i
LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là
trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào.
Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được
cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều đã được chỉ rõ nguồn gốc.
Tác giả luận văn
Nguyễn Huy Khánh
Nguyễn Huy Khánh iii
MỤC LỤC
2.3.2. Diễn biến mật độ, sự gây hại của sâu cuốn lá nhỏ trên các giống lúa gieo trồng
phổ biến ngoài sản xuất vụ Xuân 2014 tại huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An 29
2.3.3. Diễn biến mật độ, sự gây hại của sâu cuốn lá nhỏ trên các chân đất khác nhau
vụ Xuân 2014 tại huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An 29
2.3.4. Ảnh hưởng mật độ cấy đến biến động số lượng, tác hại sâu cuốn lá nhỏ vụ Xuân
2014 tại huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An 29
2.3.5. Diễn biến mật độ thiên địch và tỷ lệ ký sinh của sâu cuốn lá nhỏ vụ Xuân 2014
tại huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An 30
2.3.6. Nghiên cứu nguồn ký chủ phụ của sâu cuốn lá nhỏ lứa cuối cùng chuyển từ vụ
Mùa sang vụ Xuân năm sau 31
2.3.7. Khảo sát hiệu lực một số nhóm thuốc BVTV phòng trừ sâu cuốn lá nhỏ 31
2.3.8. Phương pháp tính toán và xử lý số liệu 32
2.4. Địa điểm, thời gian nghiên cứu 33
2.4.1. Địa điểm nghiên cứu 33
2.4.2. Thời gian nghiên cứu 33
2.5. Bảo quản và giám định mẫu 33
2.5.1. Bảo quản mẫu côn trùng 33
2.5.2. Giám định mẫu 33
Chương 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 34
3.1. Thành phần sâu hại lúa và thiên địch của chúng vụ Xuân 2014 tại huyện Diễn
Châu, tỉnh Nghệ An 34
3.1.1. Thành phần sâu hại lúa vụ Xuân 2014 tại huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An 34
3.1.2. Thành phần thiên địch của sâu hại lúa vụ Xuân 2014 tại huyện Diễn Châu, tỉnh
Nghệ An 38
3.2. Diễn biến mật độ, tỷ lệ hại sâu cuốn lá nhỏ (C. medinalis) gây hại lúa vụ Xuân
2014 tại huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An 40
v
vi
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT MĐ
Mật độ
TLH
Tỷ lệ hại
CT
Công thức
TP
Trước phun
NSP
Ngày sau phun
BVTV
SL
TL
DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1. Thành phần các loài sâu và nhện hại lúa vụ Xuân 2014 tại huyện Diễn
Châu, tỉnh Nghệ An 36
Bảng 3.2. Tỷ lệ các loài sâu và nhện hại lúa trong sinh quần ruộng lúa vụ Xuân 2014
tại huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An 37
Bảng 3.3. Thành phần thiên địch của sâu hại lúa vụ Xuân 2014 tại huyện Diễn Châu,
tỉnh Nghệ An 39
Bảng 3.4. Tỷ lệ các loài thiên địch của sâu hại lúa trong sinh quần ruộng lúa vụ Xuân
2014 tại huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An 40
Bảng 3.5. Diễn biến mật độ, tỷ lệ hại sâu cuốn lá nhỏ (C. medinalis) trên một số giống
lúa gieo trồng phổ biến vụ Xuân 2014 tại huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An 41
Bảng 3.6. Diễn biến mật độ, tỷ lệ hại sâu cuốn lá nhỏ (C. medinalis) trên các chân đất
khác nhau tại huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An 43
Bảng 3.7. Ảnh hưởng mật độ cấy và số dảnh cấy (2 dảnh) đến mật độ, tỷ lệ hại sâu
cuốn lá nhỏ (C. medinalis) vụ Xuân 2014 tại huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An 45
Bảng 3.8. Diễn biến mật độ thiên địch của sâu cuốn lá nhỏ (C. medinalis) trên giống
lúa ZZD 001 vụ Xuân 2014 tại huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An 46
Bảng 3.9. Tỷ lệ trứng nở và tỷ lệ ký sinh trứng ở các lứa chính của sâu cuốn lá nhỏ (C.
