ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯ
ỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
HOÀNG HẬU Tên đề tài:
NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN
CỦA MỘT SỐ TỔ HỢP NGÔ LAI VỤ XUÂN NĂM 2014
TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Khoa học cây trồng
Khoa : Nông Học
Khóa học : 2011 – 2015
Giảng viên hướng dẫn : TS. Dương Thị Nguyên
Trang
Bảng 2.1. Diện tích, năng suất, sản lượng ngô, lúa mỳ và lúa nước 11
Bảng 2.2. Tình hình sản xuất ngô của thế giới trong giai đoạn 2008 - 2013 11
Bảng 2.3. Sản xuất ngô ở một số nước trên thế giới năm 2013 12
Bảng 2.4. Tình hình sản xuất ngô ở Việt Nam trong giai đoạn 2008 - 2013 18
Bảng 2.5. Diện tích, năng suất, sản lượng ngô ở các vùng ngô chính của
Việt Nam năm 2013 19
Bảng 2.6. Tình hình sản xuất ngô ở Thái Nguyên giai đoạn 2008 - 2013 23
Bảng 4.1. Diễn biến thời tiết khí hậu vụ Xuân 2014 tại Thái Nguyên 33
Bảng 4.2. Thời gian sinh trưởng và các thời kỳ phát dục của các tổ hợp
ngô lai trong thí nghiệm 36
Bảng 4.3. Một số đặc điểm hình thái và sinh lý của các tổ hợp ngô lai
trong thí nghiệm vụ Xuân 2014 40
Bảng 4.4. Tốc độ tăng trưởng chiều cao cây của các tổ hợp ngô lai 44
Bảng 4.5: Tình hình nhiễm sâu bệnh và khả năng chống đổ của các tổ
hợp lai trong thí nghiệm 46
Bảng 4.6. Trạng thái cây, trạng thái bắp và độ bao bắp của các tổ hợp
ngô lai trong thí nghiệm vụ Xuân năm 2014 51
2.2. Nguồn gốc, phân loại thực vật của cây ngô 6
2.2.1. Nguồn gốc 6
2.2.2. Phân loại thực vật của cây ngô 7
2.3. Các phương pháp xác định khả năng kết hợp 8
2.3.1. Khái niệm về khả năng kết hợp 8
2.3.2. Các phương pháp đánh giá khả năng kết hợp 9
2.4. Tình hình nghiên cứu và sản xuất ngô trên thế giới 10
2.4.1. Tình hình sản xuất và tiêu thụ ngô trên thế giới 10
2.4.2. Tình hình nghiên cứu ngô lai trên thế giới 14
2.5. Tình hình sản xuất và nghiên cứu ngô ở Việt Nam 17
2.5.1. Tình hình sản xuất ngô ở Việt Nam 17
2.5.2. Tình hình nghiên cứu và chọn tạo giống ngô lai ở Việt Nam 20
2.5.3. Tình hình sản xuất ngô ở Thái Nguyên 22
2.5.4. Định hướng nghiên cứu phát triển ngô lai trong thời gian tới 23
Phần 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26
4.1. Diễn biến thời tiết khí hậu vụ Xuân năm 2013 33
4.1.1. Nhiệt độ 33
4.1.2. Ẩm độ 34
4.1.3. Lượng mưa 35
4.2. Các giai đoạn sinh trưởng, phát dục chính của một số tổ hợp ngô lai
trong thí nghiệm vụ Xuân năm 2013 35
4.2.1. Gai đoạn trỗ cờ 37
4.2.2. Giai đoạn tung phấn, phun râu 37
4.2.3. Giai đoạn chín sinh lý (thụ tinh đến chín)…………… …………………39
4.3. Một số đặc điểm hình thái và sinh lý của các tổ hợp lai trong thí nghiệm 40
4.3.1. Chiều cao cây 40
4.3.2. Chiều cao đóng bắp 41
4.3.3. Số lá trên cây 41
4.3.4. Chỉ số diện tích lá 42
4.4. Tốc độ tăng trưởng chiều cao cây 43
4.5. Khả năng chống chịu của các tổ hợp ngô lai trong thí nghiệm vụ Xuân 2013 45
Phần 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 59
5.1. Kết luận 59
5.1.1. Thời gian sinh trưởng 59
5.1.2. Tình hình sâu bệnh hại và khả năng chống đổ 59
5.1.3. Năng suất 59
5.2. Đề nghị 60
TÀI LIỆU THAM KHẢO 61
