ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
ĐOÀN THỊ THU THƢƠNG
NGHIÊN CỨU MÔ HÌNH DU LỊCH DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG
TẠI THÀNH PHỐ HỘI AN, QUANG NAM
(TRƢỜNG HỢP ĐIỂN HÌNH LÀNG MỘC KIM BỒNG
VÀ LÀNG RAU TRÀ QUẾ)
LUẬN VĂN THẠC SĨ DU LỊCH
Chuyên ngành: Du lịch học
(Chương trình đào tạo thí điểm)
LUẬN VĂN THẠC SĨ DU LỊCH Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS. TS. Phạm Trung Lƣơng
Hà Nội – 2015
1
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 7
CHƢƠNG 1. MỘT SÔ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ MÔ HÌNH DU
LỊCH DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG 12
1.1. Du lịch dựa vào cộng đồng 12
1.1.1. Khái niệm 12
1.1.2. Đặc điểm 14
2.3.3. Tác động của mô hình DLDVCĐ đến các giá trị tự nhiên 95
2.4. Những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức đối với việc phát triển MH dựa vào
CĐ tại thành phố Hội An 95
Tiểu kết chƣơng 2 97
CHƢƠNG 3. GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG MÔ HÌNH DU
LỊCH DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG TẠI THÀNH PHỐ HỘI AN 98
3.1. Nhóm giải pháp chung 98
3.1.1. Giải pháp về chính sách 98
3.1.2. Giải pháp về tăng cường sự tham gia và nâng cao năng lực CĐ 100
3.1.3. Giải pháp về sản phẩm 105
3.1.4. Giải pháp về quảng bá 107
3.1.5. Giải pháp về nâng cấp hạ tầng du lịch 108
3.1.6. Giải pháp về bảo tồn và phát huy các giá trị của CĐ 111
3.1.7. Giải pháp tăng cường liên kết giữa các bên tham gia 113
3
3.2. Nhóm giải pháp cụ thể 115
3.3. Các đề xuất 119
3.3.1. Đối với Bộ văn hóa thể thao và du lịch 119
3.3.2. Đối với UBND tỉnh Quảng Nam và UBND thành phố Hội An 120
3.3.3. Đối với các DN và nhà đầu tư 120
Tiểu kết chƣơng 3 122
KẾT LUẬN 123
TÀI LIỆU THAM KHẢO 124
PHỤ LỤC . 13828
MH: Mô hình
TNDL: Tài nguyên du lịch
TM – DV: Thƣơng mại - dịch vụ
5
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Trang
Bảng 2.1: Thời gian lƣu trú trung bình năm 2009 – 2012 41
Bảng 2.2: Số liệu tổng lƣợt khách tham quan di tích từ năm 2009 - 2012 42
Bảng 2.3: Cơ cấu khách theo quốc tịch năm 2009 – 2012 42
Bảng 2.4: Cơ cấu doanh thu du lịch phân theo loại hình kinh doanh 2009-2012 43
Bảng 2.5: Số lƣợng cơ sở lƣu trú tại Hội An từ năm 2009 – 2012 44
Bảng 2.6: Số lƣợng phƣơng tiện vận chuyển phục vụ du lịch 45
Bảng 2.7: Số lƣợng các hộ kinh doanh cửa hàng, dịch vụ du lịch năm 2012 46
Bảng 2.8: Số lƣợng lao động phục vụ trong ngành dịch vụ 46
Bảng 2.9: Ban quản lý HTX DV – DL Kim Bồng qua các thời kỳ 58
Bảng 2.10: Thị trƣờng khách đến với làng mộc Kim Bồng 59
7
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Ngày nay, khái niệm DLDVCĐ dƣờng nhƣ không còn xa lạ với tất cả mọi
ngƣời và nó có xu hƣớng đƣợc biết đến nhiều hơn trong hoạt động du lịch ở tƣơng
lai. Nhiều quốc gia trên thế giới, kể cả Việt Nam đã triển khai rất nhiều MH
DLDVCĐ tại các ĐP trên lãnh thổ của mình. Ở Việt Nam, tiêu biểu tại khu vực
miền Bắc có bản Lác ở Mai Châu, bản Hồ ở Sa Pa; miền Trung có thôn Dỗi ở Huế;
miền Nam có cù lao Thới Sơn ở Tiền Giang,….Hầu hết các MH đƣợc triển khai và
đƣợc nhận thức là “chỉ thành công” tại những khu vực xa xôi, có địa hình hấp dẫn,
tài nguyên tự nhiên phong phú hay tại những nơi có nhiều giá trị truyền thống văn
hóa độc đáo còn đƣợc bảo tồn của các đồng bào dân tộc còn điều kiện kinh tế khó
khăn. Hình thức phát triển MH có thể khởi nguồn từ các dự án tài trợ hoặc do ngƣời
dân ĐP, công ty lữ hành đứng ra tổ chức thực hiện và mở rộng.