medinalis) vụ Xuân 2014 tại huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An 48
Bảng 3.10. Tỷ lệ sâu non sâu cuốn lá nhỏ (C. medinalis) bị ký sinh vụ Xuân 2014 tại
huyện Diễn Châu, Nghệ An 49
Bảng 3.11. Thành phần sâu cuốn lá nhỏ (pha trưởng thành) trên cỏ dại sau vụ Mùa
ix
DANH MỤC HÌNH
Hình 3.1. Tỷ lệ các họ, loài sâu và nhện hại lúa vụ Xuân 2014 37
tại huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An 37
Hình 3.2. Tỷ lệ các họ, loài thiên địch của sâu hại lúa 40
vụ Xuân 2014 tại huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An 40
Hình 3.3. Diễn biến mật độ sâu cuốn lá nhỏ (Cnaphalocrocis medinalis) 42
yếu của trên 3 tỷ dân sống ở Chấu Á và cung cấp 1/3 lượng calo cho gần 1,5 tỷ dân
ở Châu Mỹ La Tinh và Châu Phi [14]. Theo thống kê Bộ NN&PTNT năm 2012,
tổng diện tích lúa cả nước gần 7,75 triệu ha, tăng 1,2% so năm 2011, năng suất lúa
bình quân đạt 56 tạ/ha, tăng 0,6 tạ/ha. Sản lượng ước tính đạt đạt 43,4 triệu tấn, tăng
hơn 1 triệu tấn (+2,6%) so năm 2011 (Bộ NN&PTNT, 2012) [2].
Riêng Nghệ An, hàng năm toàn tỉnh gieo cấy khoảng 182.000 ha, trong đó vụ
Đông Xuân 85.000 ha, Hè Thu - Mùa 97.000 ha, diện tích gieo sạ chiếm khoảng
30%. Năng suất lúa vụ Xuân từ năm 2011 - 2012 đạt bình quân từ 61,84 - 65,04
tạ/ha, vụ Hè Thu-Mùa đạt từ 40,05 - 60,25 tạ/ha (Sở NN&PTNT, 2012) [19].
Đối với nước ta, sản xuất nông nghiệp chiếm vị trí quan trọng trong nền kinh
tế quốc dân. Trong đó lúa là cây lương thực chính và chiếm diện tích lớn nhất trong
tổng diện tích trồng cây lương thực. Sự thay đổi toàn diện hệ thống canh tác lúa với
những giống lúa cải tiến, phân hóa học và hơn thế nữa do biến đổi khí hậu và việc
lạm dụng sử dụng thuốc bảo vệ thực vật không theo nguyên tắc 4 đúng làm phát sinh
nhiều dịch hại mới làm thay đổi thành phần sinh vật gây hại và thiên địch của chúng,
bên cạnh đó do lượng thuốc hóa học được phun ra đồng ruộng nhiều làm ảnh hưởng
sức khỏe cộng đồng và ô nhiễm môi trường, các loài thiên địch bị tiêu diệt và gây
hiện tượng kháng thuốc, nhờn thuốc của sâu hại dẫn tới bùng phát về số lượng sâu
hại trên đồng ruộng.
