Rèn luyện năng lực tự kiến tạo tri thức cho học sinh trung học cơ sở trong dạy đọc hiểu văn bản văn học - Pdf 29

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

NGUYỄN THỊ THU HỒNG
RÈN LUYỆN NĂNG LỰC TỰ KIẾN TẠO TRI THỨC
CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ
TRONG DẠY ĐỌC HIỂU VĂN BẢN VĂN HỌC
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
NGHỆ AN - 2014
2
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN THỊ THU HỒNG
RÈN LUYỆN NĂNG LỰC TỰ KIẾN TẠO TRI THỨC
CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ
TRONG DẠY ĐỌC HIỂU VĂN BẢN VĂN HỌC
Chuyên ngành: Lý luận và PPDH bộ môn Văn và Tiếng Việt
Mã số: 60.14.01.11
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học:
PGS. TS. PHAN HUY DŨNG
NGHỆ AN - 2014
4
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 8
1. Lý do chọn đề tài 8
2. Lịch sử vấn đề 8
3. Nhiệm vụ nghiên cứu 11
4. Phương pháp nghiên cứu 11
6. Cấu trúc của luận văn 12

2.2.1. Gợi mở giúp học sinh phát hiện vấn đề 63
2.2.2. Tổ chức cho học sinh tìm tòi cách giải quyết vấn đề 66
2.2.3. Gợi ý về kế hoạch đọc văn ngoài giờ lên lớp 74
2.3. Tái cấu trúc mô hình giờ đọc hiểu văn bản văn học 77
2.3.1. Mô hình giờ đọc hiểu văn bản phổ biến hiện nay 77
2.3.2. Nguyên tắc tái cấu trúc mô hình giờ đọc hiểu văn bản văn học 80
2.3.3. Phác thảo đường nét chính của mô hình giờ đọc hiểu văn bản văn học hướng về phát
triển năng lực tự kiến tạo tri thức cho học sinh 86
Chương 3
THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 88
3.1. Mục đích thực nghiệm 88
3.2. Nội dung thực nghiệm 88
3.3. Tiến trình thực nghiệm 89
3.4. Kết quả thực nghiệm 90
KẾT LUẬN 114
TÀI LIỆU THAM KHẢO 116
6
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
ĐC : Đối chứng
GV : Giáo viên
HS : Học sinh
Nxb : Nhà xuất bản
SGK : Sách giáo khoa
STK : Sách tham khảo
THCS : Trung học cơ sở
THPT : Trung học phổ thông
TN : Thực nghiệm
TP.HCM : Thành phố Hồ Chí Minh
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài

“Thuyết kiến tạo ngày càng được chú ý trong những năm gần đây. Thuyết
kiến tạo thách thức một cách cơ bản tư duy truyền thống về dạy học. Không
phải người dạy mà là người học trong sự tương tác với các nội dung học tập
sẽ nằm trong tâm điểm của mối quan tâm. Nhiều quan điểm dạy học mới bắt
nguồn từ lí thuyết kiến tạo:việc học tập tự điều chỉnh, học tập với những vấn
đề phức hợp, học theo tình huống, học theo nhóm, học qua sai lầm, nhấn
mạnh nhiều hơn vào dạy định hướng quá trình thay cho định hướng sản
phẩm” [9, 121].
“Mặc dù có những cách diễn đạt khác nhau về kiến tạo trong dạy học,
nhưng tất cả các cách nói trên đều nhấn mạnh đến vai trò chủ động của người
học trong quá trình học tập và cách thức người học thu nhận những tri thức
cho bản thân. Theo những quan điểm này, người học không học bằng cách
thu nhận một cách thụ động những tri thức do người khác truyền cho một
cách áp đặt, mà bằng cách đặt mình vào trong một môi trường tích cực, phát
hiện ra vấn đề, giải quyết vấn đề bằng cách đồng hoá hay điều ứng những
kiến thức và kinh nghiệm đã có cho thích ứng với những tình huống mới, từ
đó xây dựng nên những hiểu biết mới cho bản thân” [6, 247]. Sau khi giới
thiệu các quan điểm khác nhau trên thế giới về lí thuyết kiến tạo, Nguyễn Hữu
Châu khẳng định những những luận điểm nền tảng của lí thuyết kiến tạo -
cũng là những luận điểm làm chỗ dựa cho việc nghiên cứu về năng lực tự kiến
tạo tri thức ở người học:
- Tri thức được tạo nên một cách tích cực bởi chủ thể nhận thức chứ
không phải tiếp thu một cách thụ động từ bên ngoài.
9
- Nhận thức là một quá trình thích nghi và tổ chức lại thế giới quan của
chính mỗi người. Nhận thức không phải là khám phá một thế giới độc lập
đang tồn tại bên ngoài ý thức của chủ thể.
- Kiến thức và kinh nghiệm mà cá nhân thu nhận phải “tương xứng”
với những yêu cầu mà tự nhiên và xã hội đặt ra.
- Học sinh đạt được tri thức mới theo chu trình: Dự báo → Kiểm

3. Nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Tìm hiểu cơ sở khoa học của đề tài, bao gồm: định hướng dạy học
nhằm phát triển năng lực người học; tính đặc thù của việc rèn luyện năng lực
tự kiến tạo tri thức cho học sinh qua dạy đọc hiểu văn bản; thực trạng vấn đề
rèn luyện năng lực đọc hiểu cho học sinh qua dạy học văn bản văn học.
3.2. Đề xuất hệ thống biện pháp rèn luyện năng lực tự kiến tạo tri thức
cho học sinh trong dạy đọc hiểu văn bản văn học ở THCS.
3.3. Tổ chức thực nghiệm sư phạm để khẳng định ý nghĩa quan trọng
của việc rèn luyện năng lực tự kiến tạo tri thức cho học sinh trong dạy đọc
hiểu văn bản văn học ở THCS.
4. Phương pháp nghiên cứu
Sử dụng phối hợp các phương pháp nghiên cứu thuộc hai nhóm phương
pháp nghiêm cứu lý thuyết và nghiên cứu thực tiễn: phân tích, tổng hợp lý thuyết;
phân loại, hệ thống hóa lý thuyết; mô hình hóa; quan sát, điều tra, thực nghiệm…
5. Đóng góp của luận văn
5.1. Góp phần xác lập cơ sở lý thuyết cho vấn đề rèn luyện năng lực tự
kiến tạo tri thức cho học sinh trong dạy đọc hiểu văn bản ở trường phổ thông.
5.2. Đề xuất những biện pháp khả thi nhằm rèn luyện năng lực tự kiến
tạo tri thức cho học sinh trong dạy đọc hiểu văn bản ở trường phổ thông.
11
6. Cấu trúc của luận văn
Ngoài Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận
văn được triển khai trong 3 chương:
Chương 1. Cơ sở khoa học của đề tài
Chương 2. Hệ thống biện pháp rèn luyện năng lực tự kiến tạo tri thức
cho học sinh trong dạy đọc hiểu văn bản văn học ở trường THCS
Chương 3. Thực nghiệm sư phạm
12
Chương 1
CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI

vấn đề trong cuộc sống thuộc lĩnh vực đang nói tới.
Từ những phân tích trên có thể dẫn tới kết luận là muốn đánh giá một
năng lực nào đó cần đánh giá hai vấn đề: một là kiến thức, kỹ năng; hai là,
khả năng sử dụng các kiến thức, kỹ năng đó để giải quyết các vấn đề có liên
quan trong cuộc sống.
1.1.1.2. Năng lực tự kiến tạo tri thức
Theo Từ điển Tiếng Việt, kiến tạo là xây dựng nên. Đây là một động từ
chỉ hoạt động của con người tác động lên một đối tượng nhằm mục đích hiểu
nó. Theo Mebrien và Brandt (1997) thì “Kiến tạo là một cách tiếp cận “Dạy”
dựa trên nghiên cứu về việc “Học” với niềm tin rằng: tri thức được kiến tạo
bởi mỗi cá nhân người học sẽ trở nên vững chắc hơn rất nhiều so với việc nó
được nhận từ người khác.”
Năng lực tự kiến tạo tri thức là khả năng các cá nhân bằng nỗ lực riêng
của mình, từng bước tìm hiểu những kiến thức bằng những phương pháp nhất
định, khả năng tiến sát gần đến giải quyết vấn đề để từ đó hình thành nên
những kiến thức mới.
Năng lực tự kiến tạo tri thức không phải bỗng nhiên mà có. Nó được
hình thành trong cả một quá trình dài từng con người sống, trải nghiệm và học
tập. Lúc đầu, tri thức được đưa đến cho con người nhờ hoạt động dạy dỗ, giáo
dục. Trong quá trình tiếp thu tri thức, con người không chỉ nhận được những
hiểu biết cụ thể về thế giới mà còn được bồi đắp tri thức phương pháp chiếm
lĩnh thế giới. Khi tri thức phương pháp này được tích lũy đạt đến một độ nhất
14
định, người ta sẽ có được năng lực tự kiến tạo tri thức, không cần đến sự dắt
tay, chỉ vẽ, uốn nắn của một ông thầy cụ thể trên những “đầu việc” cụ thể.
Năng lực tự kiến tạo tri thức không chỉ là năng lực cần có ở riêng đối
tượng học sinh mà còn là năng lực thiết yếu của mọi con người. Thời gian
ngồi trên ghế nhà trường của một con người, nếu có, cũng rất ít so với thời
gian của cả một đời. Bể học thì mênh mông, khối lượng tri thức cần phải tích
lũy thì lớn. Để có thể song hành cùng đời sống, cùng thời đại, mỗi con người

