành bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới P.GS.TS.
Nguyễn Trọng Văn. Thầy đã nhiệt tình hướng dẫn, góp ý, động viên tôi trong
suốt quá trình thực hiện luận văn này.
Tôi cũng xin gửi lời cám ơn chân thành, sâu sắc tới Th.s Bùi Minh
Thuận, thầy đã luôn cho tôi hướng đi, nhận xét, góp ý để đề tài được hoàn
thiện hơn.
Tôi xin chân thành cám ơn các thầy, cô giáo trong khoa Lịch sử trường
Đại học Vinh đã giảng dạy và hướng dẫn tôi hoàn thành chương trình học tập
và thực hiện luận văn.
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn Sở Văn hóa tỉnh Quảng Bình, Ủy ban
dân tộc thiểu số huyện Tuyên Hóa, các cán bộ Ủy ban nhân dân xã Thanh
Hóa, xã Lâm Hóa cũng như nhân dân bản Cà Xen, bản Kè, bản Cáo, bản
Chuối đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập các nguồn tài liệu, tư
liệu cho việc hoàn thành luận văn.
Và tôi cũng xin gửi lời biết ơn tới những người thân trong gia đình, tới
những người bạn luôn động viên, khích lệ tôi luôn sát cánh bên tôi trong suốt

1.2.2. Lịch sử phát triền của cộng đông người Mã Liềng 25
1.3. Đời sống kinh tế - hóa của cộng đồng người Mã Liềng trước khi
tái định cư 29
1.3.1. Đời sống kinh tế 29
1.3.1.1. Sở hữu đất đai 29
1.3.1.2. Hoạt động nông nghiệp 29
1.3.1.3. Thủ công nghiệp 31
1.3.1.4. Khai thác tài nguyên 31
1.3.1.5. Trao đổi, buôn bán 37
1.3.2. Đời sống văn hóa - xã hội 37
1.3.2.1. Đời sống văn hóa vật chất 37
1.3.2.2. Đời sống văn hóa tinh thần 44
1.3.2.3. Đời sống xã hội 48
1.3.2.4. Y tế, giáo dục và các lĩnh vực khác 50
1.4. Quá trình thực hiện di dân tái định cư cho người Mã Liềng 50
1.4.1. Sự cần thiết phải tái định cư 50
1.4.2. Đường lối và quá trình thực hiện di dân tái định cư cho người
mã Liềng ở Tuyên Hóa (Quảng Bình) 52
1.4.2.1. Chủ trương của các cơ quan Nhà nước 52
1.4.2.2. Tình hình thực tế ở địa phương 54
1.4.2.3. Tình hình triển khai và tổ chức thực hiện 56
Tiểu kết chương 1 60
Chương 2. ĐỜI SỐNG KINH TẾ CỦA CỘNG ĐỒNG NGƯỜI MÃ LIÊNG
Ở TUYÊN HÓA SAU TÁI ĐỊNH CƯ 62
2.1. Sở hữu đất đai 62
2.2. Hoạt động nông nghiệp 65
2.2.1. Trồng trọt 65
2.2.1.1. Nương rẫy 65
2.2.1.2. Lúa nước 69
2.1.2.3. Canh tác vườn 77

3.3.2.1. Về quan hệ cộng đồng 139
3.3.2.2. Về quan hệ tộc người 141
3.3.3. Y tế, giáo dục và một số lĩnh vực khác 142
3.3.3.1. Y tế 142
3.3.3.2. Giáo dục 145
3.3.3.3. Các lĩnh vực khác 148
Tiểu kết chương 3 151
KẾT LUẬN 153
TÀI LIỆU THAM KHẢO 157
PHỤ LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