Hội An là một thành phố di sản văn hóa thế giới nổi bật với các công trình
kiến trúc cổ và những giá trị văn hóa truyền thống phong phú, hấp dẫn còn đƣợc
bảo tồn nguyên vẹn cho đến ngày nay. Bên cạnh thƣơng hiệu là một “phố cổ”, Hội
An còn đƣợc du khách trong và ngoài nƣớc biết đến với loại hình DLDVCĐ nổi bật
- Nghiên cứu điều kiện phát triển, quá trình hình thành và thực trạng triển
khai MH, các tác động của MH đến kinh tế - xã hội, tự nhiên và văn hóa và những
điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức tại hai điểm đến du lịch là làng rau Trà
Quế và làng mộc Kim Bồng.
- Đề xuất những giải pháp nhằm khắc phục hạn chế và nâng cao hiệu quả
hoạt động của MH DLDVCĐ tại địa bàn nghiên cứu.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tƣợng nghiên cứu của đề tài là MH DLDVCĐ.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Về không gian lãnh thổ: địa bàn thành phố Hội An, tập trung ở là hai điểm
đến du lịch: làng mộc Kim Bồng và làng rau Trà Quế.
Về thời gian: các thông tin, số liệu liên quan đƣợc cập nhật đến năm 2012.
4. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Có rất nhiều công trình nghiên cứu về DLDVCĐ trên thế giới và ở Việt Nam
đƣợc tác giả sử dụng nghiên cứu. Tiêu biểu các công trình trên thế giới nhƣ:
9
“Community – based tourism for conservation and development” do Viện Mountain
Institute xuất bản năm 2001, đề án “Relationship between tourism and community,
social, economic and environment cost – benefit of Community based on tourism “
(2004) và tài liệu hƣớng dẫn “Community – based on tourism Handbook” của tổ
chức REST nhấn mạnh đến ý nghĩa của việc phát triển DLDVCĐ (2001),
Commuinity – based on tourism in Thai Lan” của Viện DLDVCĐ Thái Lan,
“Community – based tourism in the Asia Pacific” của tiến sĩ Micheal J. Hatton đƣa
ra những nhận định về DLDVCĐ tại Châu Á Thái Bình Dƣơng.
Tại Việt Nam, các hội thảo chia sẻ kinh nghiệm và các đề tài nghiên cứu phát
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp thu thập và xử lý số liệu
Đây là phƣơng pháp đƣợc sử dụng phổ biến ở tất cả các công trình nghiên
cứu khoa học. Việc vận dụng phƣơng pháp này đảm bảo tính kế thừa các công trình
trƣớc đó, giúp tiết kiệm thời gian, công sức và giúp học viên có cái nhìn tổng thể về
đề tài nghiên cứu.
Sau khi thu thập đủ các tài liệu, tác giả tiến hành phân tích, tổng hợp và xử lý
để phục vụ cho việc phân tích, suy luận và đánh giá của mình trên cơ sở lý luận
khoa học và kết hợp thực tiễn để tìm ra giải pháp.
