1
Khóa Luận Tốt nghiệp
“Đền Hùng trong đời sống kinh tế và tín ngưỡng của
người dân xã Hy Cương, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú
Thọ”
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 3
1. Lý do chọn đề tài 3
2. Lịch sử nghiên cứu 5
3. Nhiệm vụ nghiên cứu 8
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 8
5. Phương pháp nghiên cứu 8
6. Đóng góp của khóa luận 8
7. Bố cục của khóa luận 9
PHẦN NỘI DUNG 10
Chương 1 : Khái quát vùng văn hóa Phú Thọ và khu di tích lịch sử Đền Hùng 10
1. Phú Thọ vùng văn hóa đất Tổ 10
1.1 Vị trí địa lí 10
1.2 Phú Thọ- vùng đất định cư cổ 10
1.3 Phú Thọ- vùng đất văn hóa cổ 13
2. Xã Hy Cương, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ- trung tâm di tích lịch sử văn
hóa Đền Hùng 15
3. Khu di tích lịch sử Đền Hùng 17
3.1 Vị trí địa lý 18
3.2 Lịch sử hình thành của Đền Hùng 18
3.4 Quá trình trùng tu 21
3.5 Các di tích kiến trúc thờ tự tại Đền Hùng 22
3.5.1 Cổng đền 22
3.5.2 Đền hạ 22
3.5.3 Nhà bia 23
3.5.4 Chùa Thiên Quang 23
1. Lý do chọn đề tài
Đền Hùng và lễ hội Đền Hùng là một di sản văn hóa mang tính bản
sắc của dân tộc Việt. Từ ngàn đời nay Đền Hùng là nơi tưởng nhớ, tôn vinh
công lao các Vua Hùng, là biểu tượng của khối đại đoàn kết dân tộc Việt
Nam. Từ bao đời nay, mỗi người dân Việt Nam luôn nhớ về ngày giỗ Tổ
qua câu ca được truyền tụng:
Dù ai đi ngược về xuôi
Nhớ ngày giỗ Tổ mồng mười tháng ba
Khắp nơi truyền mãi câu ca
Nước non vẫn nước non mình ngàn năm
Người Việt Nam may mắn có chung một đạo, Đạo thờ cúng Ông Bà.
Người Việt Nam còn may mắn hơn nữa khi có chung một Tổ để hướng về,
3
có chung một miền Đất Tổ để nhớ, có chung một đền thờ Tổ để tri ân. Giỗ
Tổ Hùng Vương - từ rất lâu đã trở thành ngày Giỗ trọng đại của cả dân tộc;
đã in đậm trong cõi tâm linh của mỗi người dân đất Việt. Dù ở phương trời
nào, người Việt Nam đều nhớ ngày giỗ Tổ, đều hướng về vùng đất Cội
nguồn - xã Hy Cương – Việt Trì - Phú Thọ. Nơi đây chính là điểm hội tụ văn
hóa tâm linh của dân tộc Việt Nam. Có lẽ không một dân tộc nào trên thế
giới có chung một gốc gác tổ tiên - một ngày giỗ Tổ như dân tộc ta. Từ
huyền thoại mẹ Âu Cơ đẻ ra trăm trứng, nửa theo cha xuống biển, nửa theo
mẹ lên rừng đã khơi dậy ý thức về dân tộc, nghĩa đồng bào và gắn kết chúng
ta thành một khối đại đoàn kết. Hai chữ đồng bào là khởi nguồn của yêu
thương, đùm bọc, của sức mạnh Việt Nam.
Đền Hùng ngày càng có vai trò quan trọng và có tác động lớn đến đời
sống người dân. Đời sống hiện đại, nhu cầu về tâm linh của người dân càng
cao. Lịch sử như một dòng chảy liên tục. Trải mấy nghìn năm, trước bao
biến động thăng trầm, trong tâm thức của cả dân tộc, Đền Hùng vẫn là nơi
của bốn phương tụ hội, nơi con cháu phụng thờ công đức Tổ tiên. Do vậy
việc tìm hiểu tác động của Đền Hùng trong đời sống người dân sẽ giúp
Hùng Vương.