ADB: Ngân hàng phát triển châu Á (viết tắt theo tiếng Anh)
BQL: Ban quản lý
BTTN: Bảo tồn thiên nhiên
CF: Tiếp xúc viên cấp xã
ĐBDTTS: Đồng bào dân tộc thiểu số
ĐCĐC: Định canh định cư
DCDC: Du canh du cư
ĐHQGHN: Đại học Quốc gia Hà Nội
ĐKTN: Điều kiện tự nhiên
Nxb: Nhà xuất bản
PRA: Phương pháp đánh giá nông thôn có nguời dân tham gia
(viết tắt theo tiếng Anh)
PTBV: Phát triển bền vững
TĐC: Tái định cư
THCS: Trung học cơ sở
THPT: Trung học phổ thông
TNTN: Tài nguyên thiên nhiên
TW: Trung ương

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài
1.1. Cộng đồng Việt Nam có 54 thành phần dân tộc khác nhau. Trong
đó dân tộc Việt (Kinh) chiếm gần 90% tổng số dân cả nước, hơn 10% còn lại
là dân số của 53 dân tộc. Trải qua bao thế kỷ, cộng đồng các dân tộc Việt
Nam đã gắn bó với nhau, mỗi dân tộc hầu như có tiếng nói, chữ viết và bản
sắc văn hóa riêng. Bản sắc văn hóa đó thể hiện rõ nét trong các sinh hoạt cộng
đồng và trong các hoạt động kinh tế. Từ việc ăn, mặc, ở, quan hệ xã hội, các
phong tục tập quán trong cưới xin đến thờ cúng, lễ tết, lịch, văn nghệ, vui
chơi của mỗi dân tộc đều mang những nét riêng biệt. Điều đó làm cho vườn
hoa dân tộc chúng ta thêm phong phú, thêm rực rỡ, góp phần tạo nên vẻ đẹp
và cố kết thành sức mạnh cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Nghiên cứu về
đời sống kinh tế, văn hóa của các dân tộc là góp phần vào việc bảo tồn và phát
huy những giá trị văn hóa tốt đẹp của các dân tộc cả về khoa học và thực tiễn,
góp phần hoàn thiện bức tranh tuyệt đẹp về đời sống kinh tế và truyền thống
văn hóa các dân tộc Việt Nam.
Mã Liềng là một tộc người thiểu số được Nhà nước xếp vào nhóm địa
phương của dân tộc Chứt, hiện đang sinh sống chủ yếu tại huyện Hương Khê -
Hà Tĩnh và huyện Tuyên Hóa - Quảng Bình. Cộng đồng người Mã Liềng ở
Tuyên Hóa có khoảng 600 người sinh sống dưới chân núi phía Bắc của dãy
Trường Sơn, dọc biên giới Việt - Lào. Do sống vùng sâu, vùng xa nên đời sống
của người Mã Liềng gặp vô vàn khó khăn, trình độ dân trí cực kì thấp kém.
Trong đời sống của tộc người thiểu số Mã Liềng vẫn còn tồn tại nhiều tập tục
lạc hậu, ảnh hưởng đến việc duy trì nòi giống và phát triển con người một cách
toàn diện, ảnh hưởng đến đời sống tinh thần và vật chất của cộng đồng.
1.2. Nhà nước ta đã xếp tộc người thiểu số Mã Liềng là nhóm địa
phương thuộc dân tộc Chứt. Tuy vậy, cho đến ngày nay việc xác định nguồn
3
Xuất phát từ nhận thức trên, chúng tôi đã lựa chọn vấn đề “Sự thay đổi
trong đời sống kinh tế và văn hóa của cộng đồng người Mã Liềng (người
Chứt) ở Tuyên Hóa (Quảng Bình) sau tái định cư (từ năm 1959 đến 2012)”
để làm đề tài luận văn. Chúng tôi hy vọng là kết quả thu được sẽ góp phần
vào việc tìm định hướng phát triển kinh tế và lưu giữ, phát huy những giá trị
truyền thống văn hóa của tộc người thiểu số Mã Liềng trong cộng đồng dân
tộc Chứt nói riêng và 54 dân tộc Việt Nam nói chung.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Dân tộc Chứt là một trong những dân tộc nghèo nàn và lạc hậu nhất của
Việt Nam, mang đậm dấu ấn của người cổ xưa, đầy bí ẩn và hoàn toàn tách
biệt với thế giới văn minh bên ngoài. Từ trước đến nay, việc nghiên cứu về
dân tộc Chứt trong đó có người Mã Liềng đã được một số tác giả trong và
ngoài nước để ý đến:
Trong thời kì phong kiến và thực dân, ở Việt Nam có các tác giả Lê
Quý Đôn với tác phẩm “Phủ biên tạp lục” đề cập đến nguồn gốc và địa bàn
cư trú của nhóm Sách, Mày, Rục, Arem, Mã Liềng; Quốc sử quán triều
Nguyễn với tác phẩm “Đại Nam nhất thống chí”, “Đồng Khánh dư địa chí”
cũng đã đề cập đến sự phân bố của các nhóm người Rục, Sách, A Rem, Mày,
Mã Liềng trong dân tộc Chứt, và những nét cơ bản trong đời sống kinh tế, chủ
yếu là săn bắt, hái lượm, du canh du cư theo các nguồn nước và hang động.
Ngoài nước có một số học giả người Pháp như M.L. Cadiere với hai tác phẩm
“Những thung lũng cao ở sông Gianh” và “Cuộc sống trong những đồn bốt
nhỏ ở Quảng Bình” viết về tôn giáo và tín ngưỡng địa phương của người
Chứt;… [70, tr.8].
Thời kì Việt Nam dân chủ độc lập, một số nhà nghiên cứu trong nước
và ngoài nước mới quan tâm đến dân tộc Chứt một cách toàn diện:
Về ngôn ngữ, Trần Chí Dõi đã cho công bố các công trình “Chính sách
ngôn ngữ văn hoá dân tộc ở Việt Nam”, “Thực trạng giáo dục ngôn ngữ ở

