ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
PHAN QUỐC TOẢN
NGHIÊN CỨU SỬ DỤNG LÁ CÂY CHÈ ĐẠI
(TRICHANTHERA GIGANTEA) BỔ SUNG VÀO KHẨU PHẦN
ĂN CHO LỢN THỊT F1 (♂ RỪNG × ♀ ĐỊA PHƯƠNG ) NUÔI
TẠI HUYỆN YÊN SƠN TỈNH TUYÊN QUANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP
THÁI NGUYÊN - 2014
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
PHAN QUỐC TOẢN
NGHIÊN CỨU SỬ DỤNG LÁ CÂY CHÈ ĐẠI
(TRICHANTHERA GIGANTEA) BỔ SUNG VÀO KHẨU PHẦN
ĂN CHO LỢN THỊT F1 (♂ RỪNG × ♀ ĐỊA PHƯƠNG ) NUÔI
TẠI HUYỆN YÊN SƠN TỈNH TUYÊN QUANG
Chuyên ngành: Chăn nuôi
Mã số: 60.62.01.05
LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học: TS. TRƯƠNG HỮU DŨNG
THÁI NGUYÊN - 2014
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn
này là trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào.
Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này
đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn đã được chỉ rõ nguồn gốc.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Phan Quốc Toản
ii
LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
DANH MỤC CÁC HÌNH viii
MỞ ĐẦU 1
1. Đặt vấn đề 1
2. Mục tiêu của đề tài 2
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2
Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1. Cơ sở khoa học của đề tài 3
1.1.1. Nguồn gốc cây Chè đại 3
1.1.2. Đặc tính sinh trưởng 4
1.1.3. Vấn đề giữ đạm không khí của cây họ đậu 8
1.2. Một số cây họ đậu dùng làm thức ăn trong chăn nuôi 11
1.2.1. Một số cây họ đậu dùng làm thức ăn trong chăn nuôi 11
1.2.2. Các hạn chế của cây thức ăn họ đậu đối với vật nuôi 14
1.2. Cơ sở khoa học của sự sinh trưởng ở lợn thịt 15
1.2.1. Cơ sở di truyền của sự sinh trưởng 15
1.2.2. Sinh trưởng và các chỉ tiêu đánh giá sự sinh trưởng ở vật nuôi 17
1.2.3. Các chỉ tiêu đánh giá sức sinh trưởng 18
1.3. Những yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng của vật nuôi 20
1.3.1. Yếu tố bên trong 20
1.3.2. Yếu tố bên ngoài 21
1.4. Vài nét về đặc điểm giống lợn rừng, lợn địa phương tại huyện Yên Sơn
tỉnh Tuyên Quang 25
iv
1.4.1. Đặc điểm lợn rừng nuôi tại huyện Yên Sơn 25
1.4.2. Đặc điểm lợn địa phương tại huyện Yên Sơn 26
1.5. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 27
1.5.1. Tình hình nghiên cứu trong nước 27
3. Đề nghị 63
TÀI LIỆU THAM KHẢO 64
MỘT SỐ HÌNH ẢNH MINH HỌA 72
PHỤ LỤC 75
vi
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ĐB : Đại Bạch
ĐC : Đối chứng
KHKT : Khoa học Kỹ thuật
KPCS : Khẩu phần chăm sóc
MC : Móng Cái
NLN : Nông lâm nghiệp
TĂ : Thức ăn
TN : Thí nghiệm
VCK : Vật chất khô
vii
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1. Sơ đồ bố trí thí nghiệm 31
Bảng 2.2. Kết quả phân tích thành phần lá cây Chè đại 32
Bảng 2.3. Giá trị dinh dưỡng của thức ăn tinh dùng trong thí nghiệm 33
Bảng 2.4. Giá trị dinh dưỡng của thức ăn thô xanh 33
Bảng 2.5. Định mức cho lợn ăn được hộ chăn nuôi áp dụng 33
Bảng 3.1. Sinh trưởng tích lũy của lợn thí nghiệm 40
Bảng 3.2. Sinh trưởng tuyệt đối của lợn thí nghiệm 43
Bảng 3.3. Sinh trưởng tương đối của lợn thí nghiệm 46
Bảng 3.4. Tiêu thụ thức ăn/ngày của lợn thí nghiệm 48
Bảng 3.5. Tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng lợn thí nghiệm 50
Bảng 3.6. Chi phí thức ăn/kg tăng khối lượng lợn thí nghiệm 52
Bảng 3.7. Kết quả mổ khảo sát lợn thí nghiệm 55
Bảng 3.8. Thành phần hóa học của thịt lợn thí nghiệm 59
thu nhập cho người dân.