“Hùng Vương dựng nước” tập 2, xuất bản năm1972 của nhiều tác giả
nghiên cứu thời đại Hùng Vương từ niên đại, truyền thuyết và giá trị lịch sử
của chúng đến trình độ văn minh và chế độ chính trị của buổi bình minh lịch
sử nước ta.
5
“Hùng Vương dựng nước” tập 3, xuất bản năm 1973 của các tác giả
Phạm Huy Thông, Hoàng Hưng…gồm các hình thức viết về thời kỳ Vua
Hùng dựng nước và thời An Dương Vương, những di tích lịch sử, con người
cổ đại, đời sống vật chất và tinh thần, tổ chức xã hội thời Hùng Vương…
“Hùng Vương dựng nước” tập 4, xuất bản năm 1974 của tác giả
Nguyễn Khánh Toàn nghiên cứu thời Hùng Vương và thời kỳ lịch sử dựng
nước và giữ nước đầu tiên của dân tộc. Chứng minh thời kỳ Hùng Vương là
có thật. Cuốn sách viết về đất nước, con người thời Hùng Vương: kinh tế,
văn hóa, xã hội…
Cuốn “Thời đại Hùng Vương: Lịch sử- kinh tế- chính trị- văn hóa- xã
hội”, xuất bản năm 1973 của tác giả Văn Tâm. Cuốn sách cung cấp những
thông tin về các mặt lịch sử, kinh tế… trong thời đại Hùng Vương.
Cuốn sách “ Đền Hùng di tích và cảnh quan”, xuất bản năm 2000 của
tác giả Phạm Bá Khiêm. Cuốn sách này sẽ cung cấp cho người đọc những
hiểu biết về Đền Hùng, về thời đại Hùng Vương và cảnh quan vùng đất
thiêng Nghĩa Lĩnh.
Cuốn sách “Đền Hùng nơi hội tụ văn hóa tâm linh” do Lê Lựu chủ
biên xuất bản năm 2005. Đây là một tập sách sưu tầm những bài nghiên cứu
và viết về Đền Hùng và lễ hội Đền Hùng do trung tâm văn hóa doanh nhân
sưu tầm, biên soạn của nhiều tác giả. Tập sách thể hiện một tầm suy nghĩ sâu
rộng về cội nguồn văn hóa dân tộc từ xa xưa đến hiện đại; phản ánh tâm
thức của người Việt Nam dù sống ở trong nước hay ngoài nước đều luôn
nhớ đến ngày giỗ Tổ Hùng Vương. Các bài nghiên cứu thể hiện một tầm suy
nghĩ nghiêm túc, khoa học nhằm cung cấp cho bạn đọc nhiều kiến thức về
viết về tiềm năng du lịch của Đền Hùng. Thực tế thì chưa có tác phẩm nào
7
nghiên cứu về sự ảnh hưởng của Đền Hùng đến đời sống của người dân tại
nơi có Đền Hùng (xã Hy Cương) để thấy được mức độ hiểu biết và vị trí của
Đền Hùng trong lòng người dân. Vì vậy rất cần những công trình nghiên cứu
một cách thực tế sự ảnh hưởng đó.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
Tìm hiểu về lịch sử, giá trị văn hóa Đền Hùng
Khảo sát để thấy được ảnh hưởng của Đền Hùng về mặt kinh tế và tín
ngưỡng đối với người dân xã Hy Cương.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng: Đền Hùng
Phạm vi: Trong bài nghiên cứu này chúng tôi giới hạn phạm vi nghiên
cứu trong xã Hy Cương
5. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu văn bản
Phương pháp điền dã
Phương pháp điều tra xã hội học
Phương pháp thống kê xã hội học
6. Đóng góp của khóa luận
Đề tài được thực hiện sẽ có những đóng góp sau:
Đây là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách chuyên sâu về Đền
Hùng trong mối quan hệ với đời sống kinh tế và tín ngưỡng của người dân
Xã Hy Cương- việt Trì- Phú Thọ.
