Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/ ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGHIÊN CỨU
(TRICHAN
1 ( × ) NUÔI LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP
THÁI NGUYÊN - 2014
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn
này là trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào.
Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này
đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn đã được chỉ rõ nguồn gốc. TÁC GIẢ LUẬN VĂN
học tập và nghiên cứu.
Tôi xin trân trọng gửi tới các thầy cô giáo, các quý vị trong Hội đồng
chấm luận văn lời cảm ơn chân thành và lời chúc tốt đẹp nhất.
Thái Nguyên, ngày 04 tháng 12 năm 2014
Học viên
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
DANH MỤC CÁC HÌNH viii
MỞ ĐẦU 1
1
2
2
Chƣơng 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
3
3
1.1.2. Đặc tính sinh trưởng 4
1.1.3. Vấn đề giữ đạm không khí của cây họ đậu 8
11
2.6. Phương pháp xử lý số liệu 40
Chƣơng 3. 42
3.1.
42
42
47
50
52
56
58
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
v
của lợn thí nghiệm 62
3.2.1. 62
67
71
1. Kết luận 71
72
3. Đề nghị 72
73
MỘT SỐ HÌNH ẢNH MINH HỌA 81
PHỤ LỤC 85 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
vi
63
68
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
viii
DANH MỤC CÁC HÌNH
28
50
52
65
66
67
69
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
1
MỞ ĐẦU
1.
Trong chăn nuôi,
,
, l
.
,
F1(♂R x ♀ĐP)
. Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ
.
Đề tài đóng góp thêm những số liệu khoa học phục vụ cho nghiên cứu
và giảng dạy trong nhà trường và ứng dụng vào trong sản xuất.
3.2.
,
, .
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
3
Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1
1.1.1. Nguồn gốc
Trichanthera thuộc họ Acanthaceae
rô); họ phụ: Ancanthoideae; bộ: Trichanthera ); giống Hera;
loài: Trichanthera gigantea. Cây thân bụi, tán tròn, nhánh bậc hai, lá cánh quạt
dài đến 26 cm và rộng 14 cm, đỉnh nhọn, bản hẹp; nở hoa theo chu kỳ.
à một cây trồng mới làm thức ăn gia súc được nhập
vào Việt Nam năm 1993 từ
đã được trồng ở miền Tây Nam bộ, Tây Nguyên
.
Cây có nhiều ở vùng núi Côlômbia, dọc theo các dòng suối và
1.1.2.1. Đặc tính sinh trưởng chung
Sinh trưởng và phát triển không phải là một chức năng sinh lý riêng
biệt mà là kết quả hoạt động tổng hợp của nhiều chức năng trong quá trình
sinh lý của cây.
Theo David W.Pratt, 1993 [54] thì tính hiệu quả của cỏ là làm biến đổi
năng lượng mặt trời thành lá xanh, để động vật có khả năng thu nhận chúng.
Tuy nhiên, sử dụng năng lượng từ lá lại phụ thuộc vào chu kỳ phát triển của
cây. Thực vật nói chung và cỏ nói riêng sinh trưởng và tái sinh trải qua 3 giai
đoạn, mỗi giai đoạn lại có đặc điểm riêng:
Giai đoạn sinh trưởng chậm (giai đoạn I): xảy ra sau khi mới gieo
trồng, mới bị chăn thả hay thu cắt. Lúc này chất dự trữ ở hạt giảm, lá non còn
ít; lá bị mất (do thu cắt) nên cây không có khả năng nhận ánh sáng mặt trời,
trong khi đó cây đòi hỏi nhiều năng lượng để phát triển.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
5
Giai đoạn sinh trưởng nhanh (giai đoạn II): Đây là thời gian phát triển
nhanh nhất. Trong giai đoạn này lá chứa đủ protein và năng lượng thỏa mãn
cho nhu cầu dinh dưỡng của vật nuôi. Cỏ có chất lượng cao và số lượng lớn.
Giai đoạn sinh trưởng chậm (giai đoạn III): là giai đoạn gần trưởng
thành hoặc sau khi chăn thả hay thu hoạch cỏ khoảng 40 - 70 ngày. Ở giai
đoạn này, cỏ có phần thân chiếm đa số và nhiều xơ. Hàm lượng dinh dưỡng
cao, số lượng nhiều, tuy nhiên khả năng tiêu hóa của vật nuôi đối với lá và
thân cây giai đoạn này thấp (Đoàn Ẩn, Võ Văn Trị, 1976) [3].