Trong số các loài gây hại lúa trên đồng ruộng như: Sâu cuốn lá, nhện gié, sâu
đục thân, rầy các loại, bọ trĩ…thì sâu cuốn lá nhỏ trong những năm gần phát sinh và
gây hại nặng trên hầu hết các diện tích trồng lúa. Theo kết quả theo dõi Trung tâm
BVTV vùng Khu 4, chỉ tính riêng vụ Xuân 2013 tổng diện tích nhiễm 5.684,4 ha
2 trên các trà lúa, trong đó diện tích bị nặng 200 ha, đặc biệt giai đoạn làm đòng diện
tích nhiễm tăng 3.974,4 ha so vụ Xuân năm 2012. Sâu non gây hại nặng ở các tỉnh
như: Thanh Hóa, Nghệ An, Quảng Bình, Quảng Trị…với mật độ phổ biến 15 - 20
con/m
3 Đối tượng, phạm vi và nội dung nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
- Các loài sâu hại lúa, sâu cuốn lá nhỏ (Cnaphalocrocis medinalis Guenee).
- Các loài thiên địch của sâu hại lúa.
Phạm vi nghiên cứu
- Đề tài thực hiện từ sau thu hoạch lúa vụ Mùa 2013 và vụ Xuân 2014.
- Nghiên cứu thành phần sâu hại lúa và thiên địch, diễn biến số lượng sâu
cuốn lá nhỏ và thiên địch của chúng dưới ảnh hưởng của một số yếu tố sinh thái
(giống lúa, chân đất, mật độ cấy).
- Tìm hiểu nguồn ký chủ phụ của sâu cuốn lá nhỏ lứa cuối cùng chuyển từ vụ
Mùa sang vụ Xuân năm sau.
- Khảo sát hiệu lực phòng trừ của một số loại thuốc BVTV đối với sâu cuốn
lá nhỏ hại lúa.
- Thí nghiệm diện rộng mật độ cấy giống lúa ZZD 001.
Nội dung nghiên cứu
- Điều tra thành phần sâu hại lúa và thiên địch vụ Xuân 2014 tại huyện Diễn
Châu, tỉnh Nghệ An.
- Điều tra, theo dõi biến động số lượng sâu cuốn lá nhỏ và thiên địch của
chúng dưới ảnh hưởng của một số yếu tố sinh thái (giống lúa, chân đất, mật độ cấy)
tại huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An.
- Điều tra, tìm hiểu loài cỏ dại sinh sống của sâu cuốn lá nhỏ lứa cuối cùng từ
vụ Mùa 2013 chuyển sang vụ Xuân 2014.
- Khảo sát hiệu lực một số thuốc BVTV phòng trừ sâu cuốn lá nhỏ.
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Ý nghĩa khoa học
- Xác định được thành phần sâu hại lúa, thiên địch và diễn biến, mức độ gây
hại sâu cuốn lá nhỏ tại các yếu tố sinh thái, nguồn ký chủ phụ sâu cuốn lá nhỏ
5 Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Cơ sở khoa học của đề tài
Để nâng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất, con người không ngừng cao cải
thiện các biện pháp kỹ thuật trong hệ thống canh tác phù hợp với từng vùng, từng
loại giống trồng và điều kiện thổ nhưỡng đất đai, cải biến hệ sinh thái đồng ruộng
nhằm làm thay đổi môi trường sống, gây bất lợi sống cho một số dịch hại. Trong
điều kiện thời tiết biến đổi khí hậu hiện nay, một số dịch hại là thứ yếu có nguy cơ
trở thành dịch hại chủ yếu và sẽ nhanh chóng bùng phát số lượng gây thành dịch
trên đồng ruộng.
Nghiên cứu động thái quần thể giúp cho việc dự tính dự báo số lượng quần
thể sâu hại và thiên địch của chúng trong hệ sinh thái đồng ruộng. Vì vậy, hiểu biết
hệ sinh thái đồng ruộng là cơ sở khoa học cho việc xây dựng các biện pháp thâm
canh, bảo vệ cây lúa tránh tổn thất do dịch hại gây ra, bảo vệ môi sinh và góp phần
giữ cân bằng hệ sinh thái.