5.2. Phương pháp chuyên gia
Phƣơng pháp chuyên gia đƣợc sử dụng nhằm thu thập những số liệu và thông
tin thực tế về nhận thức, suy nghĩ của những nhà hoạch định chính sách, từ đó sẽ
giúp hình thành bức tranh thực tế của vấn đề nghiên cứu, đƣa ra những giải pháp
mang tính khả thi hơn.
5.3. Phương pháp khảo sát thực địa: bao gồm phỏng vấn và điều tra xã hội học
- Tiến hành phỏng vấn chuyên sâu các thành viên trong CĐ, các nhà quản
lý, lãnh đạo tại ĐP, các DN du lịch, hƣớng dẫn viên du lịch và du khách.
- Lập phiếu điều tra thu thập ý kiến đánh giá của ngƣời dân và du khách
về mô hình DLDVCĐ ở Hội An tại hai điểm đến là làng mộc Kim Bồng và làng rau
Trà Quế. Trong 400 bảng hỏi phát ra (200 bảng tiếng Anh và 200 bảng tiếng Việt)
thì thu đƣợc 339 phiếu, trong đó có 198 phiếu tiếng Việt và 141 phiếu tiếng Anh.
Nội dung điều tra ngƣời dân liên quan đến việc tìm hiểu ảnh hƣởng của mô hình
DLDVCĐ đến cuộc sống của họ, các hoạt động ngƣời dân tham gia,… Nội dung
11
điều tra du khách bao gồm các hoạt động du khách có sự tham gia của CĐ, đánh giá
của du khách về mô hình DLDVCĐ,…
12
CHƢƠNG 1. MỘT SÔ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
VỀ MÔ HÌNH DU LỊCH DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG
1.1. Du lịch dựa vào cộng đồng
1.1.1. Khái niệm
Nguồn gốc của thuật ngữ DLDVCĐ phát sinh từ các thuật ngữ có trƣớc nhƣ
“du lịch nông thôn”, “du lịch làng bản” vốn là những MH phát triển kinh tế nông
thôn từ những năm 1970 ở các nƣớc du lịch phát triển nhƣ châu Âu, châu Mỹ,… Do
nhu cầu ngày càng tăng về sự tham gia hiệu quả của CĐ vào những MH du lịch nói
trên nên “DLDVCĐ” ngày càng phát triển và lan rộng sang các nƣớc ở khu vực
châu Á, trong đó có các nƣớc khu vực ASEAN nhƣ Indonexia, Phillipin, Thái Lan,
Việt Nam và các khu vực khác nhƣ Ấn Độ, Nepan,…Hiện nay, DLDVCĐ đang dần
trở nên quen thuộc và đƣợc xem là một bộ phận của phát triển bền vững.
Mặc dù có nhiều nghiên cứu cũng nhƣ chƣơng trình và dự án đƣợc triển khai
nhƣng cho đến nay vẫn chƣa có một quan điểm thống nhất về khái niệm DLDVCĐ.
Các khái niệm về DLDVCĐ đƣợc sử dụng khá linh hoạt và đƣợc thay đổi tùy thuộc
vào tác giả, địa điểm và các dự án cụ thể, song vấn đề bền vững và CĐĐP (điển
hình là khu vực nông thôn, những ngƣời nghèo, và ở vùng sâu vùng xa) là những
nội dung chính đƣợc đề cập và xem xét.