5
hội các dân tộc thiểu số ở vùng miền núi Hà Tĩnh và đề xuất giải pháp phát
triển” [70, tr.8].
Tiếp đó năm 2002, Sở Văn hóa Thông tin và Bảo tàng Hà Tĩnh đã kết
hợp thực hiện đề tài “Bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa của người Mã
Liềng ở tỉnh Hà Tĩnh” do Thạc sĩ Nguyễn Trí Sơn làm chủ nhiệm đề tài. Báo
cáo khoa học của các đề tài này mới chỉ dừng lại ở việc đề cập đến một phần
nào về kinh tế, văn hóa, xã hội của các dân tộc thiểu số ở Hà Tĩnh, trong đó
có người Mã Liềng trong giai đoạn hiện nay và đề xuất một số giải pháp để
bảo tồn, phát triển mà chưa đi sâu nghiên cứu về nguồn gốc hình thành, quá
trình phát triển và sự chuyển biến trong đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội của
người Mã Liềng [70, tr.8, 9].
Năm 2007 Ngân hàng phát triển Châu Á thực hiện dự án “Danh mục
các hành động lồng ghép vấn đề dân tộc bản địa và giới” tại Quảng Bình.
Thực chất của dự án này là hòa nhập được các mối quan tâm của người dân
tộc bản địa, nhất là phụ nữ dân tộc bản địa vào các hoạt động trong các hợp
phần của dự án. Trong dự án này các dân tộc được coi là dân tộc bản địa bao
gồm: Chứt, Bru - Vân Kiều, Tà Ôi, Cơ Tu hiện chiếm khoảng 60% dân số
trong vùng dự án.
Năm 2008 Cơ quan Văn nghệ Dân tộc & tổ chức SPERI (phụng dưỡng
thiên nhiên) đã nghiên cứu và thực hiện chuyên đề “Người Mã liềng bản Kè,
xã Lâm Hóa, huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình đối mặt với những thách
thức” phân tích một cách sơ lược nhất những thách thức mà người Mã Liềng
đang phải đối mặt trong cuộc sống hiện tại.
Năm 2008, Ủy ban dân tộc thực hiện chuyên đề “Phát triển sản xuất và
chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên địa bàn các xã thuộc chương trình 135 - giai
đoạn 2 (2006 - 2010)” nghiên cứu các nội dung cơ bản sau: Vai trò của quy
hoạch, sử dụng đất đai trong phát triển kinh tế - xã hội; Phát triển sản xuất và
7
Tất cả những công trình, bài viết trên chủ yếu đề cập đến những lĩnh
vực riêng nào đấy của người Mã Liềng như đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội,
ngôn ngữ; những câu chuyện về phong tục, tập quán lạc hậu; những điều kì bí
chưa thể lí giải; hay có bài viết đề cập đến tình hình giáo dục, đời sống người
dân tại nơi ở mới,… chứ chưa phải là công trình mang tính tổng quát và sâu
sắc về đời sống kinh tế và văn hóa của tộc người thiểu số Mã Liềng.
Do đó, với việc nghiên cứu đề tài “Sự thay đổi trong đời sống kinh tế
và văn hóa của cộng đồng người Mã Liềng (người Chứt) ở Tuyên Hóa
(Quảng Bình) sau tái định cư (từ năm 1959 đến 2012)”, chúng tôi muốn
khái quát nên một bức tranh toàn diện nhất về những chuyển biến từ kinh tế
đến văn hóa - xã hội, đặc biệt là có những thông tin được cập nhật mang tính
thời sự hàng ngày.
Đề tài của chúng tôi cũng sẽ tìm ra những kết luận chung nhất trên cơ
sở phân tích, so sánh, đối chiếu các quan điểm từ những nhà nghiên cứu trước
và kết quả điền dã mà chúng tôi thu được, để làm sáng tỏ những nét kinh tế và
đặc trưng văn hóa của tộc người thiểu số Mã Liềng ở huyện Tuyên Hóa
(Quảng Bình). Tuy phạm vi đề tài nhỏ chỉ bó hẹp trong phạm vi một huyện,
nhưng đây là một đề tài hoàn toàn mới. Hy vọng, đề tài này sẽ góp ít nhiều về
mặt khoa học cũng như mặt thực tiễn trong việc tìm hiểu đời sống kinh tế, văn
hóa của người Mã Liềng nói riêng và 54 dân tộc Việt Nam nói chung.
3. Mục đích nghiên cứu
Làm rõ quá trình thực hiện di dân tái định cư đã làm thay đổi đời sống
của người Mã Liềng ở huyện Tuyên Hóa (với 4 bản: Cà Xen ở Thanh Hóa,
bản Kè, bản Cáo, bản Chuối ở xã Lâm Hóa). Nghiên cứu tập trung vào những
vấn đề cơ bản sau:
1. Làm rõ nguồn gốc, quá trình hình thành và những nét cơ bản trong
đời sống kinh tế - văn hóa trước và sau khi thực hiện quá trình di dân TĐC