Vào những năm 60 của thế kỷ, sâu cuốn lá nhỏ là loài gây hại thứ yếu hầu
như con người không mấy quan tâm vì mức độ gây hại của nó không đáng kể đến
sinh trưởng và năng suất, sản lượng lúa. Tuy nhiên khi cuộc cách mạng xanh nổ ra
đã làm thay đổi bộ mặt của sản xuất Nông Nghiệp trên thế giới, sản lượng lúa gạo
tăng lên mạnh mẽ do áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất. Từ những năm
đồng thời đem lại hiệu quả kinh tế và bảo vệ môi trường.
1.2. Tình hình nghiên cứu trên thế giới
1.2.1. Nghiên cứu về thành phần sâu hại lúa
Kết quả điều tra của trên thế giới có hơn 800 loài sâu hại (Dale, 1994) [39],
(Kiritani, 1979) [44]. Theo FAO (1995) [40] và Norton (1990) [50] tại Đông Nam Á
đã phát hiện hơn 100 loài. Ở Trung Quốc đã phát hiện hơn 200 loài (Chiu, 1980)
[36], (Li, 1982) [45]. Tuy nhiên trong số đó chỉ một số ít gây nặng hại cho cây lúa,
7 còn đa số không gây hại hoặc ít gây hại, số loài gây hại giữa các vùng không giống
nhau.
Kết quả nghiên cứu của Kiritani (1979) [44] ở châu Á có tới 20 loài sâu hại
chính, ở châu Úc chỉ có 9 loài, châu Mỹ 13 loài, châu Phi 15 loài. Đa số các loài còn
lại ít gây hại hoặc gây hại không đáng kể.
Trên thế giới ở các nước trồng lúa khác nhau các loài sâu hại chính cũng khác
nhau. Theo Nagarajan (1994) [49] tại Ấn Độ có 4 loài hại chính đó là sâu đục thân 2
chấm, rầy nâu, rầy xanh đuôi đen và sâu năn. Nhưng theo Chiu (1980) [36] ở Trung
Quốc có 7 loài sâu hại chính: Sâu đục thân 2 chấm, sâu đục thân 5 vạch, sâu cuốn lá
nhỏ, rầy nâu, rầy xanh đuôi đen, sâu năn và bọ trĩ.
Nhật Bản có các loài sâu đục thân 2 chấm, sâu đục thân 5 vạch, rầy nâu, rầy
xanh đuôi đen (Kiritani, 1979) [44]. Số lượng các loài gây hại chính phụ thuộc vào
thời gian sinh trưởng cây lúa, ở giai đoạn sinh trưởng dinh dưỡng có 22 loài, giai
đoạn làm đòng đến trỗ khoảng 8 loài và giai đoạn chín chỉ có 3 - 4 loài (Norton,
1990) [50].
1.2.2. Nghiên cứu về thiên địch của sâu hại lúa
Thiên địch của sâu hại rất đa dạng và phong phú, chúng có vai trò rất quan
trọng không những góp phần điều chỉnh mật độ quần thể sâu hại phát triển dưới
ngưỡng gây hại kinh tế ở một điều kiện cụ thể nào đó mà còn giúp con người hạn
chế số lần phun thuốc hóa học trên đồng ruộng, giữ cho môi trường trong sạch, sinh
Barrion hoàn chỉnh (1988) [43].
Ở châu Á, hầu hết các nước đều xuất hiện loài dịch hại này. Điển hình là Thái
Lan, Trung Quốc, Ấn Độ, Bangladet, Brunay, Butan Ở châu Đại Dương sâu cuốn
lá nhỏ gây hại ở quần đảo Xamoa, đảo Carolin Như vậy sâu cuốn lá nhỏ phân bố
chủ yếu vùng Nam và Đông Nam Châu Á, thuộc những nước có khí hậu nhiệt đới
gió mùa và cũng là nơi có diện tích trồng lúa lớn nhất thế giới, gần đây sâu cuốn lá
nhỏ trở thành dịch hại chính trên cánh đồng lúa ở Chia - Nan (W.C.Lin) [57].