Theo Nicole Hausle và Wolffang Strasdas: “ DLDVCĐ là một hình thái du
lịch trong đó chủ yếu là người dân ĐP đứng ra phát triển và quản lý. Lợi ích kinh tế
có được từ du lịch sẽ đọng lại nền kinh tế ĐP”.[9, 20]
Theo Hsien Hue Lee, Đại học CĐ Hsin – Hsing, Đài Loan: “ DLDVCĐ là
nhằm bảo tồn TNDL tại các điểm du lịch đón khách vì sự phát triển du lịch bền
vững dài hạn. Đồng thời khuyến khích và tạo ra các cơ hội tham gia của người dân
ĐP trong du lịch”.[9,20]
Viện nghiên cứu phát triển Miền Núi (Mountain Institues) đƣa ra khái niệm
về du lịch CĐ nhƣ sau: “DLDVCĐ là nhằm bảo tồn TNDL tại điểm du lịch đón
khách vì sự phát triển du lịch bền vững, dài hạn. DLDVCĐ khuyến khích sự tham
gia của người dân ĐP trong du lịch và có cơ chế tạo các cơ hội cho CĐ”.[9,20]
nguyên” nhƣ trên, CĐ đã có vai trò nhất định trong hoạt động du lịch và đƣợc
hƣởng một phần lợi ích trong chuỗi giá trị du lịch. Hoạt động du lịch trong trƣờng
hợp này thƣờng đƣợc gọi là “Du lịch có sự tham gia của cộng đồng”
14
- Mức độ chủ động: theo đó CĐ là chủ thể tổ chức và cung cấp dịch vụ và
qua đó sẽ đêm đến cho du khách những trải nghiệm tốt về CĐ, về những giá trị tự
nhiên và văn hóa nơi CĐ sinh sống. Trong trƣờng hợp này các công ty du lịch sẽ chỉ
đóng vai trò là đối tác của CĐ. CĐ vừa có vai trò là “tài nguyên” vừa đóng vai trò là
ngƣời tổ chức khai thác chính các giá trị “tài nguyên” đó. Trong trƣờng hợp này
hoạt động du lịch thƣờng đƣợc gọi là “Du lịch dựa vào cộng đồng” hay “Du lịch
cộng đồng”. DLDVCĐ chính là hình thức nơi đảm bảo mức độ tham gia cao nhất
của CĐ vào hoạt động du lịch.
Tên gọi “DLDVCĐ” thƣờng đƣợc sử dụng trong trƣờng hợp muốn nhấn
mạnh đến hình thái tổ chức hoạt động du lịch, theo đó CĐ là chủ thể tổ chức và
cung cấp dịch vụ du lịch; còn tên gọi “Du lịch cộng đồng” thƣờng đƣợc sử dụng
trong trƣờng hợp chủ thể tổ chức và đối tƣợng du lịch trung tâm (tài nguyên chính
tại điểm đến) là CĐ. [18,16]
1.1.2. Đặc điểm
- DLDVCĐ được tổ chức tại nơi cư trú hoặc gần nơi cư trú của CĐĐP, nơi
mà có TNDL. Những khu, điểm tổ chức DLDVCĐ phải có khả năng thu hút khách,
đủ các tiện nghi nhƣ cơ sở lƣu trú, ăn uống, các điểm vui chơi, giải trí, cơ sở hạ tầng
cơ bản và đặc biệt phải đảm bảo điều kiện về an toàn để thu hút khách đến thăm
quan CĐ và hỗ trợ các hoạt động phục vụ cho CĐ.
- Nguồn lực tham gia vào phát triển loại hình DLDVCĐ chủ yếu là người
dân ĐP, ngƣời sinh sống và làm ăn trong hoặc liền kề với các điểm tài nguyên đang
khai thác, phục vụ cho du lịch. Họ tham gia trên cơ sở tự nguyện, với tinh thần hợp
- Tôn trọng các giá trị văn hoá của CĐ: thực tế cho thấy chƣơng trình du
lịch nào cũng ảnh hƣởng ít nhiều đến CĐĐP. Điều quan trọng là các giá trị văn hoá
của CĐ phải đƣợc bảo vệ và giữ gìn với sự đóng góp tích cực của tất cả các thành
phần tham gia vào hoạt động du lịch, đặc biệt là cƣ dân ĐP bởi không đối tƣợng nào
có khả năng bảo vệ và duy trì các giá trị văn hoá tốt hơn chính họ. CĐĐP phải nhận
thức đƣợc vai trò và vị trí của mình cũng nhƣ những lợi, hại mà việc phát triển du
lịch mang đến.