Bình, Bảo tàng Quảng Bình, Sở Văn hóa Thông tin tỉnh Quảng Bình xuất bản
như: “Lịch sử Quảng Bình”; “Thống kê hộ đồng bào dân tộc tỉnh Quảng 9
Bình”; “Bước đầu nghiên cứu thực trạng kinh tế, văn hóa, xã hội các dân tộc
thiểu số ở vùng miền núi Quảng Bình và đề xuất giải pháp phát triển”; “Sổ
tay công tác dân tộc của ủy ban dân tộc tỉnh Quảng Bình”; “Dự án định
canh, định cư cho đồng bào dân tộc thiểu số bản Chuối, bản Cáo xã Lâm Hóa
huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình”; “Bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa
của người Mã Liềng ở Quảng Bình”; “Niên giám thống kê Quảng Bình các
năm 1989, 1999, 2009”,…
+ Các tài liệu do UBND, Ban Dân vận, Phòng Tài nguyên và Môi
trường, phòng Thống kê, phòng Văn hóa huyện Tuyên Hóa, UBND xã Lâm
Hóa, Thanh Hóa… xuất bản, các bản báo cáo công tác dân tộc, báo cáo tổng
kết, các bảng thống kê, các Nghị quyết chỉ thị của các phòng ban thuộc
UBND huyện, Huyện ủy và UBND xã Thanh Hóa, Lâm Hóa.
- Tư liệu nghiên cứu:
+ Sách của Viện dân tộc học: “Các dân tộc ít người ở Việt Nam (các
tỉnh phía Bắc)”, “Về vấn đề xác định thành phần các dân tộc thiểu số ở
miền Bắc Việt Nam”, “Dân số các dân tộc ít người ở Việt Nam”, “Bản sắc
văn hóa các dân tộc”, “Giữ gìn và bảo vệ bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu
số Việt Nam”,
+ Các sách về văn hóa như “Việt Nam văn hóa sử cương” của Đào Duy
Anh; “Cơ sở văn hóa Việt Nam” của Trần Quốc Vượng; “Tìm về bản sắc văn
hóa Việt Nam” của Trần Ngọc Thêm; “Văn hóa dân gian Nghệ Tĩnh”, “Bản
sắc văn hóa của người Nghệ Tĩnh”; “Hợp tuyển thơ văn các dân tộc thiểu số
Việt Nam”, “Truyện cổ các dân tộc miền núi Bắc trung bộ”; các tạp chí “Dân
tộc và Thời đại”, “Văn hóa các dân tộc”, “Tạp chí Dân tộc học”,…
+ Các công trình nghiên cứu của các nhà dân tộc học: M.L Cadiere:

gia Pù Mát; Phạm Khắc Lanh “Đời sống kinh tế - văn hóa- xã hội của tộc
người Mã Liềng ở bản Rào Tre (Hương Khê - Hà Tĩnh) từ năm 1958 đến
2009; Nguyễn Thị Vui, “Thực trạng đời sống của cộng đồng người Thái tái
định cư ở bản Mà - Thanh Chương - Nghệ An,… 11
- Tư liệu điền giã:
+ Tư liệu hiện vật: Bao gồm nhà cửa, các vật dụng gia đình, các công
cụ lao động, tranh ảnh sưu tầm, tự chụp… của người Mã Liềng tại địa
phương, ngoài ra còn khảo sát một số địa điểm mà người Mã Liềng đã từng
sinh sống trước khi đến định cư tại bản Cà Xen xã Thanh Hóa, và bản Cáo,
bản Kè, bản Chuối xã Lâm Hóa
+ Tư liệu truyền miệng: Tác giả đã trực tiếp gặp gỡ và trao đổi với các
già làng, trưởng bản, những người có kinh nghiệm là người Mã Liềng, trao
đổi với các đồng chí bộ đội biên phòng đang cắm bản giúp đỡ đồng bào Mã
Liềng hòa nhập cuộc sống, các nhà nghiên cứu văn hóa dân gian địa phương.
Đặc biệt là gặp gỡ, trao đổi với một số người đã từng trực tiếp tìm ra người
Mã Liềng và vận động bà con xuống núi sinh sống để từ đó đối chiếu, so sánh
và có cái nhìn toàn diện hơn về nhóm người này.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành những yêu cầu mà đề tài đặt ra, chúng tôi đã sử dụng
phương pháp sử học Mácxit và tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết dân tộc từ
lúc sưu tầm, chỉnh lí tài liệu cho đến quá trình thực hiện đề tài. Ngoài ra, còn
sử dụng phương pháp lịch sử, phương pháp logic, phương pháp liên ngành để
xử lí tài liệu, đánh giá, phân tích sự kiện.
Để đề tài phong phú và mang tính hiện thực, tác giả đã tiến hành điền
dã trực tiếp trên địa bàn cư trú của người Mã Liềng ở huyện Tuyên Hóa, trực
tiếp thăm hỏi, phỏng vấn những người già làng, trưởng bản, bộ đội biên
phòng để bổ sung tư liệu.