Vì vậy, trong quản lý đồng cỏ cần chăn thả hay thu cắt khi kết thúc giai
đoạn II và cần có thời gian nghỉ hợp lý để duy trì cây cỏ lâu dài. Mặt khác,
tránh không cắt cỏ quá thấp hay cho động vật gặm cỏ còn lại quá ngắn gây tái
sinh chậm làm giảm tổng sản lượng cỏ.
1.1.2.2. Động thái sinh trưởng, tái sinh của thân và lá
nhiệt độ 35
0
C. Theo Bogdan A. V, 1977 [49] nhiệt độ thấp nhất để cỏ nhiệt
đới nảy mầm là 15 - 20
0
C và tối ưu là 25 - 35
0
C; Nhiệt độ tối ưu cho quang
hợp của cỏ ôn đới là 15 - 20
0
C, và ở cỏ nhiệt đới là 30 - 40
0
C; Sự hình thành
diệp lục bắt đầu khi nhiệt độ lớn hơn 10 - 15
0
C.
Vì vậy nhiệt độ hay thời gian trong năm mà ta thu hoạch sẽ ảnh hưởng
tới giá trị của thức ăn (Marten, G.C. 1970) [60].
Nhiệt độ đất có tác dụng đối với nhiệt độ bên trong thực vật lớn hơn
nhiệt độ không khí, nguyên nhân là do vỏ và cây dẫn nhiệt kém còn nhiệt độ
đất thông qua nước hấp phụ từ đất mà chuyển vào cây dễ dàng (Phan Nguyên
Hồng, 1971) [21].
- Ẩm độ
Ẩm độ hay lượng nước trong đất có ý nghĩa đặc biệt đối với đời sống
cây trồng. Lượng nước trong đất nhiều hay ít đều ảnh hưởng đến việc cung
cấp dinh dưỡng, chế độ quang hợp, chế độ thoát hơi nước để thực vật khỏi bị
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
7
8
Kể từ lứa cắt thứ nhất trở đi, thời gian giữa các lần thu hoạch gọi là tuổi
thu hoạch. Khi cây dự trữ đủ dinh dưỡng thì ta bắt đầu thu hoạch. (A. Voisin,
1963) [68] khẳng định: một cây cỏ nếu bị cắt trước khi rễ và những phần còn
lại của lứa cắt chưa dự trữ đủ dinh dưỡng thì sự tái sinh sẽ gặp khó khăn và có
thể không tái sinh được. Nếu tuổi thu hoạch chỉ bằng ½ tuổi thu hoạch thích
hợp thì năng suất chỉ còn 1/3. Nếu tăng hơn tuổi thích hợp nhất 50% thì chỉ
tăng năng suất 20%, nhưng chất lượng giảm, tỷ lệ xơ tăng.
- Độ cao thu hoạch
Độ cao thu hoạch cũng quyết định lượng dự trữ của cỏ cho quá trình tái
sinh trưởng. Khi cắt cỏ quá cao sẽ làm giảm sản lượng cỏ vì một phần sản
lượng nằm ở phần để lại, khi cắt cỏ quá thấp sẽ ảnh hưởng tới các lần tái sinh
sau đó, làm mất đi phần thân gần gốc là cơ quan dự trữ chất dinh dưỡng cơ bản
để nuôi rễ và toàn bộ lá, không tạo ra các chất hữu cơ khác được.
1.1.2.3. Đặc điểm sinh trưởng của rễ
Bộ rễ chùm của cỏ hòa thảo chủ yếu sinh trưởng ở những lớp đất mặt trừ
một số loài như cỏ Voi có thể ăn sâu tới 2m. Bộ rễ cọc của cây họ đậu ăn sâu
hơn. Thường trong những năm đầu tiên sẽ ăn sâu gần mức độ sâu nhất có thể tùy
theo loại cỏ, loại đất và mạch nước ngầm (Whyte R.O. và cộng sự, 1964) [65].
Sau khi bộ rễ được thiết lập, sự sinh trưởng cũng mang tính chất theo
mùa rõ rệt như các bộ phận trên mặt đất. Phần lớn rễ sinh trưởng mạnh vào
mùa xuân đạt tới mức cao nhất trước khi bộ phận trên mặt đất đạt được và
ngừng khi cây ra hoa.
