i
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN
LỘC BÁ DUY
Tên đề tài:
“ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG NƯỚC SINH HOẠT TẠI
XÃ TRUNG HỘI, HUYỆN ĐỊNH HÓA, TỈNH THÁI NGUYÊN”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Hệ đào tạo : Chính quy
Lớp : K42 - KHMT
Khoa :Môi trường
Khóa học : 2010 - 2014
Giảng viên hướng dẫn: Th.S Nguyễn Thị Huệ
Thái Nguyên, năm 2014
ii
LỜI CẢM ƠN
Sau 4 năm học tập tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên và 5
LĐ : Lao động
NT : Nông thôn
TT : Thành thị
VL : Việc làm
ĐVT : Đơn vị tính
SX : Sản xuất
TH : Tiểu học
THCS : Trung học cơ sở
THPT : Trung học phổ thông
HV : Học vấn
iv
DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1: Các chỉ tiêu và phương pháp phân tích 25
Bảng 4.1. Bảng mô tả vị trí lấy mẫu nước sinh hoạt xã Trung Hội 36
Bảng 4.2. Kết quả phân tích nước sinh hoạt tại Xóm Đồng Mon 37
Bảng 4.3. Kết quả phân tích nước sinh hoạt tại Xóm Đồng Mon Xã Trung Hội 38
Bảng 4.4. Kết quả phân tích nước sinh hoạt tại xóm Đồng Mon, 40
Bảng 4.5. Số phiếu điều tra các thôn 41
Bảng 4.6. Bảng thể hiện tình hình sử dụng nguồn nước sinh hoạt của người
dân xã Trung Hội 41
Bảng 4.7. Bảng thể hiện chất lượng nước sinh hoạt xã Trung Hội 42
Bảng 4.8. Bảng thể hiện tỉ lệ các hộ gia đình sử dụng hệ thống lọc nước 43
Hình 4.2: Tỷ lệ các hộ gia đình sử dụng hệ thống lọc nước 44
Bảng 4.9. Khoảng cách khu chăn nuôi và khu vệ sinh tới nguồn nước sinh hoạt 44
Bảng 4.10. Thống kê ý kiến đánh giá của người dân xã Trung Hội về chất
lượng nước giếng 45
Bảng 4.11. Thống kê tình hình xử lý chất thải rắn sinh hoạt của các hộ gia
đình tại xã Trung Hội 47
PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
23
3.1. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 23
3.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu 23
3.3. Nội dung nghiên cứu 23
3.3.1. Điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội của xã Trung Hội huyện Định Hóa
tỉnh Thái Nguyên. 23
vii
3.3.2. Nguồn nước và tình hình sử dụng nước sinh hoạt tại xã Trung Hội
huyện Định Hóa tỉnh Thái Nguyên. 23
3.3.3. Nguyên nhân có thể gây ô nhiễm nguồn nước sinh hoạt tại xã Trung
Hội huyện Định Hóa tỉnh Thái Nguyên. 23
3.3.4. Đề xuất một số giải pháp cung cấp nước sinh hoạt tại xã Trung Hội
huyện Định Hóa tỉnh Thái Nguyên. 23
3.4. Phương pháp nghiên cứu 24
3.4.1. Phương pháp thu thập và kế thừa tài liệu thứ cấp 24
3.4.2. Phương pháp phỏng vấn 24
3.4.3. Phương pháp khảo sát thực tế 24
3.4.4. Phương pháp lấy mẫu và phân tích trong phòng thí nghiệm 24
3.4.5. Phương pháp thống kê và xử lý số liệu 26
PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 27
4.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội xã Trung Hội Huyện Định Hóa Tỉnh
Thái Nguyên 27
4.1.1. Điều kiện tự nhiên 27
4.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội 29
4.1.3. Nhận xét chung về điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội - ảnh hưởng tới
công tác quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường của xã Trung Hội, Huyện
Định Hóa, Tỉnh Thái Nguyên 34
sinh vật. Không có nước cuộc sống trên trái đất không thể tồn tại được. Trung
bình mỗi người cần từ 3 - 10 lít nước để đáp ứng cho nhu cầu ăn uống và sinh
hoạt hàng ngày. Nước chiếm 99% trọng lượng sinh vật sống trong môi trường
nước và 70% trọng lượng cơ thể con người.