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
dân số thế giới. Trên phạm vi thế giới 21 % sản lượng ngô được sử dụng làm
lương thực cho người như các nước Đông Nam Phi sử dụng 85 % sản lượng
ngô làm lương thực cho người, các nước Tây Trung Phi sử dụng 80 %, các
nước Trung Mỹ và Caribê dùng 61 %, trong đó các nước Trung Mỹ, Nam Á
và châu Phi coi ngô là thức ăn chính. Ngô còn là thành phần quan trọng trong
thức ăn chăn nuôi. Hầu như 70 % chất tinh trong chăn nuôi là tổng hợp từ
ngô, 71 % sản lượng ngô trên thế giới được dùng trong chăn nuôi. Ở các nước
phát triển phần lớn sản lượng ngô được sử dụng trong chăn nuôi: Như Mỹ 76
%, Bồ Đào Nha 91 %, Italia 9 %, Croatia 95 %, Trung Quốc 76 %, Thái Lan
96 %, (Ngô Hữu Tình, 2008) [13]. Ngô được sử dụng làm nguyên liệu cho
ngành công nghiệp chế biến thực phẩm, tạo ra cồn rượu, bia, tinh bột, bánh
kẹo. Người ta đã sản suất ra khoảng trên 670 loại sản phẩm từ ngô bằng công
nghiệp lương thực, thực phẩm, công nghiệp nhẹ và dược phẩm (Ngô Hữu
Tình, 1997) [13]. Hiện nay hoạt động sản xuất ethanol từ nguyên liệu ngô
đang phát triển mạnh và Mỹ là nước đứng đầu trong ngành này nó góp phần
làm giảm ô nhiễm môi trường.
Trong những năm gần đây, khi mà đời sống con người ngày một nâng cao
thì nhu cầu sử dụng ngô làm thực phẩm ngày càng lớn. Người ta sử dụng bắp
ngô bao tử làm rau cao cấp, ngô rau (ngô bao tử - baby corn) có giá trị kinh tế
hàng hóa và giá trị dinh dưỡng rất cao so với các loại rau cao cấp khác.
Ngô được đưa vào việt Nam từ cuối thế kỷ 17 (Ngô Hữu Tình, 1997)
[12], chỉ qua hơn ba thế kỷ cây ngô dã chứng tỏ được ưu thế của mình và trở
thành cây lương thực quan trọng thứ hai sau cây lúa. Sản xuất ngô nước ta
mặc dù đã có được một số thành tựu nhất định nhưng vẫn còn một số vấn đề
2
đặt ra như năng suất ngô nước ta còn thấp so với trung bình thế giới (khoảng
82 %) và cũng thấp so với năng suất thí nghiệm. Sản lượng ngô cả nước mới
chỉ đáp ứng được 40 - 50 % nhu cầu dùng làm lương thực cho đồng bào miền
núi và làm nguyên liệu chế biến thức ăn chăn nuôi. Những năm gần đây
canh tác phù hợp, phát huy tối đa tiềm năng của từng giống, tại mỗi vùng sinh
thái.
Ở vùng Trung du và miền núi phía Bắc, ngô là cây lương thực chính
chỉ đứng sau cây lúa. Theo thống kê năm 2013, diện tích lúa là 688,8 nghìn
ha, diện tích ngô là 505,8 nghìn ha. Năng suất ngô của vùng Trung du và
miền núi phía Bắc chỉ đạt 37,6 tạ/ha (bằng 68,1% so với trung bình cả nước)
(Tổng cục thống kê, 2014)[14]. Việc mở rộng diện tích được tưới chủ động
cho cây trồng ở vùng núi cao là vấn đề khó khăn vì địa hình canh tác trên nền
đất dốc, nương rẫy và sườn núi, nguồn nước tưới ở xa; nông dân nghèo thiếu
vốn đầu tư; chi phí xây dựng công trình tưới nước lớn hơn nhiều so với vùng
đồng bằng. Như vậy, chủ yếu diện tích ngô trong vùng được trồng ở vùng cao
nhờ nước trời, chỉ có một phần nhỏ diện tích ở vùng thấp là có tưới. Vì vậy,
giải pháp tối ưu cho việc nâng cao năng suất và sản lượng ngô ở vùng này là
sử dụng các giống ngô lai chịu hạn và áp dụng các biện pháp kỹ thuật mới.