1.1.3. Vấn đề giữ đạm không khí của cây họ đậu
Cây họ đậu có đặc tính sinh học chung đó là rễ có nốt rễ, mang vi
khuẩn cộng sinh Rhizobium cố định được nitơ trong không khí. Mặc dù trong
không khí trên mỗi hecta đất có tới 80 ngàn tấn nitơ ở dạng khó tiêu. Tuy
nhiên, cây trồng không thể sử dụng được loại nitơ phân tử này. Trong khi đó,
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
cơ thể do đó điều chỉnh sự tổng hợp protein và phân chia tế bào, các acid
amine - do đó là thành phần bắt buộc của protein. protein trong cơ thể thực
vật là không thể thiếu vì nó tham gia vào cấu tạo nên membrane, hệ thống
enzyme, phitocrom, các phitohormone - điều chỉnh quá trình sinh trưởng phát
triển của cây kể cả hợp chất hữu cơ thứ cấp như tanin, cafein
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
10
+ Nitơ tham gia cấu tạo nên nhiều enzym quan trọng: dehydrogenaza,
FAD, NAD
+ Nitơ tham gia vào cấu trúc vòng poorphiril, đây là cấu tử quan trọng
của chlorophil, cytocrom→ Nitơ quyết định quá trình trao đổi chất, những
biến đổi sinh lý sinh hóa, ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng, phát triển;
năng suất và chất lượng cây trồng. Do đó, để tăng năng suất và phẩm chất cây
trồng thì việc thỏa mãn nhu cầu nitơ có ý nghĩa quyết định.
+ Thiếu nitơ cây sinh trưởng còi cọc, lá màu vàng nhạt, cây đẻ ít nhánh,
sinh chồi, kém diện tích lá nhỏ, năng suất và phẩm chất thấp (thậm chí không
có quả tùy thuộc mức độ thiếu nitơ).
+ Tuy nhiên nếu bón quá nhiều nitơ và bón không cân đối với các
nguyên tố đa lượng khác thì thân lá sinh trưởng rậm rạp, lá màu xanh đục
đậm, cây mềm yếu, khả năng chống đổ kém, đối với cây lấy hạt thì hạt lép
nhiều, thậm chí không ra hoa kết quả. Cây sinh trưởng mạnh thân lá, nhưng
khả năng chống chịu kém, dễ bị sâu bệnh phá hại.
- Mối quan hệ dinh dưỡng nitơ với cây họ đậu
Với cây họ đậu mối quan hệ giữa dinh dưỡng nitơ có sự tác động qua
lại. Nghĩa là nó có thể hút chất dinh dưỡng nitơ từ trong đất dưới dạng NH
4
+
và NO
và NO
3
-
hòa tan trong nước và vào rễ theo dòng nước.
Các ion NH
4
+
và NO
3
-
hút bám trên bề mặt các keo đất và trên bề mặt rễ
trao đổi với nhau khi có sự tiếp xúc giữa rễ và dung dịch đất. Cách này gọi là
hút bám trao đổi.
Hấp thụ chủ động:
Phần lớn các ion NH
4
+
và NO
3
-
được hấp thụ vào cây theo cách chủ
động. Tính chủ động ở đây được thể hiện ở tính thấm chọn lọc của màng sinh
chất và các chất khoáng cần thiết cho cây đều được vận chuyển trái với quy
luật khuếch tán, nghĩa là vận chuyển từ nơi có nồng độ thấp đến nơi có nồng
độ cao. Vì cách hấp thụ khoáng này mang tính chọn lọc và ngược với gadrien
nồng độ nên cần thiết phải có năng lượng, tức là sự tham gia của ATP và một
chất trung gian thường gọi là chất mang. ATP và chất mang được cung cấp từ
quá trình chuyển hóa vật chất (chủ yếu từ quá trình hô hấp).
Ở giai đoạn này của các loại cây họ đậu, quá trình phát triển của rễ
càng nhanh càng tốt. Do đó, chúng ta phải bón phân đạm với lượng nhỏ và
130g protein/con/ngày cho kết quả tốt: Heo nái sinh sản tốt, heo thịt tăng trọ
quả tốt: đẻ trứng nhiều hơn, chất lượng trứng tốt hơn ( , 2010) [28].
1/3 chi phí mua
thức ăn, lợi nhu
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
13
lòng đỏ rất đỏ, gà con có da, mỏ vàng hơn, rất hợp thị hiếu
người tiêu dùng.