Tài nguyên nước bao gồm:
Nguồn nước mặt, nước mưa, nước dưới đất, nước biển. Trong đó, tài nguyên
nước mặt và nước ngầm là quan trọng nhất, có liên quan trực tiếp đến đời
sống sinh hoạt và sản xuất của con người. Nguồn nước mặt thường được gọi
là tài nguyên nước mặt, tồn tại thường xuyên hay không thường xuyên trong
các thủy vực ở trên mặt đất như sông ngòi, hồ tự nhiên, hồ chứa (nhân tạo),
đầm lầy, đồng ruộng và băng tuyết. Tài nguyên nước sông là thành phần chủ
yếu và quan trọng nhất, được sử dụng rộng rãi trong đời sống và sản xuất.
Nước ngầm là một loại nước dưới đất, được sử dụng chủ yếu cho sinh hoạt
ngoài ra còn sử dụng cho nông nghiệp, công nghiệp,… Do đó tài nguyên nước
nói chung là một trong những yếu tố quyết định sự phát triển kinh tế xã hội
của một vùng lãnh thổ hay một quốc gia.
Tuy nhiên hiện nay do sự gia tăng dân số và phát triển kinh tế nên nhu
cầu sử dụng nước tăng nhanh và đưa đến những tác động mạnh mẽ tới tài
nguyên nước. Những hoạt động tự phát không có quy hoạch của con người
như chặt phá rừng bừa bãi, canh tác nông, lâm nghiệp không hợp lý và thải
trực tiếp chất thải vào môi trường,… đã và đang làm cho nguồn nước bị ô
nhiễm, vấn đề khan hiếm nước sạch ngày càng trở nên nghiêm trọng hơn nhất
là ở các xã vùng núi.
iii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
LĐ : Lao động
4
PHẦN 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Cơ sở lý luận của đề tài
- Khái niệm môi trường:
Theo khoản 1 điều 3 luật bảo vệ môi trường Việt Nam năm 2005, môi
trường được định nghĩa như sau: “Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và
vật chất nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống sản xuất,
sự tồn tại, phát triển của con người và sinh vật”.
- Khái niệm ô nhiễm môi trường:
Theo khoản 6 điều 3 luật BVMT Việt Nam năm 2005 “Ô nhiễm môi
trường là sự biến đổi của thành phần môi trường không phù hợp với tiêu
chuẩn môi trường, gây ảnh hưởng xấu tới con người, sinh vật”.
- Nước và một số khái niệm liên quan:
Trong tự nhiên nước tồn tại ở cả 3 dạng: rắn, lỏng, khí, nước đóng băng
ở 0
0
C nước có khối lượng riêng lớn nhất.
Nước tham gia vào rất nhiều phản ứng hóa học, ở nhiệt độ bình thường
nước không màu, không mùi, không vị.
- Nguồn nước sinh hoạt: là nước dùng để ăn uống, vệ sinh của con người
thành các dịch tiêu hóa, giúp con người hấp thụ chất dinh dưỡng, cũng như
tạo thành các chất lỏng trong cơ thể, thúc đẩy quá trình trao đổi chất. Nước là
chất quan trọng để các phản ứng hóa học và sự trao đổi chất diễn ra không
ngừng trong cơ thể. Nước là một dung môi, nhờ đó tất cả các chất dinh dưỡng
được đưa vào cơ thể, sau đó chuyển vào máu dưới dạng dung dịch nước, nước
còn giúp cho các phế nang luôn ẩm ướt, có lợi cho việc hô hấp. Nước còn
được gọi là dầu bôi trơn của toàn bộ khớp xương trong cơ thể, là một chất
hoãn xung của hệ thần kinh. Vì vậy uống nước không chỉ đơn thuần là giải khát.
6
Hàng ngày nếu lượng nước nạp vào cơ thể không đủ hoặc bị mất nước do các
nguyên nhân như tiêu chảy, nôn mửa sẽ sinh ra mất nước. Thế nhưng không
phải ai cũng biết cách uống nước, có người uống nhiều nước (3 – 4 lít/ngày), có
người lại uống quá ít (0,5 lít/ngày). Người uống quá nhiều nước sẽ gây áp lực
cho thận, còn người uống quá ít nước da sẽ khô, tóc gãy, bị táo bón
Vai trò của nước đối với đời sống sản xuất
- Đối với đời sống sinh hoạt: nước sử dụng cho nhu cầu ăn uống, tắm
giặt, hoạt động vui chơi giải trí như bơi lội
- Đối với hoạt động nông nghiệp: như trồng lúa, hoa màu nước là yếu
tố không thể thiếu.