Chính vì những lợi ích và nhu cầu thực tế hiện nay, chúng tôi đã tiến
hành nghiên cứu đề tài : “Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển của
một số tổ hợp ngô lai vụ Xuân năm 2014 tại trường Đại học Nông Lâm
Thái Nguyên”.
1.2. Mục đích
Xác định một số tổ hợp lai có thời gian sinh trưởng ngắn, năng suất cao,
có khả năng chống chịu tốt phù hợp với điều kiện sinh thái Thái Nguyên từ đó
làm cơ sở cho việc chọn tạo giống ở các tỉnh trung du và miền núi phía Bắc.
1.3. Yêu cầu
- Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển của một số tổ hợp lai
trong điều kiện vụ Xuân năm 2014 tại trường Đại học Nông Lâm Thái
Nguyên.
- Nghiên cứu tình hình sâu bệnh hại và chống đổ của các tổ hợp lai.
- Đánh giá năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất của các tổ hợp
lai trong thí nghiệm.
- So sánh và sơ bộ chọn lọc một số tổ hợp lai có triển vọng để tiếp tục
Bảng 4.6. Trạng thái cây, trạng thái bắp và độ bao bắp của các tổ hợp
ngô lai trong thí nghiệm vụ Xuân năm 2014 51
Bảng 4.7. Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất của các tổ hợp
ngô lai trong thí nghiệm vụ Xuân năm 2014 54
5
Phần 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Cơ sở khoa học của đề tài
Ngày nay, khi sản xuất phát triển, khả năng đầu tư cao thì giống là yếu
tố quyết định đến năng suất cây trồng. Nhưng mỗi giống khác nhau thì khả
năng phản ứng với điều kiện sinh thái ở mỗi vùng khác nhau. Do vậy để phát
huy được hiệu quả của giống cần phải sử dụng chúng hợp lý, sao cho phù hợp
với điều kiện sinh thái khí hậu, đất đai kinh tế, xã hội của từng vùng.
Chọn giống là một quá trình lâu dài và phức tạp. Một giống cây trồng
mới được đưa vào sản xuất là kết quả của sự lao động miệt mài bền bỉ cùng
kinh nghiệm và kiến thức vững vàng của các nhà chuyên muôn. Trong sản
xuất nông nghiệp nói chung và sản xuất ngô nói riêng, quá trình chọn tạo
giống cây trồng bao gồm rất nhiều giai đoạn khác nhau như: Tạo dòng tự
phối, đánh giá khả năng kết hợp của các dòng tự phối, lai tạo, chọn lọc, Một
trong những khâu quan trọng trong chọn tạo giống ngô là đánh giá sinh
trưởng và phát triển của các tổ hợp ngô lai, làm cơ sở cho quá trình chọn tạo
giống mới thông qua các đặc tính sinh học.
Ngô là cây trồng quang hợp theo chu trình C
4
có tiềm năng cho năng
2.2.1. Nguồn gốc
Cây ngô là cây trồng lâu đời và gắn liền với lịch sử phát triển của loài
người. Nguồn gốc của cây ngô là chủ đề được được nhiều các nhà khoa học
nghiên cứu. Các nghiên cứu về nguồn gốc cây trồng của Vavilov (1926) đã
cho rằng Mexico và Peru là trung tâm phát sinh và đa dạng của cây ngô (trong
đó Mexico là trung tâm thứ nhất còn Peru là trung tâm thứ hai). Nhận định
này của Vavilov được nhiều nhà khoa học (Ganinat 1917, Wilkes 1988, Kato
1984, 1988). Đặc biệt là Harsh Berger năm 1893 đã kết luận: Ngô là một loại
cây bắt nguồn từ cây hoang dại ở miền trung Mexico trên độ cao 1500 m của
vùng bán khô hạn có lượng mưa mùa hè khoảng 350 mm. Sau đó ngô được
lan truyền sang các nước khác. Những kết luận này rất nổi tiếng vì đã mô tả
chính xác vùng này của Mexico nơi mà ông chưa bao giờ đặt chân đến, nơi có
các họ hàng hoang dại của cây ngô và nơi cây ngô đang được trồng trọt.
Thực tế cây ngô là cây trồng lâu đời và gắn bó với cuộc sống Trung
Mỹ. Ngô được sang tên như một bậc thần thánh được cúng tế lúc gieo trồng,
7
thậm chí nó được coi như đã sinh ra con người (theo ghi chép của Ngô Hữu
Tình,1995) [14].