Trong những năm gần đây, người dân đã trồng và sử dụng nhiều loại
cây thức ăn cho gia súc, gia cầm, trong đó có cây Chè đại (Trichanthera
gigantea). Đây là loại cây cho lá, dễ trồng trên mọi loại đất, có năng suất chất
xanh khá cao, nhiều gia súc, gia cầm thích ăn… tại huyện Yên Sơn tỉnh
Tuyên Quang cây Chè đại được trồng khoảng những năm 2003 -2004 và cũng
là loại cây có tiềm năng, năng suất chất xanh khá, hàm lượng dinh dưỡng
2
tương đối cao thường được người dân dùng lá bổ sung vào thức ăn cho lợn
mẹ nuôi con, trâu, bò, dê. Tuy nhiên, hiện nay chưa có công trình nghiên cứu
nào đề cập đến việc sử dụng làm thức ăn nuôi lợn rừng và lợn rừng lai là loại
vật nuôi sử dụng nhiều thức ăn thô xanh trong khẩu phần ăn. Xuất phát từ
thực tế trên, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: Nghiên cứu sử dụng lá cây
Chè đại (Trichanthera gigantea) bổ sung vào khẩu phần ăn cho lợn thịt
F1(♂Rừng × ♀ Địa phương) nuôi tại huyện Yên Sơn tỉnh Tuyên Quang.
2. Mục tiêu của đề tài
Xác định được tỷ lệ bổ sung thích hợp vào khẩu phần ăn và ảnh hưởng
của lá cây Chè đại đến khả năng sinh trưởng, năng suất, chất lượng thịt và
hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi lợn thịt F1(♂R x ♀ĐP) trong nông hộ nuôi
tại huyện Yên Sơn tỉnh Tuyên Quang.
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
3.1. Ý nghĩa khoa học
Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ cung cấp những thông tin cơ bản về
việc sử dụng thêm một giống cây thức ăn giàu đạm thực vật trong chăn nuôi.
Đề tài đóng góp thêm những số liệu khoa học phục vụ cho nghiên cứu
và giảng dạy trong nhà trường và ứng dụng vào trong sản xuất.
3.2. Ý nghĩa thực tiễn
Sử dụng lá cây Chè đại bổ sung thêm nguồn đạm thực vật trong chăn
nuôi lợn rừng lai, giúp người chăn nuôi tận dụng nguồn thức ăn sẵn có ở địa
phương để giảm chi phí, nâng cao hiệu quả chăn nuôi và cung cấp sản phẩm
4
và 16,74 tấn/ha (thân tươi) tương đương 40.000 cây/ha (khoảng cách 0,5m x
0,5m), sau 1,5 - 3 tháng thu hoạch một lần năng suất 17 tấn /ha/1 lần cắt
(khoảng cách 0,75 cm x 0,75 cm). Tổng sản lượng (lá tươi và thân xanh) lên
đến 53 tấn/ha/năm. Cây Chè đại có khả năng tái sinh mạnh mẽ, ngay cả trong
điều kiện thu hoạch nhiều lần mà không cung cấp phân bón. Điều này cho
thấy quá trình tổng hợp nitơ có thể xảy ra ở phần rễ thông qua hoạt động
của Mycorrhizahay những vi sinh vật khác. Cây Chè đại đáp ứng tốt với Nitơ
của urea lên đến 240 kgN/ha/năm.
Hàm lượng protein chứa bên trong lá thay đổi từ 18 - 21% và hầu hết là
protein thật. Hàm lượng canxi đặc biệt cao khi so với các loại cây thức ăn
khác. Thí nghiệm kiểm tra các chất kháng dinh dưỡng (Rosales and Galindo,
1987)[66] chứng minh rằng, trong cây Chè đại không có alkaloid hay tannin,
hàm lượng saponin và steroid thấp.