- Chia sẻ lợi ích từ du lịch cho CĐ: Theo nguyên tắc này CĐ cùng đƣợc
hƣởng lợi nhƣ các thành phần khác tham gia vào các hoạt động kinh doanh cung
cấp các sản phẩm cho khách du lịch. Nguồn thu từ hoạt động du lịch đƣợc phân chia
16
công bằng cho mọi thành viên tham gia hoạt động, đồng thời lợi ích đó cũng đƣợc
trích một phần thông qua “Quỹ CĐ” để sử dụng cho lợi ích chung của CĐ: tái đầu
tƣ cho CĐ xây dựng đƣờng sá, cầu cống, điện và chăm sóc sức khoẻ giáo dục v.v
- Xác lập quyền sở hữu và tham gia của CĐ đối với việc bảo vệ tài nguyên
thiên nhiên và văn hoá hƣớng tới sự phát triển bền vững.[19,16]
1.1.4. Các hình thức du lịch dựa vào cộng đồng
Loại hình DLDVCĐ quan trọng nhất là sự tham gia của ngƣời dân ĐP vào
hoạt động du lịch. Có một số hình thức du lịch phù hợp loại hình DLDVCĐ nhƣ
hình thức du lịch gắn với nông nghiệp hay các hình thức của loại hình du lịch sinh
thái, du lịch văn hóa,…
Bảng các hình thức DLDVCĐ: xem phụ lục 05 trang 128
1.2. Mô hình du lịch dựa vào cộng đồng
1.2.1. Các thành phần tham gia vào mô hình
Du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp, có tính liên ngành, liên vùng và xã
hội hoá cao, vì vậy các thành phần tham gia hoạt động phát triển du lịch, trong đó
Các thành phần tham gia hoạt động du lịch từ góc độ “cầu” du lịch
Khách du lịch là thành phần tham gia hoạt động du lịch với tƣ cách là những
ngƣời “tiêu thụ” sản phẩm du lịch tại những nơi những sản phẩm này đƣợc xây
dựng và “bán”. Đây là thành phần tham gia có vai trò rất quan trọng đối với hoạt
động du lịch bởi nếu thiếu thành phần này, hoạt động du lịch sẽ không tồn tại.
Các thành phần có liên quan tham gia hoạt động du lịch
Ngoài những đối tác thuộc 2 nhóm đối tác chính tham gia hoạt động du lịch,
một số đối tác có liên quan:
Các cơ quan quản lý nhà nƣớc ở các lĩnh vực có liên quan đến phát triển du
lịch nhƣ giao thông vận tải, nông nghiệp và phát triển nông thôn, tài nguyên
và môi trƣờng, văn hóa, v.v.
Các tổ chức quốc tế nhƣ Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO), Chƣơng trình
Phát triển của Liên Hợp quốc (UNDP), v.v.
Các tổ chức phi chính phủ (NGO) : thƣờng là các tổ chức hỗ trợ cho các
nƣớc đang phát triển các dịch vụ tƣ vấn về kinh nghiêm, phát triển các MH
về phát triển du lịch bền vững. Những tổ chức hiện đang có những đóng góp
tích cực cho phát triển du lịch ở Việt Nam bao gồm : Tổ chức Phát triển Hà
18
Lan (SNV), Tổ chức bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN), Tổ chức Hợp tác
Quốc tế Nhật Bản (JICA), Quỹ Bảo tồn Động vật Hoang dã (WWF), v.v.
1.2.2. Vai trò của các thành phần tham gia vào mô hình DLDVCĐ
Tùy thuộc vào vị trí của mình trong hoạt động phát triển du lịch, mỗi đối tác
tham gia hoạt động phát triển DLDVCĐ đều có vai trò nhất định. Vai trò này cũng
có thể sẽ có những thay đổi phụ thuộc vào hoàn cảnh phát triển chung của du lịch
Việt Nam cũng nhƣ hoàn cảnh cụ thể của từng ĐP.
