Kho¸ luËn tèt nghiÖp Cao ThÞ YÕn Chi – CNA – K49
30
PHẦN I
MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề
Trong chăn nuôi hiện nay, ngành chăn nuôi gia cầm đóng vai trò hết sức
quan trọng. Trứng và thịt gia cầm đã trở thành nguồn thực phẩm thiết yếu trong
đời sống của con người. Tỷ trọng thịt gia cầm có xu hướng tăng lên và luôn
đứng thứ hai sau thịt lợn. Trong thập kỷ gần đây, các hệ thống chăn nuôi gà thịt
và gà đẻ trứng quy mô lớn và trung bình ở các nước Đông Nam Á chỉ tăng lên
10% mỗi năm. Nhưng sự đóng góp về thịt và trứng từ các mô hình chăn nuôi gà
thả vườn nhỏ lẻ truyền thống được ước tính khoảng 50% (C.V.Reddy and
S.Qudratullah) [45]. Đối với nước ta, chăn nuôi gia cầm trong những năm qua
có nhiều bước phát triển đáng kể, số lượng gia cầm năm 2000 là 196,1 nghìn
con, đến năm 2006 tổng đàn gia cầm của nước ta là 214,6 nghìn con (Niên giám
thống kê năm 2006). Hiện nay phương thức chăn nuôi gà ở nước ta chủ yếu là
chăn nuôi nhỏ, chăn nuôi hộ gia đình vẫn chiếm 68,5%, chăn nuôi công nghiệp
và bán công nghiệp mới chỉ chiếm 31,5% (Cục chăn nuôi Bộ nông nghiệp và
phát triển nông thôn, 2006). Trong những năm tới, chăn nuôi gia cầm nước ta
vẫn tiếp tục được ưu tiên phát triển, nhất là việc phát triển đàn gà. Theo báo cáo
tóm tắt chiến lược phát triển chăn nuôi gia cầm Việt Nam giai đoạn 2006 – 2015
của cục chăn nuôi, đến năm 2010 tỷ trọng thịt gia cầm đạt 28% và 2015 đạt 32%
tổng sản lượng thịt các loại, trong đó thịt gà chiếm 82% năm 2010 và 88% năm
2915 trong tổng đàn gia cầm.
Trong chăn nuôi gia cầm, thức ăn là vấn đề quan trọng, quyết định phần
lớn đến năng suất và hiệu quả chăn nuôi. Chi phí cho thức ăn thường chiếm tỷ lệ
rất lớn, khoảng 70% tổng chi phí chăn nuôi, trong đó giá thành của nhóm thức
ăn giàu protein thường cao hơn nhiều so với nhóm thức ăn giàu năng lượng.
Trong những năm gần đây, tình hình thị trường thức ăn chăn nuôi nước ta có
nhiều biến động, giá thức ăn công nghiệp tăng cao (cao hơn các nước trong khu
tht thng phm (H x Lng Phng).
Khoá luận tốt nghiệp Cao Thị Yến Chi CNA K49
32
PHN II
TNG QUAN TI LIU
2.1. C s lý lun
2.1.1. c im chung ca gia cm
2.1.1.1. c im sinh trng v phỏt dc
c im sinh trng phỏt dc ca gia cm
Quỏ trỡnh sinh trng, phỏt dc ca gia cm chia lm hai giai on: giai
on phụi v giai on sau khi n.
Trong giai on phụi: Sau khi trng c th tinh 3 4 gi, hp t bt u
phõn chia thnh phụi bỡ. Thi kỡ ny phụi phỏt trin theo tng nhúm t bo
nhng cha phõn hoỏ v cha mang c im ca t chc. Phụi phỏt trin vi
cng mnh v liờn tc trong ng dn trng, khi t n thi kỡ tin phụi,
trng c ra ngoi c th m v phụi tip tc phõn hoỏ t bo to thnh
cỏc c quan b phn ca c th g con.
Giai on sau n gm hai thi kỡ: Thi kỡ g con v thi kỡ trng thnh.
Thi kỡ g con: Trong giai on g con, lng t bo tng lờn rt nhanh, vỡ
vy quỏ trỡnh sinh trng din ra rt nhanh nhng cỏc c quan, nht l b mỏy
tiờu hoỏ li cha hon thin v chc nng: cỏc men tiờu hoỏ cha y , d dy
cha tiờu hoỏ c thc n cng, vỡ vy iu kin nuụi dng chm súc, ch
dinh dng nh hng rt ln n tc sinh trng ca g con. Vỡ vy, cn
chỳ ý n vn nuụi dng, c bit cn lu ý n hm lng cỏc cht dinh
dng trong thc n, trong ú quan trng nht l cỏc axit amin khụng thay th
nh lysine, methyonine, tryptophan
Thi kỡ trng thnh: Thi kỡ ny cỏc c quan trong c th gia cm gn nh
ó phỏt trin hon thin. S lng t bo tng chm, tc sinh trng chm
hn thi kỡ g con, ch yu thi kỡ ny l quỏ trỡnh tớch lu cht dinh dng,
Tiờu húa d dy c (m):
D dy c cú hỡnh ovan hoc hỡnh a, hi b búp phớa cnh, cú thnh rt
dy mu sm, mt trong l lp mng cng nhng n hi. D dy c khụng
tit dch tiờu húa, ti õy ch xy ra quỏ trỡnh nghin nỏt c hc v nho trn,
Khoá luận tốt nghiệp Cao Thị Yến Chi CNA K49
34
tm dch nhy, nc v men tiờu húa giỳp lm tng mm ca thc n. S tiờu
húa protein v tinh bt d dy c vn c tin hnh nh enzim amilaza,
pepsin, axit chlohidric, vi sinh vt khoang ming, d dy tuyn a xung
nhng khụng ỏng k.