1.1.2. Đặc tính sinh trưởng
1.1.2.1. Đặc tính sinh trưởng chung
Sinh trưởng và phát triển không phải là một chức năng sinh lý riêng
biệt mà là kết quả hoạt động tổng hợp của nhiều chức năng trong quá trình
sinh lý của cây.
Theo David W.Pratt, 1993 [54] thì tính hiệu quả của cỏ là làm biến đổi
năng lượng mặt trời thành lá xanh, để động vật có khả năng thu nhận chúng.
Tuy nhiên, sử dụng năng lượng từ lá lại phụ thuộc vào chu kỳ phát triển của
cây. Thực vật nói chung và cỏ nói riêng sinh trưởng và tái sinh trải qua 3 giai
đoạn, mỗi giai đoạn lại có đặc điểm riêng:
Giai đoạn sinh trưởng chậm (giai đoạn I): xảy ra sau khi mới gieo
trồng, mới bị chăn thả hay thu cắt. Lúc này chất dự trữ ở hạt giảm, lá non còn
ít; lá bị mất (do thu cắt) nên cây không có khả năng nhận ánh sáng mặt trời,
trong khi đó cây đòi hỏi nhiều năng lượng để phát triển.
Giai đoạn sinh trưởng nhanh (giai đoạn II): Đây là thời gian phát triển
nhanh nhất. Trong giai đoạn này lá chứa đủ protein và năng lượng thỏa mãn
- Nhiệt độ
Nhiệt độ là một nhân tố sinh thái có ảnh hưởng rất lớn đối với sinh vật
nói chung và thực vật nói riêng. Nhiệt độ có ảnh hưởng trực tiếp tới sinh
trưởng của cây, nhiệt độ tăng thì sinh trưởng cũng tăng và nhiệt độ giảm sinh
trưởng chậm lại. Khi tăng nhiệt độ tới hạn nhất định có tác dụng thúc đẩy quá
trình hấp thu chất khoáng của rễ (Trịnh Xuân Vũ và công sự, 1976) [46].
Cũng theo tác giả này, sự hô hấp bắt đầu trong khoảng 10
0
C và tối thích ở
nhiệt độ 35
0
C. Theo Bogdan A. V, 1977 [49] nhiệt độ thấp nhất để cỏ nhiệt
đới nảy mầm là 15 - 20
0
C và tối ưu là 25 - 35
0
C; Nhiệt độ tối ưu cho quang
hợp của cỏ ôn đới là 15 - 20
0
C, và ở cỏ nhiệt đới là 30 - 40
0
C; Sự hình thành
diệp lục bắt đầu khi nhiệt độ lớn hơn 10 - 15
0
C.
Vì vậy nhiệt độ hay thời gian trong năm mà ta thu hoạch sẽ ảnh hưởng
tới giá trị của thức ăn (Marten, G.C. 1970) [60].
Nhiệt độ đất có tác dụng đối với nhiệt độ bên trong thực vật lớn hơn
nhiệt độ không khí, nguyên nhân là do vỏ và cây dẫn nhiệt kém còn nhiệt độ
đất thông qua nước hấp phụ từ đất mà chuyển vào cây dễ dàng (Phan Nguyên
dưỡng sau này. Chỉ khi các bộ phận này đã phát triển và dự trữ dinh dưỡng
đầy đủ mới cho phép quá trình tái sinh mạnh (A. Voisin, 1963) [68].
- Tuổi thu hoạch
Kể từ lứa cắt thứ nhất trở đi, thời gian giữa các lần thu hoạch gọi là tuổi
thu hoạch. Khi cây dự trữ đủ dinh dưỡng thì ta bắt đầu thu hoạch. (A. Voisin,
1963) [68] khẳng định: một cây cỏ nếu bị cắt trước khi rễ và những phần còn
lại của lứa cắt chưa dự trữ đủ dinh dưỡng thì sự tái sinh sẽ gặp khó khăn và có
thể không tái sinh được. Nếu tuổi thu hoạch chỉ bằng ½ tuổi thu hoạch thích
hợp thì năng suất chỉ còn 1/3. Nếu tăng hơn tuổi thích hợp nhất 50% thì chỉ
tăng năng suất 20%, nhưng chất lượng giảm, tỷ lệ xơ tăng.