2.2.2. Phân loại thực vật của cây ngô
Cây ngô có tên khoa học là Zeo mays - L do nhà thực vật người Thụy
Điển là Linmaeus đặt theo hệ thống tên kép Hy Lạp - La tinh: Zea - từ Hy Lạp
để chỉ cây ngũ cốc, Mays - từ Mahiz là tên gọi cây ngô người bản địa hoặc
cũng có thể Mays là từ Maya đặt tên một bộ lạc da đỏ của vùng Trung Mỹ
xuất xứ của cây ngô Zea thuộc chi May deae, họ hòa thảo (Gramineae).
Hiện nay thế giới đang tồn tại hệ thống phân loại đối với cây ngô.
Theo Wilkes (1967) thì ngô thuộc nhóm Zeo nên có tên khoa học là
Zea mays Liene còn theo Iltisvaf Doebly (1984) nhóm Zea có nhiều loài phụ
nên tên khoa học của cây ngô phải là Zea mays Sub SP Mays. Từ loài phụ Zea
mays dựa vào cấu trúc nội nhũ hạt, ngô được phân thành các loài phụ sau:
0
C, và thời gian sinh trưởng 120 - 180 ngày ở các tỉnh phía Bắc và
dưới 100 - 120 ngày ở các tỉnh phía Nam.
Như vậy cùng một giống ngô nhưng các vùng sinh khí hậu khác nhau
có thể có thời gian sinh trưởng khác nhau.
2.3. Các phương pháp xác định khả năng kết hợp
2.3.1. Khái niệm về khả năng kết hợp
- Khả năng kết hợp: Là khả năng của một dòng hay giống khi lai với
một dòng hay giống khác cho cây lai có ưu thế lai cao hay thấp.
Khả năng kết hợp được biểu hiện bằng giá trị trung bình của ưu thế lai
quan sát ở tất cả các cặp lai và độ chênh lệch so với giá trị trung bình của mỗi
cặp lai cụ thể nào đó.
Vì vậy khả năng kết hợp của bất kỳ một dạng bố mẹ nào đó được xác
định qua hai dạng khả năng kết hợp là: Khả năng kết hợp chung và khả năng
kết hợp riêng.
- Khả năng kết hợp chung (General combining ability - GCA): Thể hiện
khả năng của dòng hoặc giống truyền các đặc tính tốt cho phần lớn các tổ hợp
lai, có dòng hoặc giống đó tham gia. Khả năng kết hợp chung của dòng hoặc
giống được đánh giá của dòng, giống đó với nhiều dòng hoặc giống khác.
Dựa vào khả năng kết hợp chung để đánh giá mức ưu thế lai trung bình
của các giống lai có dòng đó tham gia. Khả năng kết hợp chung là đặc tính có
khả năng di truyền. Một dòng hoặc một giống có khả năng kết hợp chung cao
thì có thể truyền đặc tính này cho thế hệ sau của nó. Đây là cơ sở tiến hành
sớm việc đánh giá khả năng kết hợp chung ngay từ thế hệ đầu trong quá trình
tạo các dòng tự phối ngô.
Khả năng kết hợp riêng (Spcific combining ability - SCA): Của một
dòng hoặc giống thể hiện trong tổ hợp lai của dòng hoặc giống đó, với một
dòng hoặc giống khác cho ưu thế lai cao hay thấp. Nó được đánh giá thông
9
các loại cây tự thụ. VD: n = 10 ta có số tổ hợp lai là 100.
Sơ đồ 2: Số tổ hợp lai N = n(n+1)/2 các dòng định thử được lai với
nhau ở mọi tổ hợp theo chiều thuận và tự phối. Trong các dòng đem thử có
10
dòng tiêu chuẩn được sử dụng làm đối chứng để sản xuất giống sau này. VD:
n = 10 ta có số tổ hợp lai là 55.
Sơ đồ 3: Số tổ hợp lai N = n(n - 1) các dòng đem thử được lai với nhau
ở các tổ hợp lai theo chiều thuận và nghịch. Trường hợp này áp dụng khi số
dòng tương đối ít, cho phép đánh giá chính xác hơn các dòng bố mẹ tham gia
trong các cặp lai.VD: n = 6 ta có số tổ hợp lai là 30.
Sơ đồ 4: Số tổ hợp lai N = n(n - 1)/2 các dòng định thử lai với nhau
theo chiều thuận và không tự phối. VD: n = 10 ta có số tổ hợp lai là 45.