Khoa Nông nghiệp - Trường đại học Cần Thơ trồng thử nghiệm có thể
thay 30-40% lượng tấm cám trong khẩu ph
ở dạng bột còn bổ sung 2-4% khẩu phần thức ăn cho gà, vịt, cút nuôi. Đã
có trên với giá 10.000 đồng/kg về
trồng. Theo tính toán, trồng khoảng 30 cây sẽ cung cấp thức ăn cho
một con heo hoặc dê trong suốt thời gian nuôi .
- :
Sử dụng bột lá Chè đại thay thế một phần thức ăn hỗn hợp không làm
ảnh hưởng tới tỷ lệ nuôi sống của gà Broiler, kết thúc thí nghiệm ở 6 tuần tuổi
gà đạt tỷ lệ nuôi sống 94 - 96 % tương đương như lô đối chứng không thay thế.
Với tỷ lệ thay thế bột lá Chè đại đã dùng từ 1 - 3% và 3 - 5% trong thức
ăn hỗn hợp tương ứng với 2 giai đoạn nuôi gà Broiler từ 1 - 42 ngày tuổi đã
có ảnh hưởng tốt tới sinh trưởng của gà: với tỷ lệ thay thế 3 - 5% lô thí
nghiệm 2 đã cho khối lượng cơ thể cao hơn đối chứng 295g/con, tương ứng
cao hơn 11,3%, đạt độ tin cậy (P<0,05); tốt hơn tỷ lệ thay thế 1 - 3% ở lô thí
nghiệm 1 chỉ có chênh lệch so với lô đối chứng 68g/con, tương ứng cao hơn
2,8% (P>0,05).
nái ăn chè đại theo cách nấu cám chung
với cám gạo, ngô như nấu với rau, khoai lang. Kinh nghiệm của trạm cho
thấy, với lợn nái, việc bổ sung chè đại cần đi theo một quá trình thêm dần để
(Stylosanthes gracilis).
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
15
Cỏ Stylo: Cỏ Stylo là cây họ đậu, 1 kg bột cỏ Stylo có 96 g đạm tiêu hóa,
tương đương 0,64 đơn vị thức ăn, dùng nuôi lợn rất tốt không kém cám gạo.
Bèo hoa dâu: Bèo hoa dâu là cây phân xanh có đến 28 - 30% protein
trong vật chất khô, trên 3% chất béo, 10,5% chất khoáng, 6,5% tinh bột
đường, còn nhiều vitamin B12, vitamin A rất cần cho gia cầm.
Lá sắn: Lá sắn là nguồn nguyên liệu phong phú ở Việt Nam, có hàm
lượng chất dinh dưỡng tương đối cao, giá trị protein thô chiếm 21%, chất béo
5,5%, xơ thô 21% .
Lá keo dậu: Cây keo dậu phát triển ở hầu khắp các vùng trên nhiều loại
đất khác nhau. Lượng protein thô trong lá keo dậu khá cao 270-280 g/kg chất
khô, tỷ lệ xơ thấp 155g/kg chất khô, nên lá keo dậu có thể dùng làm thức ăn
bổ sung protein, vitamin cho gia súc và gia cầm.
1.2.2.
Trong một số loại lá thực vật có chứa một số chất như: lá sắn có độc tố
HCN, Cỏ Mêdicago, cây họ đậu, điền thanh có chứa chất độc saponin nên khi
sử dụng chúng cho vật nuôi phải hết sức chú ý đến tỷ lệ trong khẩu phần.
Theo Vũ Duy Giảng và cs (1997) [11] cho biết: Tỷ lệ bổ sung bột lá
thực vật cho gà thịt là 2% tính theo đơn vị khẩu phần, gia cầm khác là 4 - 6%
tính theo đơn vị khẩu phần. Trong lá keo dậu có chứa độc tố mimosin, do đó
không nên dùng quá 15% trong khẩu phần của lợn và không quá 5% trong
khẩu phần của gia cầm (tính theo giá trị dinh dưỡng) bột cỏ alfalfa thường
chứa saponin với hàm lượng 0,2-1,8% gây tác dụng dung huyết và kìm hãm
sinh trưởng ở gia súc, gia cầm, gây chướng hơi dạ cỏ ở trâu bò, cho nên bột
cỏ alfalfa chỉ được sử dụng với tỷ lệ hạn chế trong khẩu phần ăn của gia súc.
Mặt khác, bột lá, bột cỏ nếu bảo quản kém hoặc quá lâu dễ bị mốc và làm hao