Chỉ ra được sự ảnh hưởng của Đền Hùng trong đời sống của người
dân Hy Cương và vị trí của Đền Hùng trong lòng người dân.
Khẳng định giá trị văn hóa của Đền Hùng
8
7. Bố cục của khóa luận
Chương1: Khái quát vùng văn hóa Phú Thọ
đó phải kể đến văn hóa Phùng Nguyên và Gò Mun.
Với thời đại đồ đồng thau phát triển, thời kì nước Văn Lang dưới
triều đại các Vua Hùng bắt đầu. Thời đại Hùng Vương chia làm hai thời kỳ:
Thời kỳ bộ lạc khoảng từ thế kỷ thứ X trước công nguyên trở về trước
ứng với văn hóa Đồng Đậu- Phùng Nguyên.
Thời kỳ dựng nước Văn Lang khoảng từ thế kỷ X trước Công nguyên
đến giữa thế kỷ III trước Công nguyên, ứng với văn hóa Gò Mun- Đông
Sơn. Theo truyền thuyết và sử cũ, nước Văn Lang có 15 bộ lạc hợp thành
gồm: Văn Lang, Giao Chỉ, Việt Thường, Vũ Ninh, Quân Ninh, Gia Ninh,
Ninh Hải, Bình Văn, Kê Tử, Bắc Đái. Dân số Văn Lang khi đó khoảng một
triệu người. Trong số các bộ lạc ấy, bộ lạc Văn Lang là hùng mạnh nhất.
Lãnh thổ của bộ lạc này trải rộng từ chân núi Ba Vì đến sườn Tam Đảo, có
sông Hồng cuồn cuộn phù sa chảy xuyên giữa. Thủ lĩnh bộ lạc Lạc Việt
đóng vai trò lịch sử, là nguồn thống nhất các bộ lạc khác, dựng lên nhà nước
Văn Lang. Ông xưng Vua sử gọi là Hùng Vương. Giúp việc bên cạnh Vua
có các Lạc hầu, Lạc tướng là người cai quản một bộ (tức bộ lạc cũ). Dưới
Lạc tướng là các Bồ chính đứng đầu các bản. Dân gọi là Lạc dân, nghề chính
là cấy lúa nước kết hợp với chăn nuôi trâu, bò, lợn, gà, đánh đồ đá, đan nát,
dệt vải, rèn sắt, đóng thuyền… Lúc này đã xuất hiện một bộ phận làm nghề
buôn bán đổi chác. Có một tỉ lệ nhỏ nô tỳ (gọi là xảo xứng, thần bộ, nữ lệ…)
phục vụ trong gia đình quý tộc. ở nước ta không thiết lập chế độ chiếm hữu
nô lệ, đại đa số dân trong nước là dân tự do tức Lạc dân. Quan hệ giữa Vua
Hùng và Lạc dân rất gần gũi,cùng cày ruộng, cùng săn bắn, cùng xem hội.
Lương thực chủ yếu là gạo tẻ và các lương thực đồng quê. Quốc tục là bánh
chưng, bánh dày. Nhà ở chủ yếu là nhà sàn.