9 1.2.3.2. Nghiên cứu về phạm vi ký chủ sâu cuốn lá nhỏ
Ký chủ chính của sâu cuốn lá nhỏ là cây lúa, chúng còn gây hại trên lúa mì,
cao lương, đại mạch. Ngoài ra chúng còn có trên một số ký chủ phụ như: Cỏ lá tre,
cỏ môi, cỏ lồng vực, cỏ gà nước, cỏ bấc (CABI, 1999) [35].
Theo Barrion và et al. (1991) [33] sâu cuốn lá nhỏ có 19 loài ký chủ khác
nhau với phổ ký chủ tương đối rộng. Sâu cuốn lá nhỏ có thể tồn tại khi trên đồng
ruộng thiếu ký chủ chính, sự chu chuyển của chúng qua các mùa vụ nhờ các ký chủ
phụ là các cây trồng hoặc các cây dại quanh ruộng lúa.
1.2.3.3. Nghiên cứu về thành phần sâu cuốn lá
Ở Châu Á W.H. Ressing, E.A. Heinrichs và et al. (1985) [54] đã xác định 4
loài sâu cuốn lá là Cnaphalocrocis medinalis, Marasmia exigua, Marasmia patnalis
và Marasmia ruralis. Sự khác biệt giữa 4 loài này chủ yếu phân biệt thông qua đặc
điểm vân cánh. Loài (Cnaphalocrocis medinalis) được phân biệt bởi nét đặc trưng là
giữa 2 vân ngang màu tro xám có một vân cụt to đậm, loài (Marasmia exigua) có nét
đặc trưng trên đôi cánh là vân ngang, giữa trên đôi cánh ngoài hình gấp khúc, còn
loài (Marasmia patnalis) thì ở mép trên đôi cánh ngoài có viền nâu đậm tới vân
ngoài của cánh, vân ngang giữa gián đoạn không liền nét. Khác với 3 loài trên, loài
(Marasmia ruralis) có nét đặc trưng là ở giữa mép trên của đôi cánh ngoài có điểm
đen to hình Ovan nằm ngang, mép ngoài của cánh có viền nâu mảnh. Đặc điểm chi
tiết về phân loại và các giai đoạn phát dục của (Cnaphalocrocis medinalis) đã được
vào thời gian sinh trưởng cây lúa và nhiệt độ. Ở nhiệt độ 25
0
C giai đoạn lúa đẻ
nhánh thời gian phát dục là 15,5 - 16,5 ngày, nhưng ở giai đoạn làm đòng thời gian
phát dục 18,5 - 20,5 ngày. Thời gian phát dục pha nhộng ở nhiệt độ 25
0
C, 27
0
C,
30
0
C tương ứng là 7,6; 5,8 và 5,3 ngày (CABI, 199) [35].
Trưởng thành sâu cuốn lá nhỏ hoạt động về ban đêm. Trứng thường đẻ rải rác
hoặc thành từng ổ 10 - 12 quả xếp dọc theo gân chính lá lúa. Lượng trứng đẻ nhiều
nhất vào đêm thứ 4 - 7, sau khi trưởng thành vũ hóa, một con cái có thể đẻ 300 quả
trứng. Sâu non từ tuổi 2 trở đi cuốn lá làm tổ và nằm trong đó gặm chất xanh của lá
11 chỉ để lại gân lá, khi đẫy sức sâu làm nhộng ngay trong tổ hoặc xuống bẹ lá phía
dưới để hóa nhộng (Pathak M.D, Z.R. Khan, 1994) [51], Reissig W.H và et al.
(1986) [53].
Tại Ấn Độ sâu cuốn lá nhỏ phát sinh 5 - 6 lứa trong một năm, tại Korala trong
điều kiện nhân nuôi giai đoạn trứng là 4 ngày, sâu non có 5 tuổi, thời gian các tuổi
trung bình là 3,0; 5,0; 3,8; 4,0; 5,4 ngày từ tháng 10 đến tháng 3, tổng thời gian phát
dục của sâu non trung bình là 24,2 ngày, giai đoạn nhộng dài nhất là 7,4 ngày. Trong
điều kiện nhân nuôi thời gian trứng 3 - 4 ngày, sâu non 15 - 17 ngày, nhộng 6 - 7
ngày, trưởng thành sống 2 - 3 ngày, mỗi con trưởng thành đẻ trung bình 100 quả
trứng.