năng lực tự kiến tạo tri thức để có thể tận dụng mọi cơ hội học tập.
1.1.2. Lý thuyết kiến tạo và việc vận dụng nó trong dạy học
1.1.2.1. Một số luận điểm cơ bản của lý thuyết kiến tạo
Xuất phát từ quan điểm của J. Piaget về bản chất của quá trình nhận
thức, các vấn đề về kiến tạo trong dạy học đã thu hút ngày càng nhiều các công
trình của các nhà nghiên cứu và xây dựng nên những lý thuyết về kiến tạo.
Một số luận điểm chính của lý thuyết kiến tạo:
Thứ nhất: Học tập là quá trình cá nhân hình thành các tri thức cho
mình. Có hai loại tri thức: tri thức thuộc về thuộc tính vật lý, thu được bằng
hành động trực tiếp với các sự vật và tri thức về tư duy thu được qua tương
tác với người khác trong quan hệ xã hội. Đó là quá trình cá nhân tổ chức các
hành động tìm tòi, khám phá thế giới bên ngoài và cấu tạo lại chúng dưới
dạng sơ đồ nhận thức. Sơ đồ là một cấu trúc nhận thức bao gồm một lớp các
thao tác giống nhau theo một trật tự nhất định. Sơ đồ nhận thức được hình
thành từ các hành động bên ngoài và được nhập tâm. Vì vậy, sơ đồ có bản
chất thao tác và được người học xây dựng nên bằng hành động của mình. Sự
phát triển nhận thức là sự phát triển hệ thống các sơ đồ, bắt đầu từ các giản đồ
cảm giác và vận động - Cấu trúc tiền thao tác - Cấu trúc thao tác hình thức.
16
Thao tác - đó là hành động bên trong, được nảy sinh từ hành động của đối
tượng bên ngoài. Khác với hành động thao tác là hành động có tính rút gọn và
đối tượng của nó không phải là các sự vật có thật, mà là những hình ảnh, biểu
tượng, kí hiệu. Thao tác có tính chất thuận nghịch, bảo tồn và liên kết. Thao
tác cụ thể là các thao tác nhận thức với vật liệu là các dạng vật chất cụ thể,
các hành động thực tiễn. Thao tác hình thức là thao tác trên vật liệu là các kí
hiệu, khái niệm, mệnh đề…Các thao tác được cấu trúc thành hệ thống nhất
định (cấu trúc thao tác). Cấu trúc thao tác nhận thức không có sẵn trong đầu
người học, cũng không nằm trong đối tượng khách quan, mà nằm ngay trong
mối tác động qua lại giữa chủ thể với đối tượng, thông qua hành động.
Thứ hai: dưới dạng chung nhất, cấu trúc nhận thức có chức năng tạo ra

vấn đề đó để nó xuất hiện dưới dạng những tri thức quen thuộc với bản
thân để nhận thức. Điều ứng chính là tri thức đặt ra không quen thuộc với
vốn tri thức mà bản thân người học có nhưng cùng với vốn tri thức vốn có
và qua quá trình hoạt động người học sẽ hình thành nên tri thức mới cho
bản thân. Trong quá trình học tập, có nhiều vấn đề đặt ra để người học
giải quyết, có những vấn đề người học đã biết hay thấy gần gũi, có những
vấn đề người học biến đổi, phá vỡ vỏ bọc bên ngoài nó sẽ trở về với một
vấn đề quen thuộc đã biết, nhưng có những vấn đề, những kiến thức mà
người học sẽ chưa gặp nhưng cùng với kiến thức đã có và qua quá trình
hoạt động, người học sẽ cấu trúc lại nhận thức bản thân để có thể nhận
thức được vấn đề đặt ra.
Lý thuyết kiến tạo đề cao cái cơ bản của quá trình nhận thức của con
người, đó là vốn tri thức đã có. Con người sử dụng tri thức đó vào quá trình
hoạt động nhằm giải quyết những vấn đề đặt ra.
18
1.1.2.2. Khả năng vận dụng lý thuyết kiến tạo vào việc đổi mới mô hình
dạy học hiện nay
Lý thuyết kiến tạo được vận dụng cụ thể vào quá trình dạy học dựa vào
bốn giả thuyết sau:
Học trong hoạt động: cái đầu tiên trong việc kiến tạo kiến thức là hoạt
động trí tuệ của người học. Học là hoạt động thích ứng của người học. Do đó,
dạy học là phải hoạt động, tổ chức các tình huống học tập đòi hỏi sự thích ứng
của học sinh, qua đó học sinh kiến tạo được tri thức, đồng thời phát triển trí
tuệ và nhân cách của mình.
Học là vượt qua trở ngại: kiến thức mới của học sinh chỉ được xác lập
trên cơ sở những kiến thức đã có, đồng thời làm biến đổi những quan niệm cũ
sai lầm hoặc trái ngược với nó.
Học trong tương tác xã hội: nhận thức của con người tiến triển trong sự
tương tác xã hội và xung đột xã hội về nhận thức. Việc học tập do đó sẽ thuận
lợi và hiệu quả hơn việc thảo luận và tranh luận giữa những người cùng học.