11
Tín ngưỡng thờ thần đất , thần sông, tổ tiên, linh hồn người qua đời và
các vật thiêng khác có từ thời kỳ này. Cư dân thích trang trí nhà cửa , đồ
dùng, thích đồ trang sức, yêu văn nghệ. Nhạc cụ có sáo, nhị, kèn, trống,
chiêng, đàn bầu… Ca dao, tục ngữ và truyện kể đã xuất hiện. Lực lượng
1.1.3 Phú Thọ- vùng đất văn hóa cổ
Phú Thọ là nơi phát triển của nhiều nền văn hóa dân tộc rực rỡ và lâu
đời. Những di chỉ khảo cổ văn hóa Sơn Vi, Đồng Đậu, làng Cả và nhiều đình
chùa, lăng tẩm còn lại quanh vùng Nghĩa Lĩnh cho thấy đất Phong Châu là
một trung tâm văn hóa của dân tộc. Bản sắc ấy gắn liền với lịch sử dựng
nước và giữ nước từ thời Hùng Vương với trên 200 di tích lịch sử, danh lam
thắng cảnh, di tích Cách mạng… Phú Thọ cũng là đất của lễ hội với nhiều lễ
hội tổ chức quanh năm như lễ hội Đền Hùng, hội đền Mẫu Âu Cơ, hội Chu
Hóa, hội Phết Hiền Quang, hội đánh cá, hội mở cửa rừng…
Từ nhiều đời nay, các thế hệ dân Việt luôn hướng đến một điểm tựa
tâm linh. Điểm tựa đó trở thành tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên chung của dân
tộc: thờ tự Vua Hùng. Trải qua bao thăng trầm ngày nay các ngôi đền trên
núi Nghĩa Lĩnh thuộc xã Hy Cương, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ là nơi
tiến hành tín ngưỡng truyền thống độc đáo đó. Núi Hùng cao nhất trong các
ngọn núi nơi đây, tạo nên vùng đất thiêng “Tam sơn cấm địa”. Lễ hội Đền
Hùng và giỗ tổ Hùng Vương được tổ chức hàng năm vào ngày mồng 10
tháng 3 âm lịch. Thường thì sau tết Nguyên đán đồng bào hành hương về
đây. Sự ra đời và tồn tại lâu đời của truyền thuyết Hùng Vương và lễ hội
Đền Hùng cùng tín ngưỡng giỗ tổ là sự khẳng định niềm tin cùng truyền
thống dựng nước và giữ nước muôn đời của dân tộc ta. Đây là lễ hội mang
tính chất văn hóa tâm linh lớn nhất. Con cháu trên khắp mọi miền tổ quốc
13
trở về với lòng thành kính dâng lên tổ tiên lòng biết ơn công lao dựng nước
của các Vua Hùng. Tín ngưỡng này xuất phát từ đạo lý và truyên thống của
dân tộc: lòng yêu nước, kiên cường bất khuất luôn hướng về cội nguồn. Lễ
hội Đền Hùng đã tái hiện lại một phần nào đó truyền thuyết về thời đại Hùng
Vương, trở thành động lực tinh thần của dân tộc Việt nam.
Theo tư liệu lịch sử thì năm 1943 cờ Đảng và cờ Tổ Quốc đã được
treo trên gác chuông của chùa Thiên Quang (thuộc khu di tích lịch sử Đền
Hùng). Ngày 19/9/1954, trước khi về tiếp quản Thủ Đô Chủ tịch Hồ Chí
Hy Cương là một xã miền núi thuộc thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.
Ngược dòng lịch sử, tìm hiểu về sự thay đổi địa danh làng xã qua các thời kì
thì Hy Cương thuộc những khu vực hành chính sau:
Thời Hùng Vương vùng đất đai xã Hy Cương thuộc huyện Chu Diên,
Bộ Văn Lang, đến thế kỉ thứ VI thuộc Phong Châu, Thừa Hóa quận gọi tắt là
Phong Châu. Thời Trần (thế kỉ XIII- XIV) thuộc huyện Sơn Vi, châu Thao
Giang, lộ Tam Giang Thời Lê (thế kỉ XV-XVIII) thuộc huyện Sơn Vi, phủ
Lâm Thao, trấn Sơn Tây. Dưới thời Nguyễn (thế kỉ XIX) trấn đổi thành tỉnh,
do đó xã Hy Cương thuộc huyện Sơn Vi, phủ Lâm Thao, tỉnh Sơn Tây. Năm
1891 huyện Sơn Vi nhập vào tỉnh Hưng Hóa. Vì vậy xã Hy Cương thuộc
tỉnh Hưng Hóa. Năm 1903, tỉnh Hưng Hóa đổi tên thành tỉnh Phú Thọ, xã
Hy Cương thuộc tổng Xuân Lũng, huyện Sơn Vi, phủ Lâm Thao, tỉnh Phú
Thọ.
Năm 1919 giải thể huyện Sơn Vi gọi chung là phủ Lâm Thao
Năm 1945, Hy Cương thuộc xã Hùng Sơn huyện Lâm Thao, tỉnh Phú
Thọ.