8
- Độ cao thu hoạch
Độ cao thu hoạch cũng quyết định lượng dự trữ của cỏ cho quá trình tái
sinh trưởng. Khi cắt cỏ quá cao sẽ làm giảm sản lượng cỏ vì một phần sản
lượng nằm ở phần để lại, khi cắt cỏ quá thấp sẽ ảnh hưởng tới các lần tái sinh
sau đó, làm mất đi phần thân gần gốc là cơ quan dự trữ chất dinh dưỡng cơ bản
để nuôi rễ và toàn bộ lá, không tạo ra các chất hữu cơ khác được.
1.1.2.3. Đặc điểm sinh trưởng của rễ
Bộ rễ chùm của cỏ hòa thảo chủ yếu sinh trưởng ở những lớp đất mặt trừ
một số loài như cỏ Voi có thể ăn sâu tới 2m. Bộ rễ cọc của cây họ đậu ăn sâu
hơn. Thường trong những năm đầu tiên sẽ ăn sâu gần mức độ sâu nhất có thể tùy
theo loại cỏ, loại đất và mạch nước ngầm (Whyte R.O. và cộng sự, 1964) [65].
Sau khi bộ rễ được thiết lập, sự sinh trưởng cũng mang tính chất theo
mùa rõ rệt như các bộ phận trên mặt đất. Phần lớn rễ sinh trưởng mạnh vào
mùa xuân đạt tới mức cao nhất trước khi bộ phận trên mặt đất đạt được và
ngừng khi cây ra hoa.
1.1.3. Vấn đề giữ đạm không khí của cây họ đậu
Cây họ đậu có đặc tính sinh học chung đó là rễ có nốt rễ, mang vi
khuẩn cộng sinh Rhizobium cố định được nitơ trong không khí. Mặc dù trong
không khí trên mỗi hecta đất có tới 80 ngàn tấn nitơ ở dạng khó tiêu. Tuy
cơ thể do đó điều chỉnh sự tổng hợp protein và phân chia tế bào, các acid
amine - do đó là thành phần bắt buộc của protein. protein trong cơ thể thực
vật là không thể thiếu vì nó tham gia vào cấu tạo nên membrane, hệ thống
enzyme, phitocrom, các phitohormone - điều chỉnh quá trình sinh trưởng phát
triển của cây kể cả hợp chất hữu cơ thứ cấp như tanin, cafein
+ Nitơ tham gia cấu tạo nên nhiều enzym quan trọng: dehydrogenaza,
FAD, NAD
+ Nitơ tham gia vào cấu trúc vòng poorphiril, đây là cấu tử quan trọng
của chlorophil, cytocrom→ Nitơ quyết định quá trình trao đổi chất, những
biến đổi sinh lý sinh hóa, ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng, phát triển;
năng suất và chất lượng cây trồng. Do đó, để tăng năng suất và phẩm chất cây
trồng thì việc thỏa mãn nhu cầu nitơ có ý nghĩa quyết định.
+ Thiếu nitơ cây sinh trưởng còi cọc, lá màu vàng nhạt, cây đẻ ít nhánh,
sinh chồi, kém diện tích lá nhỏ, năng suất và phẩm chất thấp (thậm chí không
có quả tùy thuộc mức độ thiếu nitơ).
10
+ Tuy nhiên nếu bón quá nhiều nitơ và bón không cân đối với các
nguyên tố đa lượng khác thì thân lá sinh trưởng rậm rạp, lá màu xanh đục
đậm, cây mềm yếu, khả năng chống đổ kém, đối với cây lấy hạt thì hạt lép
nhiều, thậm chí không ra hoa kết quả. Cây sinh trưởng mạnh thân lá, nhưng
khả năng chống chịu kém, dễ bị sâu bệnh phá hại.