hoạch định chính sách định cư, xây dựng phong trào toàn dân đoàn kết, xây
dựng đời sống văn hóa, an ninh quốc phòng cho tộc người thiểu số Mã Liềng
trong thành phần dân tộc Chứt và cho cộng đồng các dân tộc ở Tuyên Hóa
(Quảng Bình). 13
7. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung
chính của luận văn chia làm 3 chương chính:
Chương 1. Đời sống kinh tế - văn hóa của cộng đồng người Mã Liềng
ở Tuyên Hóa trước khi tái định cư.
Chương 2. Đời sống kinh tế của cộng đồng người Mã Liềng ở Tuyên
Hóa sau khi tái định cư.
Chương 3. Đời sống văn hóa - xã hội của cộng đồng người Mã Liềng ở
Tuyên Hóa sau khi tái định cư.

14
Chương 1
ĐỜI SỐNG KINH TẾ - VĂN HÓA
CỦA CỘNG ĐỒNG NGƯỜI MÃ LIỀNG TRƯỚC KHI TÁI ĐỊNH CƯ

1.1. Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội huyện Tuyên Hóa
1.1.1. Điều kiện tự nhiên
1.1.1.1. Vị trí địa lý hành chính, địa hình
Huyện Tuyên Hóa là huyện miền núi nằm về phía Tây Bắc tỉnh Quảng
Bình, có ranh giới: Phía Bắc giáp huyện Hương khê và Kỳ Anh của tỉnh Hà

0
C. Mưa lớn, tập trung vào
tháng 9, 10, 11.
- Độ ẩm không khí tương đối cao, trung bình 83%, song nhìn chung
không ổn định. Vào mùa mưa, độ ẩm không khí thường cao hơn mùa khô từ
10 - 15%.
- Gió: chịu ảnh hưởng của 2 loại gió chính: Mùa Đông có gió mùa
Đông Bắc thịnh hành thổi theo hướng Bắc - Đông Bắc. Mùa Hè chủ yếu gió
Tây Nam khô nóng xuất hiện từng đợt, bắt đầu từ tháng 4 và kết thúc vào
tháng 7.
- Thủy văn: Toàn huyện chịu ảnh hưởng bởi lưu vực hệ thống sông
Gianh (Rào Nậy, Rào Nan), sông Nan, Ngàn Sâu, khe Nét, khe Chằm Nốt,
khe Đập Hà, khe Dong, khe Tre, khe Hồ Bẹ… Sông ngòi của huyện có đặc
điểm là ngắn và dốc nên tốc độ dòng chảy rất lớn. Mặt khác sông ngắn nên về
mùa khô, nước mặn dâng lên xâm nhập đến Minh Cầm gây thiệt hại cho sản
xuất nông nghiệp [26, tr. 6]
1.1.1.3. Tài nguyên đất, nước, rừng.
Tài nguyên đất: Theo báo Quy hoạch sử dụng đất, toàn huyện có
115.098,44 ha. Do đặc điểm của địa hình nên đất đai của huyện Tuyên Hóa
hình thành các nhóm chủ yếu sau:
- Nhóm đất feralit có nguồn gốc từ đá mẹ.
- Nhóm đất phù sa cổ và đất feralit chủ yếu phân bố ở các địa hình núi
thấp hoặc gò đồi.
- Nhóm đất phù sa bồi đắp hàng năm phân bổ chủ yếu các vùng ven
sông chính và các thung lũng đan xen ở vùng gò đồi.
Tài nguyên nước: Với số lượng sông suối phân bố dày đặc và rộng
lớn, huyện Tuyên Hóa có tiềm năng về nguồn nước ngọt rất lớn. Hiện tại
huyện có 3 dòng sông lớn chảy qua: Sông Gianh (hai nhánh: Rào Trổ, Rào


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status