15
Tháng 6/1946, xã đổi tên là xã Phong Châu, Hy Cương thuộc xã
Phong Châu, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ
Tháng 7/1954 đổi tên xã là xã Hy Cương thuộc huyện Lâm Thao, tỉnh
Phú Thọ.
Tháng 3/1968 hai tỉnh Vĩnh Phúc và Phú Thọ sáp nhập thành tỉnh
Vĩnh Phú, xã Hy Cương thuộc huyện Lâm Thao, tỉnh Vĩnh Phú (xã Hy
Cương có một thôn Cổ Tích).
Năm 1978 theo quyết định của Hội đồng bộ trưởng, hai huyện Lâm
Thao và Phù Ninh sáp nhập thành huyện Phong Châu, do đó xã Hy Cương
thuộc huyện Phong Châu, tỉnh Vĩnh Phú.
Năm 1997 tỉnh Phú Thọ được tái thành lập, xã Hy Cương thuộc tỉnh
Phú Thọ.
Năm 1999, hai huyện Lâm Thao và Phù Ninh được tái thành lập, Hy
truyền thống đạo lý đó đã phát triển thành một hình thức văn hóa tinh thần
và tín ngưỡng dân tộc độc đáo, đó là tín ngưỡng thờ phụng Tổ tiên chung
của cả dân tộc- Các Vua Hùng.
Các ngôi đền thờ Hùng Vương trên núi Nghĩa Lĩnh, thuộc xã Hy
Cương, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ, là cơ sở chủ yếu để thể hiện, biểu
đạt loại hình và hình thức sinh hoạt văn hóa tinh thần và tín ngưỡng độc đáo,
đặc sắc ấy. Lễ hội Đền Hùng và giỗ Tổ Hùng Vương hàng năm được tổ chức
vào mồng 10 tháng 3 âm lịch ở nơi đây. Đền Hùng và lễ giỗ Tổ Hùng
Vương có cội dễ bắt đầu từ thời đại Hùng Vương. Thời đại Hùng Vương là
buổi bình minh của lịch sử dân tộc. Chính thời đại Hùng Vương với những
giá trị lịch sử văn hóa đã tạo nên về sau một Đền Hùng lịch sử ở chính giữa
trung tâm dựng nước của các Vua Hùng. Sự xuất hiện và tồn tại của Đền
17
Hùng và lễ hội giỗ Tổ Hùng Vương là sự khẳng định niềm tin vào truyền
thống lịch sử dựng nước và giữ nước mấy nghìn năm của lịch sử dân tộc ta.
1.3.1 Vị trí địa lý
Khu di tích lịch sử Đền Hùng nằm ở phía Tây Bắc thành phố Việt Trì.
Tổng diện tích tự nhiên trên 1000 ha. Di tích lịch sử Đền Hùng nằm trên núi
Hùng. Núi Hùng còn được gọi là núi Nghĩa Lĩnh, Nghĩa Cương, Bảo Thiếu
Lĩnh, núi Cả. Núi Hùng cao nhất vùng: 175m so với mặt nước biển, có cây
cối bốn mùa xanh ngắt thâm u với 458 loài cây cỏ, xưa kia có nhiều loài sơn
cầm dã thú. Các cụ già trong làng nói rằng núi Hùng giống như một chiếc
đầu rồng hướng về Nam, mình rồng uốn khúc thành núi Vặn, núi Trọc, núi
Pheo. Núi Vặn cao xấp xỉ núi Hùng (170m), núi Trọc cao 145m nằm giữa
núi Hùng và núi Vặn. Núi Hùng ngày nay thuộc thôn Cổ Tích, xã Hy
Cương, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.
Người xưa nói:
Từ núi Hùng nhìn ra :
Phía trước, ngã ba Việt Trì có hàng chục quả đồi thấp là đàn rùa bò từ
ao nước lớn lên.
hóa dân tộc của các vương triều Lý- Trần, đã đưa đất nước bước vào thời kỳ
mới của lịch sử- thời phục hưng của văn hóa Thăng Long.