- Mối quan hệ dinh dưỡng nitơ với cây họ đậu
Với cây họ đậu mối quan hệ giữa dinh dưỡng nitơ có sự tác động qua
lại. Nghĩa là nó có thể hút chất dinh dưỡng nitơ từ trong đất dưới dạng NH
4
+
và NO
3-
, vừa có thể tổng hợp dinh dưỡng nitơ nuôi cây và để lại trong đất
dinh dưỡng đạm. Điều đó tùy thuộc vào khả năng tạo nốt sần và thời gian tạo
và NO
3
-
hút bám trên bề mặt các keo đất và trên bề mặt rễ
trao đổi với nhau khi có sự tiếp xúc giữa rễ và dung dịch đất. Cách này gọi là
hút bám trao đổi.
Hấp thụ chủ động:
Phần lớn các ion NH
4
+
và NO
3
-
được hấp thụ vào cây theo cách chủ
động. Tính chủ động ở đây được thể hiện ở tính thấm chọn lọc của màng sinh
chất và các chất khoáng cần thiết cho cây đều được vận chuyển trái với quy
luật khuếch tán, nghĩa là vận chuyển từ nơi có nồng độ thấp đến nơi có nồng
độ cao. Vì cách hấp thụ khoáng này mang tính chọn lọc và ngược với gadrien
11
nồng độ nên cần thiết phải có năng lượng, tức là sự tham gia của ATP và một
chất trung gian thường gọi là chất mang. ATP và chất mang được cung cấp từ
quá trình chuyển hóa vật chất (chủ yếu từ quá trình hô hấp).
Ở giai đoạn này của các loại cây họ đậu, quá trình phát triển của rễ
càng nhanh càng tốt. Do đó, chúng ta phải bón phân đạm với lượng nhỏ và
kèm theo bón phân lân vì phân lân sẽ kích thích sự phát triển của bộ rễ.
1.2. Một số cây họ đậu dùng làm thức ăn trong chăn nuôi
1.2.1. Một số cây họ đậu dùng làm thức ăn trong chăn nuôi
Cây Chè đại: Cây Chè đại có nguồn gốc ở Nam Mỹ, trồng bằng hom đạt
tỷ lệ sống 90% - 95%. Cây phát triển vào mùa mưa, không kén đất, có kháng thể
cao chống được sâu bệnh và không bị cỏ dại lấn át. Ngoài cung cấp dinh dưỡng,
cao. Gà, vịt, cút đẻ có bổ sung lá cây Chè đại vào khẩu phần thức ăn cũng cho kết
quả tốt: đẻ trứng nhiều hơn, chất lượng trứng tốt hơn (Đậu Thế Năm, 2010) [28].
Sử dụng lá cây Chè đại làm thức ăn chăn nuôi sẽ giảm 1/3 chi phí mua
thức ăn, lợi nhuận tăng gấp 2 lần so với khi cho ăn bằng các thức ăn truyền
thống. Sau khi cho ăn lá Chè đại, thịt, trứng, sữa thu được sẽ vàng, thơm ngon
hơn so với các sản phẩm của gia súc, gia cầm không sử dụng lá cây này. Gà
đẻ cho ăn Chè đại lòng đỏ rất đỏ, gà con có da, mỏ vàng hơn, rất hợp thị hiếu
người tiêu dùng.
Khoa Nông nghiệp - Trường đại học Cần Thơ trồng thử nghiệm có thể
thay 30-40% lượng tấm cám trong khẩu phần thức ăn cho heo, dê. Lá cây Chè
đại ở dạng bột còn bổ sung 2-4% khẩu phần thức ăn cho gà, vịt, cút nuôi. Đã
có trên 500 nông dân mua hom giống cây Chè đại với giá 10.000 đồng/kg về
trồng. Theo tính toán, trồng khoảng 30 cây Chè đại sẽ cung cấp thức ăn cho
một con heo hoặc dê trong suốt thời gian nuôi .
Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của cây Chè đại ảnh hưởng tới sinh trưởng
và hiệu quả chăn nuôi gà Broiler từ 1 - 42 ngày tuổi tại Thái Nguyên cho thấy:
13
Sử dụng bột lá Chè đại thay thế một phần thức ăn hỗn hợp không làm
ảnh hưởng tới tỷ lệ nuôi sống của gà Broiler, kết thúc thí nghiệm ở 6 tuần tuổi
gà đạt tỷ lệ nuôi sống 94 - 96 % tương đương như lô đối chứng không thay thế.