- Đối với công nghiệp: nước được sử dụng trong quá trình sản xuất
giấy, công nghiệp hóa chất và kim loại, xử lý rác thải
- Nước có vai trò với các hoạt động nuôi trồng thủy sản, chăn nuôi, thủy điện.
Tóm lại: Đối với con người nước và nước sạch sinh hoạt là nguồn thực
phẩm chính. Qua đây chúng ta thấy được vai trò và tầm quan trọng của nước
đặc biệt là nước sạch sinh hoạt. Muốn sử dụng tốt tài nguyên nước đòi hỏi
mỗi cá nhân, tổ chức, địa phương, mỗi quốc gia phải sử dụng đầy đủ và hợp
lý nguồn tài nguyên vô giá này với công tác quản lý chặt chẽ và đúng đắn.
2.3. Cơ sở pháp lý
Trong những năm qua, hệ thống pháp luật về bảo vệ tài nguyên nước
-TCVN 6187-1-1996 (ISO 9308-1-1990) - Chất lượng nước - Phát hiện
và đếm vi khuẩn coliform, vi khuẩn coliform chịu nhiệt và Escherichia coli
giả định - Phần 1: Phương pháp màng lọc.
- TCVN 6663-3:2008 - Chất lượng nước. Lấy mẫu. Phần 3: Hướng dẫn
bảo quản và xử lý mẫu.
- TCVN 6663-1:2011 - Chất lượng nước - Lấy mẫu. Phần 1: Hướng
dẫn lập chương trình lấy mẫu và Kỹ thuật lấy mẫu.
- TCVN 6663-11:2011 - Chất lượng nước - Lấy mẫu. Phần 11: Hướng
dẫn lấy mẫu nước ngầm.
- QCVN 08:2008/BTNMT - Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất
lượng nước mặt.
- QCVN 02:2009/BYT - Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về chất lượng
nước sinh hoạt.
Để xử phạt các hoạt động gây ô nhiễm môi trường, Chính phủ đã ban
hành Nghị định số 117/2009/NĐ-CP. Nghị định này quy định về các hành vi
phạm trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, hình thức xử phạt, mức phạt, thủ tục
xử phạt và các biện pháp khắc phục hậu quả.
2.4. Các loại ô nhiễm nước
Có nhiều cách phân loại ô nhiễm nước: Dựa vào nguồn gốc ô nhiễm có
ô nhiễm do nông nghiệp, công nghiệp hoặc sinh hoạt. Dựa vào môi trường
nước có ô nhiễm nước ngọt, ô nhiễm biển và đại dương. Dựa vào tính chất ô
nhiễm như ô nhiễm sinh học, hóa học hay vật lý.
- Ô nhiễm sinh học của nước: Ô nhiễm nước về mặt sinh học chủ yếu là do
sự thải các chất hữu cơ có thể lên men được, các nguồn thải đô thị hay công
nghiệp bao gồm các chất thải sinh hoạt, phân, nước rửa của các nhà máy đường,
giấy sự ô nhiễm sinh học thể hiện bằng sự nhiễm bẩn do vi khuẩn rất nặng.
9
- Ô nhiễm hóa học do chất vô cơ: Do thải vào nước các chất nitrat,
photphat dùng trong nông nghiệp và các chất thải do luyện kim và các
Các đô thị là nguồn phát sinh chính của chất thải sinh hoạt. Các khu đô
thị tuy dân số chỉ chiếm 24% dân số của cả nước nhưng lại phát sinh đến 6
triệu tấn chất thải mỗi năm (tương ứng 50% tổng lượng chất thải rắn sinh hoạt
của cả nước). Ước tính mỗi người dân đô thị ở Việt Nam trung bình phát thải
khoảng 2 – 3 kg chất thải mỗi ngày, gấp đôi lượng thải bình quân đầu người
vùng nông thôn. Chất thải phát sinh từ các hộ gia đình, các khu kinh doanh ở
nông thôn và đô thị có sự khác nhau, chất thải sinh hoạt từ các hộ gia đình,
khu chợ và các khu kinh doanh ở nông thôn chứa một tỷ lệ lớn các chất hữu
cơ dễ phân hủy (chiếm 60 - 70%), ở các vùng đô thị chất thải có thành phần
chất hữu cơ dễ phân hủy thấp hơn (chiếm khoảng 50% tổng lượng chất thải
sinh hoạt). [14].