Vai trò cụ thể của từng thành phần bao gồm :
tài nguyên, thực trạng môi trƣờng và tác động môi trƣờng cho từng phƣơng án phát
triển DLDVCĐ trên những địa bàn cụ thể, góp phần đảm bảo phát triển DLDVCĐ
bền vững. Đây là những vấn đề mà các đối tác tham gia khác ít có năng lực để thực
hiện.
- Các DN du lịch: là thành phần quan trọng trong hoạt động đầu tƣ phát triển
các sản phẩm DLDVCĐ, cung cấp các dịch vụ DLDVCĐ có liên quan nhằm thỏa
mãn nhu cầu đa dạng của du khách.
Các DN lữ hành, ngoài chức năng cung cấp các dịch vụ lữ hành còn có chức
năng quan trọng là quảng bá các sản phẩm DLDVCĐ tới khách hàng (khách du
lịch) thông quan văn phòng đại diện, các đại lý lữ hành của mình. Đây là vai trò
quan trọng có tính “kết nối” giữa “cung” và “cầu” tạo ra một công đoạn liên tục
trong hoạt động phát triển du lịch CĐ.
- Các chủ sở hữu/chủ quản lý TNDL : về bản chất đây chính là CĐ nơi phát
triển loại hình DLDVCĐ. Đây thực sự là các “đối tác” của các DN du lịch bởi việc
xây dựng, phát triển các sản phẩm chỉ có thể thực hiện trên cơ sở khai thác các giá
trị TNDL.
Tính đa dạng của các các TNDL cũng cho thấy sự đa dạng của các đối tác
chủ sở hữu/chủ quản lý TNDL. Mặc dù vậy vai trò của các đối tác này cũng tƣơng
tự và quan trọng từ góc độ bảo tồn những giá trị tài nguyên này cho phát triển du
lịch nông thôn lâu dài và bền vững. Quan điểm và mức độ hợp tác của những đối
tác này với các DN du lịch sẽ ảnh hƣởng rất lớn đến quy mô và chất lƣợng các sản
phẩm du lịch nông thôn đƣợc tạo ra và nhƣ vậy sẽ ảnh hƣởng toàn cục đến hoạt
động phát triển DLDVCĐ.
20
- Khách du lịch: đƣợc xem là một trong hai “vế” của hoạt động phát triển
DLDVCĐ. Vai trò chính của khách du lịch là “tiêu thụ” các sản phẩm du lịch đƣợc
21
- Các tổ chức phi chính phủ: cũng có vai trò rất quan trọng đối với phát triển
du lịch Việt Nam. Khác với vai trò mang tính vĩ mô của các tổ chức quốc tế đã đề
cập, các tổ chức phi chính phủ thƣờng giúp du lịch Việt Nam trong phát triển các
MH cụ thể, thực hiện những vấn đề cụ thể mang tính vi mô. Đặc biệt, các tổ chức
này rất quan tâm hỗ trợ phát triển du lịch ở những vùng sâu, vùng xa, vùng còn
nhiều khó khăn với những dự án về đào tạo, nâng cao nhận thức kỹ năng của CĐ
trong phát triển du lịch sinh thái, DLDVCĐ, bảo vệ môi trƣờng du lịch, v.v.
1.2.3. Các điều kiện để phát triển mô hình
1.2.3.1. Tài nguyên du lịch
TNDL là cảnh quan thiên nhiên, các yếu tố tự nhiên, di tích lịch sử văn hóa,
công trình lao động sáng tạo của con ngƣời và các giá trị nhân văn khác có thể đƣợc
sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các khu du
lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch và đô thị du lịch.