1.1.3.1. Quan niệm về học tập như “một kho báu tiềm ẩn”
Học tập có vai trò quan trọng trong sự phát triển của xã hội nói chung
và mỗi cá nhân nói riêng. Đó chính là một trong những chìa khóa nhằm đáp
ứng những thách thức của thế kỷ XXI.
Đối mặt với nhiều thách thức mà tương lai sắp sẵn, nhân loại xem giáo
dục như là một biện pháp cần thiết để nhằm thực hiện những lý tưởng hòa
bình, tự do và công bằng xã hội. Theo kết luận của Ủy Ban Quốc tế về giáo
dục thế kỷ XXI khẳng định “Giáo dục có vai trò cơ bản trong sự phát triển
của cá nhân và xã hội. Giáo dục không phải là một phương thức thần kỳ và
cũng không phải là một công thức kỳ diệu để mở cánh cửa đi vào một thế giới
trong đó mọi lý tưởng đều có thể thực hiện được mà chỉ là một trong số các
20
phương tiện chính sẵn có thúc đẩy hình thái phát triển nhân loại sâu sắc hơn,
hài hòa hơn và do đó làm giảm bớt tình trạng nghèo khổ, sự bài trừ, sự ngu
dốt, sự áp bức và chiến tranh” [10,11].
Học tập không chỉ giúp con người hiểu biết, biểu lộ sự hiểu biết lẫn
nhau, sử dụng những tiến bộ trong kiến thức để thúc đẩy sự phát triển của con
người, của nhân loại mà còn giúp chúng ta học cách sống chung với nhau
trong ngôi “làng toàn cầu”. “Giáo dục có sứ mạng giúp cho mọi người, không
trừ một ai được phát huy tất cả mọi tài năng và tất cả mọi tiềm lực sáng tạo,
bao gồm cả tinh thần trách nhiệm đối với đời sống bản thân và việc đạt được
những mục đích cá nhân” [10,15].
Sự phát triển của khoa học công nghệ đã đưa con người vào kỷ nguyên
giao lưu toàn cầu, bằng việc xóa bỏ khoảng cách về không gian, công nghệ
mới là phương tiện tạo nên một xã hội tương lai, một xã hội mà ở đó con
người nhằm thích ứng và bổ sung những kiến thức, kỹ năng, sự xét đoán và
năng lực hành động của người đó. Chẳng có gì giống như những hình mẫu
trong quá khứ. Những thông tin chính xác, cập nhật nhất có thể ngay lập tức
đến với bất kỳ ai, ở bất cứ nơi đâu, đến cả những vùng xa xôi nhất. Giáo dục
rõ ràng đang đóng một vai trò quan trọng, bởi lẽ, nếu ta muốn làm chủ sự phát