Với tỷ lệ thay thế bột lá Chè đại đã dùng từ 1 - 3% và 3 - 5% trong thức
ăn hỗn hợp tương ứng với 2 giai đoạn nuôi gà Broiler từ 1 - 42 ngày tuổi đã
có ảnh hưởng tốt tới sinh trưởng của gà: với tỷ lệ thay thế 3 - 5% lô thí
nghiệm 2 đã cho khối lượng cơ thể cao hơn đối chứng 295g/con, tương ứng
cao hơn 11,3%, đạt độ tin cậy (P<0,05); tốt hơn tỷ lệ thay thế 1 - 3% ở lô thí
nghiệm 1 chỉ có chênh lệch so với lô đối chứng 68g/con, tương ứng cao hơn
2,8% (P>0,05).
Kết quả nghiên cứu tại Trạm Thực nghiệm Thu cúc huyện Thanh Sơn
tỉnh Phú Thọ đã thử nghiệm cho lợn nái ăn chè đại theo cách nấu cám chung
với cám gạo, ngô như nấu với rau, khoai lang. Kinh nghiệm của trạm cho
Cỏ Stylo: Cỏ Stylo là cây họ đậu, 1 kg bột cỏ Stylo có 96 g đạm tiêu hóa,
tương đương 0,64 đơn vị thức ăn, dùng nuôi lợn rất tốt không kém cám gạo.
Bèo hoa dâu: Bèo hoa dâu là cây phân xanh có đến 28 - 30% protein
trong vật chất khô, trên 3% chất béo, 10,5% chất khoáng, 6,5% tinh bột
đường, còn nhiều vitamin B12, vitamin A rất cần cho gia cầm.
Lá sắn: Lá sắn là nguồn nguyên liệu phong phú ở Việt Nam, có hàm
lượng chất dinh dưỡng tương đối cao, giá trị protein thô chiếm 21%, chất béo
5,5%, xơ thô 21% .
Lá keo dậu: Cây keo dậu phát triển ở hầu khắp các vùng trên nhiều loại
đất khác nhau. Lượng protein thô trong lá keo dậu khá cao 270-280 g/kg chất
khô, tỷ lệ xơ thấp 155g/kg chất khô, nên lá keo dậu có thể dùng làm thức ăn
bổ sung protein, vitamin cho gia súc và gia cầm.
1.2.2. Các hạn chế của cây thức ăn họ đậu đối với vật nuôi
Trong một số loại lá thực vật có chứa một số chất như: lá sắn có độc tố
HCN, Cỏ Mêdicago, cây họ đậu, điền thanh có chứa chất độc saponin nên khi
sử dụng chúng cho vật nuôi phải hết sức chú ý đến tỷ lệ trong khẩu phần.
15
Theo Vũ Duy Giảng và cs (1997) [11] cho biết: Tỷ lệ bổ sung bột lá
thực vật cho gà thịt là 2% tính theo đơn vị khẩu phần, gia cầm khác là 4 - 6%
tính theo đơn vị khẩu phần. Trong lá keo dậu có chứa độc tố mimosin, do đó
không nên dùng quá 15% trong khẩu phần của lợn và không quá 5% trong
khẩu phần của gia cầm (tính theo giá trị dinh dưỡng) bột cỏ alfalfa thường
chứa saponin với hàm lượng 0,2-1,8% gây tác dụng dung huyết và kìm hãm
sinh trưởng ở gia súc, gia cầm, gây chướng hơi dạ cỏ ở trâu bò, cho nên bột
cỏ alfalfa chỉ được sử dụng với tỷ lệ hạn chế trong khẩu phần ăn của gia súc.
Mặt khác, bột lá, bột cỏ nếu bảo quản kém hoặc quá lâu dễ bị mốc và làm hao
hụt các chất dinh dưỡng, đặc biệt là B-caroten, vitamin bị mất đi.
Đối với cây Chè đại đã có thí nghiệm kiểm tra các chất kháng dinh
dưỡng (Rosales and Galindo, 1987) [66] chứng minh rằng trong cây Chè đại
không có alkaloids hay tannins, hàm lượng saponin và steroids thấp do đó có