Thời Lý- Trần là thời kì lịch sử mà hầu như tất cả các công trình
nghiên cứu đều nhận định là một thời kỳ thịnh vượng của Phật giáo và văn
hóa phật giáo. Từ cuối thiên kỷ I trước công nguyên, vừa ra khỏi đêm trường
Bắc thuộc, thế kỷ X sau công nguyên đã là thế kỷ của phật giáo. Tiếp đến
thế kỷ XI-XIV, triều đại Lý- Trần làm nhiệm vụ quản lý đất nước ở thời kì
này cũng là một triều đại sùng phật. Phật giáo thời Lý- Trần góp phần làm
nên sự phục hưng của đất nước trong nhiều lĩnh vực: kinh tế, xã hội… trong
số này có sự mở mang thêm và mở mang lại những miền xa trung tâm của
đất nước. Với những biện pháp tích cực của sự mở mang đó, thường thấy
19
phổ quát là việc làm gắn bó và đồng bộ: Lập làng và xây chùa. Lập làng là
để mở mang đất nước, và xây chùa là để mở mang và cố kết cộng đồng làng.
Làng Cả là điểm tụ cư duy nhất sát gần ngọn núi thiêng cổ truyền: Núi Cả,
theo đứng mô hình của sự mở mang, cũng như quy luật của cuộc sống (lối
sống) đương thời, làng Cả xây chùa làng, “Đất vua chùa làng”. Địa điểm để
xây dựng loại hình tôn giáo tín ngưỡng này không phải đâu xa, vì núi Cả
ngự ngay trên đầu làng Cả.
Cư dân làng Cả là những người xây dựng các kiến trúc sớm nhất trên
núi Hùng- kiến trúc chùa, tháp- của tín ngưỡng phật giáo. Làng Cả sang thế
kỷ XV, dân cư phát triển dần dần về phía Đông vào sát chân núi Hùng, có
tên mới là làng Cổ Tích. Càng về sau cư dân càng phát triển nhanh, địa bàn
cư dân mở rộng sang phía Tây, hình thành thêm làng mới là làng Trẹo, làng
Vi, làng Trẹo thuộc Hy Cương, làng Vi thuộc Chu Hóa do sự phân chia hành
chính về sau. Một bộ phận dân cư nữa ra ở làng Tiên Kiên.
Lúc đầu làng Cả vẫn dựng đình ở làng để thờ Hùng Vương. Thế kỷ
XV, di đình ra khu giếng Mánh (Điếm Mánh), đình mới có tên là đình Cổ
Tích (đình Hy Cương), xây dựng lại ngôi chùa trên núi Hùng, đổi tên chùa
“Viễn sơn cổ tự” thành chùa “Thiên Quang Thiền Tự”. Các làng mới lập là
Bá Nghi xây lại đền Thượng và xây Lăng. Trong dịp đại trùng tu 6 năm liền
(1917-1922) nhân dân 18 tỉnh Bắc Bộ cung tiến 6000 đồng Đông Dương tôn
tạo đền Thượng, Lăng và đền Giếng. Nhà tưu sản Nghĩa Lợi cung tiến 1000
đồng Đông Dương xây 539 bậc xi măng. Nhà tư sản Đồng Thuận cung tiến
200 đồng Đông Dương xây cổng chính.
Qua nhiều lần trùng tu, kiến trúc Hậu Lê chỉ còn Đền Trung, đền Hạ
và Gác Chuông. Đền Thượng, Lăng, đền Giếng, cổng chính và cổng đền
Giếng là của thời Nguyễn. Hệ thống kiến trúc đền đài, lăng tẩm trên 3 tầng
21
núi này rất hài hòa với cảnh trí thiên nhiên, tạo tâm lý hoài cổ nhờ về thời
Vua Hùng. Đó chính là truyền thống kiến trúc tín ngưỡng, thể hiện tầm văn
hóa của dân tộc.