cực hóa hoạt động nhận thức của người học. Nghĩa là tập trung vào phát huy
tính tích cực của người học chứ không phải là tập trung vào phát huy tính tích
cực của người dạy. Tuy nhiên, để dạy học theo phương pháp tích cực thì giáo
viên phải nỗ lực rất nhiều so với dạy theo phương pháp thụ động.
Muốn đổi mới cách học thì phải đổi mới cách dạy. Cách dạy chỉ đạo
cách học, nhưng ngược lại, thói quen học tập của trò cũng ảnh hưởng tới cách
dạy của thầy. Vì vậy, giáo viên phải kiên trì dùng cách dạy hoạt động để dần
22
dần xây dựng cho học sinh phương pháp học tập chủ động một cách vừa sức
từ thấp lên cao. Trong đổi mới phương pháp dạy học, phải có sự hợp tác của
thầy và trò, sự phân phối nhịp nhàng hoạt động dạy với hoạt động học thì mới
thành công. Như vậy, thuật ngữ “Dạy và học tích cực” được dùng để phân
biệt với “Dạy và học thụ động.”
Trong phương pháp dạy học tích cực, người học - đối tượng của hoạt
động “dạy”, đồng thời là chủ thể của hoạt động “học” được cuốn hút vào các
hoạt động học tập do giáo viên tổ chức và chỉ đạo, thông qua đó, học sinh tự
lực khám phá những điều mình chưa rõ, chứ không phải là thụ động tiếp thu
những tri thức đã được giáo viên sắp đặt sẵn. Được đặt vào những tình huống
của đời sống thực tế, người học được trực tiếp quan sát, thảo luận, làm thí
nghiệm, giải quyết vấn đề đặt ra theo cách suy nghĩ của mình. Từ đó, người
học nắm được những kiến thức mới, kỹ năng mới, không rập theo những
khuôn mẫu sẵn có, được bộc lộ và phát huy tiềm năng sáng tạo. Dạy theo
cách này thì giáo viên không chỉ đơn giản là truyền đạt tri thức mà còn phải
hướng dẫn học sinh hành động.
Phương pháp dạy học tích cực xem việc rèn luyện phương pháp học tập
của học sinh không chỉ là một biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học mà còn là
mục tiêu dạy học. Trong xã hội hiện đại đang biến đổi nhanh - với sự phát
triển như vũ bão của khoa học công nghệ thì không thể nhòi nhét vào đầu học
sinh khối lượng kiến thức ngày càng quá tải. Do vậy, phải quan tâm dạy cho
học sinh phương pháp học tập tích cực, hiệu quả nhất.

sẽ hình thành, người học chiếm lĩnh giá trị đó biến thành cái thật sự của mình
và từng bước, từng bước hình thành nên năng lực mới, quá trình mới.
Tự học là tự mình động não, suy nghĩ, tự sử dụng các năng lực trí tuệ
(quan sát, so sánh, tổng hợp…) và có khi sử dụng cả cơ bắp (khi phải sử dụng
24
công cụ), cùng các phẩm chất của mình, rồi cùng cả động cơ, tình cảm, cả
nhân sinh quan, thế giới quan (như trung thực, khách quan, có chí tiến thủ,
không ngại khó, không ngại khổ, kiên trì, nhẫn nại, say mê nghiên cứu khoa
học…) để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại, biến lĩnh
vực đó thành sự hiểu biết của mình.
Như vậy, cốt lõi của học là tự học. Hễ có học là có tự học vì không ai
có thể học hộ dùm cho người khác được. Cùng là học sinh đang nghe thầy
giảng bài, nhưng khả năng tự học ở mỗi HS là khác nhau. Chẳng hạn có HS
nghe giảng chăm chú, ghi chép và tích cực tham gia xây dựng bài, có HS ngồi
im thụ động, nghe giảng nhưng không tham gia trả lời, nhưng cũng có HS lơ
đãng, thích làm việc riêng…
Đã nói đến người học, việc học, thì đương nhiên phải nói đến người
dạy, việc dạy. “Không thầy đố mày làm nên”, vai trò của thầy vô cùng quan
trọng đối với người học, người thầy là người dẫn dắt, uốn nắn, đánh giá người
học. “Thực chất, của dạy là giúp đỡ người học tự học, tự nghiên cứu, tự điều
chỉnh, và xét cho cùng, người thầy giúp người học tự hiểu được bản thân
mình để biến đổi mình ngày một tiến bộ hơn, hoàn thiện hơn. Trong mỗi lần
cố gắng để chiếm lĩnh tri thức, kỹ năng, phẩm chất năng lực mới hoặc nói
chung là những giá trị mới, người học bộc lộ những mặt mạnh, mặt yếu của
mình, đó chính là cơ hội để người thầy giúp người học hiểu chính mình hơn,
hiểu kỹ hơn khả năng học tập của mình. Rồi từ đó tự bản thân người học tự
mình phát huy ưu điểm, khắc phục khuyết điểm bằng những cách làm thích
hợp hơn” [49,13].
Dạy và tự học là một quá trình thống nhất. Đó là quá trình dạy - tự học
và giữa chúng có mối quan hệ biện chứng với nhau. Khi nói học là nội lực là


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status