S co búp ca d dy c ph thuc vo cng, to nh ca thc n,
thng thỡ d dy c co búp khong 2 - 3 ln/phỳt, sau ú thc n c chuyn
xung tỏ trng.
Tiờu húa rut:
Rut gia cm cú chiu di gp 4 - 6 ln chiu di thõn, rut chia lm hai
phn: rut non (gm tỏ trng, khụng trng, hi trng) v rut gi (gm manh
trng v trc trng).
Tiờu húa rut non: Quỏ trỡnh tiờu húa rut non din ra di tỏc dng
ca dch rut, dch ty v dch mt. mt ngoi ca tỏ trng cú tuyn ty tit ra
cỏc men phõn gii tinh bt, ng a, protein, m (lipit), cht khoỏng. Tuyn
ty v tỳi mt cú ng dn gn vi on gia ca tỏ trng dch men v dch
mt vo tỏ trng nhm tiờu húa trit thc n thnh nhng phõn t nh, n
gin nht ri chuyn xung on tip theo ca rut non. Cỏc enzim tiờu húa ca
dch ty bao gm: Tripsin, carboxypeptidaza, amilaza, mantaza, lipaza. Trong
dch rut cha cỏc men: proteolyse, aminolytic, lypolytic v enterokinaza.
Tiờu húa rut gi: Rut gi gia cm khụng phỏt trin, thc cht l on
trc trng ngn, u trờn trc trng cú 2 manh trng (rut tt) rt phỏt trin, ti
ú cht x c tiờu húa nh vi sinh vt nhng mc tiờu húa thp, khong
10-30%. Cht x c tiờu húa thnh ng glucoza v c hp thu vo mỏu,
c bit rut gi cũn cú s tng hp vitamin nhúm B nh h vi sinh vt. Cỏc
(Hồ x Lương Phượng)
Gà trống F
1
(Hồ x Lương Phượng) trưởng thành có thân hình chắc khoẻ,
cân đối, đẹp mắt, đùi và bàn chân tương đối dài, các ngón chân tách dời nhau, da
chân và mỏ có màu vàng, cổ dài vừa phải, lông có màu nâu sẫm là chủ yếu,
chiếm 61,7%, màu nâu đen chiếm 4,26%, màu nâu vàng chiếm 34,04%. Ở gà
trống có ba loại mào, trong đó loại mào xuýt chiếm 21,28%, mào đơn (mào cờ)
chiếm 36,17% còn lại là mào trung gian (mào kép) chiếm 42,55%.
Gà mái trưởng thành có chiều cao vừa phải, thân hình cân đối, da chân và
mỏ có màu vàng, các ngón chân tách dời nhau. Lông của gà lai gồm có màu nâu
nhạt, chiếm 25,45%, màu nâu sọc chiếm 69% còn lại là màu đen hoa chiếm
5,55%. Ở gà mái tỷ lệ gà có mào xuýt chiếm 36,36%, gà có mào đơn chiếm
Khoá luận tốt nghiệp Cao Thị Yến Chi CNA K49
36
30,9%, cũn li l mo trung gian, chim 38,18%.
G F
1
(H x Lng Phng) nuụi n 12 tun tui t khi lng c th
trung bỡnh t 1,9 2 kg, tiờu tn thc n cho mt kg tng trng trung bỡnh l
2,56kg [3]
2.1.3. Dinh dng v thc n ca gia cm
2.1.3.1. Nhu cu dinh dng ca gia cm
2.1.3.1.1. Dinh dng nng lng
Nng lng khụng phi l mt cht dinh dng song nú cú thuc tớnh ca
cht dinh dng sn sinh ra nng lng khi b oxi hoỏ trong quỏ trỡnh trao i
cht. Khi lp khu phn cho gia cm, mc nng lng thng c chn l
im xut phỏt, lm c s lp hu ht cỏc nng dinh dng trong khu
phn. iu ny c da trờn khỏi nim cho rng gia cm cú khuynh hng n
ti khi tho món nhu cu nng lng ca chỳng, gi nh rng khu phn n cú
0,75
+ 2,5#w
ME (giai on trờn 4 tun tui) = 128,5w
0,75
+ 3,8#w
Trong ú: ME: nhu cu nng lng cho 1 g tớnh bng kcal
W
0,75
: th trng trao i tớnh bng gam
#W: tng trng hng ngy tớnh bng gam
Theo Bựi c Lng v Nguyn Thanh Sn (2001), tiờu chun nng lng
trong khu phn n ca g tht cụng nghip (nht hon ton) cỏc giai on 0 -
3 tun tui, 4 - 5 tun tui, 6 tun tui n git tht tng ng l 2900; 2950;
3150kcal/kg thc n [15].