Ở Philippine đặc điểm sinh vật học sâu cuốn lá nhỏ được nhiều tác giả nghiên
lượng 6, 12, 18 và 24 kg/N số lượng trứng thu được tương ứng là 72, 76, 121 và 161
quả/khóm.
Mật độ cấy ảnh hưởng đến số lượng sâu cuốn lá nhỏ, mật độ cấy dày thường
có mật độ sâu cuốn lá nhỏ cao hơn so mật độ cấy thưa. Theo kết quả nghiên cứu của
Thangamuthu và et al. (1982) [56] với nền phân bón 70kg N/ha cấy ở 4 mật độ 10 x
15cm; 15 x 20cm; 20 x 20cm; và 30 x 20cm. Kết quả điều tra sau 55 ngày cấy tỷ lệ
lá bị hại ô 10 x 15cm là 36% nhưng ô 15 x 20cm tỷ lệ lá hại chỉ 12%.
Theo Shen C.Y, Z.C. Lu, (1984) [55] các giai đoạn sinh trưởng lúa khác nhau
mức độ hại của sâu cuốn lá nhỏ khác nhau. Sản lượng của lúa giảm nhiều nhất nếu
sâu cuốn lá nhỏ gây hại vào lúc lúa trỗ, trung bình vào giai đoạn lúa đẻ nhánh và nhẹ
nhất ở giai đoạn chín sữa, gieo cấy sớm, tập trung mức hại nhẹ hơn so cấy muộn.
Các giống lúa khác nhau thì mức độ gây hại của sâu cuốn lá nhỏ cũng khác
nhau. Theo Majunder và Pathak (1984) [48] có nhận xét giống lúa bị sâu cuốn lá
nhỏ gây hại nặng thường là những giống có bản lá to màu xanh đậm, chiều cao cây
và chiều dài lá lớn hơn các giống khác. Tuy nhiên ở vùng Đông Nam Á chưa có
giống nào chống chịu sâu cuốn lá nhỏ.
1.2.3.7. Biện pháp phòng trừ sâu cuốn lá nhỏ
- Biện pháp sinh học
13 Ngày nay với mục tiêu phát triển nền nông nghiệp bền vững, biện pháp đấu
tranh sinh học trong đó nguyên lý cơ bản là lợi dụng các thiên địch của sâu hại để
khống chế, điều chỉnh mật độ chúng dưới ngưỡng gây hại đang là biện pháp đang
được khuyến khích để góp phần làm giảm ô nhiễm môi trường, giữ cân bằng sinh
thái ngoài tự nhiên.
Việc ứng dụng biện pháp đấu tranh sinh học để xây dựng hệ thống phòng trừ
tổng hợp đang gặp phải khó khăn đó là do việc sử dụng thuốc hóa học ngày càng gia
tăng do thiếu hiểu biết về sinh thái của người dân. Thuốc hóa học có tác dụng tiêu
diệt dịch hại nhanh nhưng làm cho thiên địch bị giảm trên đồng ruộng do nhiễm phải
ăn thịt là quan trọng nhất. Những loài bắt mồi ăn thịt thuộc giống Grylidae gồm
Metioche và Anaxipha ăn trứng và ong Ophionae spp ăn sâu non. Các loài ký sinh
quan trọng gồm Copidosomopsis nacoleiae, Cotesia angustibasis, Cardiochiles
philippinensis và Macrocentrus cnaphalocrocis, trong suốt mùa mưa nếu lượng mưa
vừa phải thì quần thể nấm Zoophthora radicans có thể tiêu diệt toàn bộ quần thể sâu
non (Barrion và et al., 1991) [33].