Trong nghiên cứu căn cứ vào mục đích và điều kiện cụ thể để chọn sơ
đồ lai cho phù hợp nhằm đạt hiệu quả cao. Với mục đích xác định khả năng
kết hợp của các dòng, người ta thường chọn sơ đồ 4 vì khối lượng công việc ít
nhất. Để nghiên cứu ảnh hưởng các dòng mẹ đối với tổ hợp lai thì sử dụng sơ
đồ 3. Muốn so sánh tổ hợp lai với bố mẹ thì dùng sơ đồ 2. Để nghiên cứu toàn
diện thì dùng sơ đồ 1.
Kết quả đánh giá khả năng kết hợp bằng phương pháp lai luân giao sẽ
giúp các nhà nghiên cứu có được những số liệu của các dòng nghiên cứu.
Phân nhóm ưu thế lai và sử dụng chúng trong chọn tạo giống, chọn ra những
tổ hợp lai tốt phục vụ cho sản xuất, làm cơ sở để chuẩn đoán một số tính trạng
lai đơn, lai kép ở các bước tiếp theo.
2.4. Tình hình nghiên cứu và sản xuất ngô trên thế giới
2.4.1. Tình hình sản xuất và tiêu thụ ngô trên thế giới
Ngô là cây lương thực quan trọng trong nền kinh tế toàn cầu. Trên thế
giới ngô đứng thứ hai về diện tích, dẫn đầu về sản lượng, năng suất. Năng
suất kỳ lục trên thế giới đã đạt 22 tấn hạt/ha. Nhờ ứng dụng rộng rãi thuyết ưu
thế lai trong chọn tạo giống, đồng thời không ngừng cải thiện các biện pháp
các nước trên thế giới:
Bảng 2.3. Sản xuất ngô ở một số nước trên thế giới năm 2013
Nước
Diện tích
(triệu ha)
Năng suất
(tạ/ha)
Sản lượng
(triệu tấn)
Mỹ 70,7 73,9 522,6
Trung Quốc 35,3 61,7 217,8
Mêxicô
7,1
3
1
,9
2
2,7
Brazil 15,3 52,6 80,5
Ấn Độ 9,5 24,5 23,3
(Nguồn: FAOSTAT, 2013)
Qua bảng 2.3 chúng ta thấy sự phát triển cây ngô ở các nước trên thế
giới có sự khác biệt giữa các nước về diện tích, năng suất và sản lượng. Mỹ có
diện tích lớn nhất 70,7 triệu ha chiếm 38,4 % của toàn thế giới, Trung Quốc
đứng thứ hai về diện tích, nước có diện tích thấp nhất là Mêxico 7,1 triệu ha.
chiếm 66,48 % (Nguồn: sokhoahoccn.angiang.gov.vn) [16]. Sở dĩ nhu cầu
ngô tăng mạnh là do dân số thế giới tăng nên nhu cầu về thịt, cá, trứng, sữa
tăng mạnh dẫn đến đòi hỏi lượng ngô dùng trong chăn nuôi tăng. Hơn nữa
trong những năm gần đây khi nguồn dầu mỏ đang cạn kiệt thì ngô được coi là
nguồn nguyên liệu chính để chế biến ethanol, một loại nhiên liệu sạch dùng
để thay thế một phần nguyên liệu xăng dầu. Trong bối cảnh giá xăng dầu đang
14
liên tiếp lập những kỷ lục mới, nhiên liệu sinh học đang trở nên hấp dẫn hơn
bao giờ hết. Tại Mỹ, nước sản xuất ethanol lớn nhất thế giới, 1/4 sản lượng
ngô được dùng để sản xuất ethanol, như vậy chỉ riêng lượng ngô cho chương
trình ethanol của Mỹ đã tương đương hơn một nửa nhu cầu ngũ cốc của thế
giới.
Hiện nay thị trường ngô thế giới được đánh giá là thị trường tương đối khả
quan. Với tình hình sản xuất và tiêu thụ hiện nay thì cây ngô sẽ càng khẳng
định được vị trí quan trọng trong nền nông nghiệp thế giới.