1.3.4 Các di tích kiến trúc thờ tự tại Đền Hùng
Quần thể kiến trúc, tín ngưỡng di tích lịch sử Đền Hùng bao gồm:
Cổng đền
Được xây dựng năm Khải Định thứ 2 năm 1917. Cổng xây kiểu vòm
cuốn cao 8,5m; hai tầng 8 mái, lợp giả ngói ống. Tầng dưới có một vòm cửa
cuốn lớn, đầu cột trụ cổng tầng trên có cửa vòm cuốn nhỏ hơn, bốn góc tầng
mái trang trí rồng, đắp nổi hai con Nghê. Giữa cột trụ và cổng đắp nổi phù
điêu hai võ sĩ, một người cầm giáo, một người cầm rìu chiến, mặc áo giáp,
ngực trang trí hổ phù. Giữa tầng một của cổng có đề bức đại tự “Cao Sơn
cảnh hành”. Mặt sau cổng đắp hai con hổ là biểu hiện sức mạnh, tầng dưới là
hiện thân vật canh giữ bảo vệ thần.
(xem ảnh 1)
Đền hạ
Được xây dựng lại trên nền đất cũ vào thế kỷ XVII- XVIII. Kiến trúc
kiểu chữ nhị gồm hai tòa: tiền bái và hậu cung, mỗi tòa ba gian, cách một
khoảng lộ thiên 1,5m . Kiến trúc đơn sơ kèo cầu suốt, bẩy gối đầu vào đầu
kèo làm cho mái sau dài hơn mái trước. Đốc xây liền tường với đốc hậu
cung, hai bên đắp phù điêu một bên voi, một bên ngựa. Bờ nóc thẳng, không
23
Tháp sư: có hai tháp sư hình trụ bốn tầng. Trên nóc đắp hình hoa sen.
Lòng tháp xây rỗng, cửa vòm nhỏ. Trong tháp có bát nhang và tấm bia đá kể
về các vị hòa thượng đã tu hành và viên tịch tại chùa.
Tam quan (gác chuông) được xây dựng vào thế kỷ XVII, gồm ba gian,
hai tầng mái bốn vì kèo cột kiểu chồng rường kết hợp với kẻ bảy. Trong tam
quan có ba bia:
+ Bia thứ nhất: “Nhất bản xã tín thí”: là bia công đức của xã.
+ Bia thứ hai: “Sửa đường lên núi Hùng”
+ Bia thứ ba: “Bài ký khắc trên bia ghi việc trùng tu chùa Thiên
Quang”
Đền Trung (Hùng Vương tổ miếu)
Tương truyền đây là nơi Vua Hùng cùng các lạc hầu, lạc tướng du ngoạn
ngắm cảnh thiên nhiên và họp bàn việc nước. Nơi đây Vua Hùng thứ 6 đã
truyền ngôi cho Lang Liêu, người con hiếu thảo.
Đền được xây dựng theo kiểu chữ nhất. Đền có ba gian quay về hướng
nam. Dài 7,2m rộng 3,7m. Mái hiên cao 1,8m, không có cột, kèo cầu quá
giang gối ghé vào tường, bít đốc tường hậu, phía trước mở ba cửa. Hai cửa
bên hẹp, cửa giữa rộng có chắn song và bốn cánh. Hai đầu đóc trang trí hai
vỉ ruồi.
Đền Trung thờ tự giống như đền Hạ. Ba gian và đầu đốc đặt bốn bệ thờ,
trên đặt ba long ngai, ba bài vị. Ban chính giữa đồ thờ để thất sự, hai gian
bên để ngũ sự, gian đầu đốc để tam sự. Các đồ thờ tự đều được sơn son thếp
bạc phủ hoàng kim, có niên đại hầu hết vào thời Nguyễn. Trong đền treo ba
bức hoành phi có nội dung:
24
Hùng Vương tổ miếu (miếu thờ tổ Vương) (gian giữa).
Hừng Vương linh tích (vết tích linh thiêng của Vua Hùng) (bên trái).
Triệu tổ Nam bang (tổ muôn đời của nước Nam) (bên trái).
Trong đền có bốn cỗ long ngai, ba cỗ long ngai chính diện có bài vị thờ