- Biện pháp sử dụng giống
Hiện nay, việc sử dụng giống kháng sâu cuốn lá cũng được các nhà khoa học
quan tâm nhiều. Majuner và Pathak (1984) [48] có nhận xét những giống lúa bị sâu
cuốn lá nhỏ gây hại nặng là những giống lúa có bản lá to, xanh đậm, chiều cao cây
và chiều dài lá lớn hơn các giống khác.
Theo Pathak M.D, Z.R. Khan (1994) [51] việc bố trí tỷ lệ hợp lý các giống
lúa kháng sâu cuốn lá nhỏ là một giải pháp nhằm giảm áp lực sâu cuốn lá nhỏ đồng
thời tăng tính đa dạng sinh học trên đồng ruộng hạn chế thiệt hại do loài này gây ra.
Đây là một biện pháp chủ động an toàn sinh thái và nên thực hiện trong biện pháp
phòng trừ tổng hợp.
Jaswant và Dhaliwai (1983) [35] có nhận xét rằng những giống lúa được gọi
là kháng sâu cuốn lá nhỏ chỉ thể hiện tính kháng trong từng điều kiện cụ thể của
từng địa phương. Tại Ấn Độ người ta khảo nghiệm 384 giống lúa đối với sâu cuốn lá
nhỏ tại 2 địa phương Gurdaspur và Kapurthala. Kết quả nhận được 15 giống kháng ở
15 Gurdaspur và 2 giống kháng ở Kapurthala, nhưng chỉ có một giống kháng chung cho
cả 2 địa phương trên, đó là giống IET. 7776. Điều này chứng tỏ rằng công việc
tuyển chọn giống chống chịu với sâu cuốn lá nhỏ đang còn là vấn đề khó khăn trong
sản xuất nông nghiệp.
- Biện pháp canh tác
Trong các biện pháp phòng trừ sâu cuốn lá nhỏ thì biện pháp canh tác là một
biện pháp có ảnh hưởng đến mật độ sâu cuốn lá nhỏ trên đồng ruộng. Cần chú ý tiêu
Theo Endo và et al. (1987) nông dân sử dụng tới 40% số lần phun thuốc để
trừ sâu cuốn lá nhỏ, trong điều kiện nghiên cứu khi nông dân không phun giai đoạn
đầu vụ thì không làm thiệt hại kinh tế, tăng thu nhập từ 15 - 30% và tiết kiệm chi phí
thuốc trừ sâu, việc giảm phun thuốc trừ sâu sẽ giảm ô nhiễm môi trường, nâng cao
sức khỏe cho bà con nông dân.
Ngày nay, xu hướng sư dụng thuốc trừ sâu có phổ hẹp ít hoặc không ảnh
hưởng đến thiên địch và các loài sinh vật khác. Thuốc trừ sâu có nguồn gốc vi sinh
và thảo mộc được chú trọng. Theo nghiên cứu của Saxenna và et al. (1980) dầu hạt
Neem được sử dụng có hiệu quả để trừ sâu cuốn lá nhỏ.
1.3. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
1.3.1. Nghiên cứu về thành phần sâu hại lúa
Kết quả điều tra côn trùng 1967 - 1968 ở Miền Bắc đã xác định được 88 loài
côn trùng và nhện nhỏ hại cây lúa (Viện BVTV, 1975) [30]. Ở Miền Nam kết quả
điều tra năm 1977 - 1979 đã xác định được 86 loài côn trùng và nhện nhỏ hại trên
cây lúa (Viện BVTV, 1980) [29]. Thành phần sâu hại lúa ở Việt Nam còn được
nhiều tác giả khác công bố, trong đó có công trình nghiên cứu của Phạm Văn Lầm
(2000) [12] tổng hợp tất cả các tài liệu đã công bố và chỉ ra rằng: Ở Việt Nam có
133 loài côn trùng và nhện nhỏ (thuộc 90 giống, 33 họ của 8 bộ côn trùng và nhện
nhỏ) gây hại trên cây lúa.