DLDVCĐ đƣợc phát triển tại những nơi có TNDL, bao gồm TNDL tự nhiên
và nhân văn. Nhóm TNDL nhân văn thông thƣờng là các bản làng hoặc cụm dân cƣ
còn lƣu giữ những nét đặc trƣng về văn hóa truyền thống nhƣ kiến trúc nhà cửa,
phong tục tập quán, ẩm thực,… hoặc đời sống sản xuất, sinh hoạt của ngƣời
dân…Nhóm TNDL tự nhiên đƣợc khai thác phát triển DLDVCĐ thƣờng gắn với
các hệ sinh thái đặc sắc nhƣ các vƣờn quốc gia, các khu rừng nguyên sinh có hệ
động thực vật phong phú, độc đáo, có khí hậu dễ chịu,….
Nhƣ vậy, để phát triển MH DLDVCĐ cần phải có tài nguyên. Tuy nhiên có
tài nguyên vẫn chƣa đủ, địa điểm tổ chức DLDVCĐ phải là nơi tồn tại một CĐ có
tính gắn kết cao, có truyền thống, tập quán sinh hoạt, sản xuất độc đáo, hấp dẫn du
lịch, có lòng hiếu khách và mong muốn tham gia chuỗi cung cấp dịch vụ du lịch.
1.2.3.2. Khả năng tiếp cận
Khả năng tiếp cận là một trong những điều kiện quan trọng cần đƣợc xem xét
trƣớc tiên vì nếu điều kiện tiếp cận của ĐP quá khó khăn, tốn kém và tại đó không
có đủ điện, nƣớc, thông tin liên lạc,… thì khả năng thu hút khách hạn chế và ít nhà
đầu tƣ nào sẵn sàng bỏ vốn để phát triển du lịch tại ĐP này.
Năng lực của CĐĐP thể hiện ở:
- Về kiến thức: có hiểu biết về văn hóa bản địa nhất nên bảo tồn đƣợc văn hóa
dân tộc.
23
- Về tài nguyên: có các TNDL, CĐ là chủ thể bảo vệ môi trƣờng tài nguyên
thiên nhiên. CĐ đoàn kết trong việc bảo vệ tài nguyên.
- Về tổ chức: quản lý, vận hành các điểm DLDVCĐ trực triếp phân công lao
động trong CĐ theo khả năng của mỗi hộ dân. Có trách nhiệm của CĐ về
quản lý và bảo vệ khi họ tham gia đầu tƣ.
- Hiếu khách: sự nhiệt tình, niềm nở, thái độ phục vụ tốt.
- Các mặt khác: có tính dân tộc độc đáo, có mong muốn đảm bảo tính bền
vững cho thế hệ tƣơng lai.
Việc phát triển năng lực ĐP là một quá trình dài và chậm chạp, do đó, các tổ
chức phi chính phủ và chính quyền ĐP nên tổ chức các chƣơng trình đào tạo, hỗ trợ
tƣ vấn kinh doanh, hỗ trợ phát triển các kỹ năng, nghiệp vụ,… để giúp CĐ nâng cao
kiến thức và năng lực, nâng cao tính tự tin để sẵn sàng tham gia dự án, cải thiện
năng lực quản lý và điều hành,…
1.2.3.6. Nhu cầu đối với sản phẩm du lịch dựa vào cộng đồng
Phát triển du lịch nói chung và DLDVCĐ nói riêng phải phù hợp với quy
luật “ Cung – Cầu”. Thị trƣờng khách về DLDVCĐ cần đủ lớn về số lƣợng và đảm
bảo chất lƣợng (khả năng chi trả), ổn định cho vùng, từ đó đảm bảo khối lƣợng
công ăn việc làm, tạo thu nhập đều đặn cho CĐ.
1.2.4. Quy trình xây dựng mô hình du lịch dựa vào cộng đồng
1.2.4.1. Các bước xây dựng mô hình du lịch dựa vào cộng đồng
Du lịch vì lợi ích CĐ hay DLDVCĐ là loại hình du lịch do CĐ tổ chức, dựa
vào thiên nhiên và văn hóa ĐP với mục tiêu bảo vệ môi trường. Phát triển