2.5.2. Ô nhiễm do hoạt động nông nghiệp
Để nâng cao năng suất cây trồng, trong quá trình sản xuất nhân dân đã
sử dụng nhiều loại phân bón, thuốc trừ sâu, chất kích thích sinh trưởng, dẫn
đến tình trạng ô nhiễm môi trường hiện nay là do việc lạm dụng và sử dụng
không hợp lý các loại hóa chất trong sản xuất nông nghiệp.
Các hóa chất sử dụng trong nông nghiệp như: phân bón hóa học, thuốc
bảo vệ thực vật, thuốc trừ sâu là hiện tượng phổ biến trong các vùng nông
nghiệp thâm canh gây ô nhiễm nguồn nước.
Trong quá trình sử dụng thuốc bảo vệ thực vật và phân bón hóa học
một lượng đáng kể thuốc và phân bón không được cây trồng tiếp nhận chúng
sẽ lan truyền và tích lũy trong đất, nước và các sản phẩm nông nghiệp dưới
dạng dư lượng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật.
Tác động tiêu cực khác của sự ô nhiễm thuốc bảo vệ thực vật và phân
bón làm suy thoái chất lượng môi trường khu vực canh tác nông nghiệp như:
11
phú dưỡng đất, nước, ô nhiễm đất, nước làm giảm tính đa dạng sinh học của
khu vực nông thôn, suy giảm các loài thiên địch, tăng khả năng chống chịu
của sâu bệnh đối với thuốc bảo vệ thực vật.
Việt Trì thải ra lượng rác thải lớn gây ô nhiễm nguồn nước nặng nề. [3].
v
DANH MỤC HÌNH
Hình 4.1: Tình hình sử dụng nguồn nước sinh hoạt của người dân xã Trung
Hội 42
13
Một báo cáo mới đây của Ngân hàng Thế giới (WB) nói rằng, đến năm
2030, nhu cầu toàn cầu đối với nước sẽ vượt quá mức cung cấp đến 40%.
Hiện 2 tỷ người sống ở các nước đang căng thẳng về nước và đến năm 2025,
2/3 dân số thế giới sẽ phải sống trong những nước hoặc khu vực chịu căng
thẳng về nước, trừ khi xu hướng hiện tại thay đổi. Hơn nữa, sẽ có thêm các
cuộc xung đột về nước vì nguồn tài nguyên này càng ngày càng khan
hiếm. Biến đổi khí hậu gây hạn hán ở nhiều nơi.
Hiện nay 17% dân số thế giới đang thiếu nước sạch. Trong bản báo cáo
ra ngày 9/11/2007, chương trình phát triển của Liên Hợp Quốc (UNDP) đã
đưa ra những con số đáng lo ngại: 1,1 tỷ người chưa được sử dụng nước sạch,
2,6 tỷ người vẫn chưa tiếp cận được các điều kiện vệ sinh. [7].
Theo các nhà quan sát 90% dân số sống trên 145 quốc gia chia sẻ nhau
trong việc dùng các nguồn nước thì một cuộc chiến tranh về nước sẽ không
tránh khỏi. Tuy vây, UNDP tin rằng trong tương lai sẽ không có nguy cơ
chiến tranh về nước. Trong vòng 50 năm qua, theo thống kê có 37 cuộc xung
đột giữa các quốc gia liên quan đến vấn đề nguồn nước, 30 trong số đó xảy ra
ở vùng Trung Đông. Do đó 200 bản hiệp ước về việc kiểm soát nguồn nước
chung đã kí kết. Theo bảng báo cáo của UNDP mặc dù số người cần nguồn
nước sạch ngày càng cao nhưng mâu thuẫn về quyền lợi liên quan đến nước
sạch đã được giải quyết qua hợp tác và đối thoại. [7].