2.4.2. Tình hình nghiên cứu ngô lai trên thế giới
Cây ngô đã được biết đến qua những nền văn minh của người da đỏ
trên thế giới, hầu hết những loài phụ ngô ngày nay được biết đến như: Ngô đá
rắn, ngô nổ cũng đã được người da đỏ biết đến từ thời cổ đại. Sau khi
Columbus mang ngô về châu Âu, người châu Âu đã nhanh chóng nhận ra giá
trị lương thực của cây ngô. Vào thế kỷ XVI và XVII, người châu Âu đã tiếp
thu cây ngô từ bộ tộc người da đỏ nhưng chưa có cơ sở đi xa hơn so với
những gì mà người da đỏ làm được. Đến thế kỷ thứ XVIII, những phát hiện
khoa học về cây ngô đã dần được hé mở. Vào năm 1716 Cotton Mather, là
người đầu tiên tiến hành thí nghiệm về giới tính ở cây ngô, đã quan sát thấy
được sự thụ phấn chéo ở cây ngô. Tám năm sau công bố của Mather, Paul
Dadly đã đưa ra nhận xét về giới tính của cây ngô và cho rằng gió đã mang
phấn ngô cho quá trình thụ tinh (Ngô Hữu Tình và cs, 1997) [12]. Năm 1760,
nhà bác học người Nga Koelreiter đã quan sát và mô tả hiện tượng ưu thế lai
lập năm 1966 tại Mêxicô nhằm phát triển và nâng cao chất lượng các giống
lúa mỳ và ngô. Từ khi thành lập đến nay, CIMMYT đã xây dựng, cải thiện và
phát triển khối lượng lớn nguồn nguyên liệu, vốn gen, các giống thí nghiệm,
cung cấp cho khoảng hơn 80 nước trên thế giới thông qua mạng lưới khảo
nghiệm giống Quốc tế. Các nguồn nguyên liệu mà chương trình ngô
CIMMYT cung cấp cho các nước là cơ sở cho chương trình tạo dòng và
giống lai. Trung tâm này đã nghiên cứu đưa ra giải pháp, tạo giống ngô thụ
phấn tự do (OPV) làm bước chuyển tiếp giữa giống địa phương và ngô lai.
Các giống ngô lai ngày càng được trồng rộng rãi và phổ biến, trong đó các
giống ngô lai đơn có ưu thế lai cao nhất nhưng do quá trình sản xuất hạt giống
cho năng suất thấp nên giá thành hạt giống lai đơn rất cao. Vì vậy, người ta
tiến hành tạo các giống ngô lai 3, lai kép cho năng suất hạt giống cao, giá
thành hạt giống rẻ, ưu thế lai cao (Nguyễn Thế Hùng và cs, 1997) ) [4]. Trong MỤC LỤC
Trang
Phần 1: MỞ ĐẦU 1
1.1. Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2. Mục đích 3
1.3. Yêu cầu 3
1.4. Ý nghĩa của đề tài 4
Phần 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 5
Phần 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26
3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 26
3.1.1. Đối tượng nghiên cứu 26
3.1.2. Phạm vi nghiên cứu 26
17
được đưa vào canh tác đại trà từ năm 1996, mang lại lợi ích ổn định, đã đóng
góp một sản lượng ngô đáng kể làm lương thực, nhiên liệu sinh học và thức
ăn gia súc ở Mỹ. Năm 2007, diện tích trồng ngô chuyển gen trên thế giới đã
đạt 35,2 triệu ha, riêng ở Mỹ đã lên đến 27,4 triệu ha (chiếm hơn 73 % trong
tổng số hơn 37,5 triệu ha ngô của nước này). Trong những năm gần đây, ngô
biến đổi gen có mức tăng đáng kể ở các thị trường truyền thống như: Mỹ,
Canada, Achentina, Nam Phi, Tây Ban Nha, Philippin và Honduras. Ngoài ra
còn thị trường quan trọng khác gồm: Braxin, Mêxico, Ai Cập, Kenia, Nigeria
và một số nước mới quan tâm, phát triển các giống ngô chuyển gen như:
Trung Quốc, Ấn Độ, Thái Lan.
Có thể nói rằng cây ngô sẽ là loại cây trồng đầy triển vọng của loài
người trong thế kỷ 21. Hiện nay công tác nghiên cứu và chọn tạo giống ngô
lai trên thế giới vẫn đang được chú ý phát triển để tạo ra những giống ngô
mới có những đặc điểm mong muốn đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của
con người.
2.5. Tình hình sản xuất và nghiên cứu ngô ở Việt Nam
2.5.1. Tình hình sản xuất ngô ở Việt Nam
Việt Nam có điều kiện tự nhiên thuận lợi cho cây ngô sinh trưởng và
phát triển, vì vậy cây ngô được trồng phổ biến ở khắp các vùng trên cả nước.
Những năm gần đây Đảng và Nhà nước đã có nhiều chính sách hỗ trợ khuyến