* Hậu quả của việc khan hiếm và ô nhiễm nguồn nước
Cùng với sự phát triển kinh tế xã hội và gia tăng dân số, nhu cầu dùng
Nước là một nhu cầu không thể thiếu trong đời sống hàng ngày của con
người cũng như các loài sinh vật, vì nước là điều kiện xác định sự tồn tại của
sự sống. Nguồn nước của Việt Nam còn khá dồi dào, lượng nước mưa khá
cao, hệ thống sông ngòi, kênh mương dày đặc, nước ngầm phong phú tại các
vùng đất thấp. Nhưng xét về mức độ ô nhiễm như hiện nay thì con người cần
có sự thay đổi về sử dụng tài nguyên nước. Theo ý kiến của nhiều người thì
15
nước không phải là nguồn tài nguyên vô tận, nhất là nước ngọt. Nó chỉ thực
sự là nguồn tài nguyên vô tận khi con người biết trân trọng những giọt nước
quý giá mà thiên nhiên ban tặng. Việc sử dụng không hợp lý nguồn tài
nguyên nước hiện nay của con người đã làm thay đổi sự phân bố nước giữa
các khu vực trên hành tinh có sự thay đổi lớn theo chiều hướng xấu đi. Không
những các vùng sa mạc, cao nguyên khô cằn bị thiếu nước mà ngay cả các
thành phố các khu công nghiệp cũng sẽ bị thiếu nước nghiêm trọng nếu như
con người vẫn giữ thói quen phung phí nước như hiện nay.
Phần lớn các hộ nông thôn Việt Nam sử dụng 2 nguồn nước sinh
hoạt chính: Nguồn nước mưa và nước giếng, các hộ thường có công trình
cấp nước riêng như giếng đào hay bể chứa nước mưa. Hơn 50% số hộ
nông thôn dùng nước giếng đào, 25% dùng nước sông suối, ao hồ và 10%
dùng nước mưa. Bộ phận còn lại dùng nước giếng khoan và số ít hộ được
cấp nước bằng ống dẫn nước.
Tình trạng thiếu nước đang diễn ra do việc khai thác bừa bãi và sử dụng
lãng phí đó là nguyên nhân làm biến đổi chất lượng, số lượng tài nguyên nước
trên thế giới và vùng lãnh thổ. Tình trạng ô nhiễm nước mặt đang có xu
hướng gia tăng do nước thải và nước mưa không được xử lý. 60% công trình
xử lý nước thải vận hành chưa đạt yêu cầu. Nước thải sinh hoạt ở thành phố,
đô thị cũng được xả thải trực tiếp vào hệ thống sông suối dẫn đến tình trạng ô
nhiễm cục bộ. Nguồn nước sạch Việt Nam bị hao hụt do một nguyên nhân
khác là do lũ lụt, hạn hán. Thiếu nước sạch chính là nguyên nhân chủ yếu gây
lần, thậm chí 20 lần TCCP.
Tình trạng ô nhiễm nước ở nông thôn: Hiện nay Việt Nam có gần 76%
dân số đang sống ở nông thôn, là nơi cơ sở hạ tầng còn lạc hậu, phần lớn các
chất thải của con người và gia súc không được xử lý nên thấm xuống đất hoặc
bị rửa trôi, làm cho tình trạng ô nhiễm nước về mặt hữu cơ và vi sinh vật ngày
vi
MỤC LỤC
PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1
1.1. Đặt vấn đề 1
1.2. Mục đích, yêu cầu và ý nghĩa của đề tài 2
1.2.1. Mục đích của đề tài 2
1.2.2. Yêu cầu của đề tài 3
1.2.3. Ý nghĩa của đề tài 3
PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
2.1. Cơ sở lý luận của đề tài 4
2.2. Cơ sở thực tiễn 5
2.3. Cơ sở pháp lý 6
2.4. Các loại ô nhiễm nước 8
2.5. Nguyên nhân gây ô nhiễm nguồn nước 9
2.5.1. Ô nhiễm do rác thải sinh hoạt của người dân 9
2.5.2. Ô nhiễm do hoạt động nông nghiệp 10
2.5.3. Ô nhiễm do hoạt động công nghiệp 11
2.6. Tình hình sử dụng nước trên thế giới và ở Việt Nam 12
2.6.1. Tình hình sử dụng nước trên thế giới 12
2.6.3 Ttình hình nước ở Thái Nguyên Error! Bookmark not defined.
PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
23
3.1. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 23
3.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu 23