2.1.3.1.2. Nhu cu protein
Nhu cu v protein thc ra l nhu cu i vi cỏc aminoaxit cú trong
protein khu phn, c bit l cỏc aminoaxit khụng thay th (axit amin thit
yu). Cỏc aminoaxit thu c t protein khu phn c gia cm dựng hon
thnh nhiu chc nng khỏc nhau nh cu to nờn cỏc mụ t bo cu trỳc v bo
v nh da, lụng v, xng, gõn, cỏc mụ mm nh ph tng v c
Protein cú th liờn tc c tng hp v phõn hu, vỡ vy gia cm cn n
vo y mt lng protein khu phn. Nu protein (aminoaxit) khu phn
khụng , tng trng v sinh sn s gim hoc ngng, c th s rỳt protein t
Kho¸ luËn tèt nghiÖp Cao ThÞ YÕn Chi – CNA – K49
38
các mô tế bào cơ thể kém sức sống để duy trì chức năng của các mô, tế bào có
sức sống hơn.
Trong thành phần protein của gà có 26 axit amin, trong đó có 15 axit amin
tự tổng hợp, còn lại 10-11 axit amin khác phải cung cấp như: Methionine,
Phenylalanine, Lysine, Threonine, Triptophane, Valine, Leuxine, Isoleuxine,
Trong iu kin thi tit mỏt 24
o
C, tiờu chn protein trong nuụi g broiler
hn hp trng mỏi cỏc giai on 0 - 3 tun tui, 4 - 5 tun tui, 6 tun n xut
tht tng ng l 23 - 24%; 20 -2 1%; 18 - 19% [19]. Nhu cu protein cng ph
thuc vo loi, ging, dũng gia cm, sc sn xut, nhit mụi trng, mc
nng lng ca khu phn. i vi g Tam Hong dũng 882 nuụi nht cn c
n khu phn cú 19%; 18%; 17% potein ng vi cỏc giai on 0 - 4; 5 - 8 v 9
tun tui n xut chung [29]. G kabir nuụi ti xớ nghip ging Chõu Thnh
s dng 21,5% protein v 19% protein cho cỏc giai on 0 - 4 tun tui v 5 - 9
tun tui [8].
2.1.3.1.3. Nhu cu vitamin
Vitamin l nhúm cht hu c cú phõn t nh bộ t nhiờn hay tng hp,
chỳng l nhng cht xỳc tỏc sinh hc cú vai trũ c bit quan trng trong cỏc
hot ng sinh lý v trao i cht ca ng vt. chỳng tham gia vo cỏc quỏ
trỡnh xỳc tỏc sinh hc trong trao i cỏc cht dinh dng: protein, gluxit, lipit,
khoỏng, cỏc hot ng ca cỏc hormone, enzim. Ngoi ra chỳng cng tham gia
vo thnh phn cu to ca mt s ln cỏc hormone v cỏc ezim trong c th. Vỡ
th m lng vitamin rt ớt nhng cng lm cho cỏc chuyn hoỏ trong c th cú
th t tc phn ng nhanh v hiu qu phn ng s dng cao. Vic tha hay
thiu bt c mt loi vitamin no cng u nh hng n quỏ trỡnh sinh trng
v sinh sn ca gia cm, thm chớ cú vitamin ch thiu cú mt chỳt cng lm
gim sc sn xut ca chỳng.
Vitamin bao gm cú 2 nhúm: nhúm vitamin tan trong nc gm vitamin
nhúm B v vitamin C; nhúm vitamin tan trong du m gm vitamin A, D, E, K
[16] [20].
Kho¸ luËn tèt nghiÖp Cao ThÞ YÕn Chi – CNA – K49
40
2.1.3.1.4. Nhu cầu các chất khoáng
Các chất khoáng giữ một vai trò quan trọng trong cơ thể gia cầm. Nó có
gà đang sinh trưởng được tính theo tỉ lệ nước và thức ăn (nước/thức ăn) trong
nhiệt độ tới hạn là 2/1, đối với gà đẻ trứng tỉ lệ này là 3/1 [9] [20]. Khi nhiệt độ
môi trường tăng thì lượng nước uống cũng thay đổi, với gà thịt, nước tiêu thụ
tăng lên 7% cho mỗi 1
0
C trên 21
0
C [9], và khi nhiệt độ của nước ở 32
0
C làm cho
gà giảm uống nước, gà không uống nước khi nhiệt độ của nước là 45
0
C [6].
Nước hàng ngày của gia cầm được cung cấp từ 3 nguồn là nước nội sinh,
nước trong thức ăn và nước uống. Nước cung cấp hàng ngày cho gia cầm phải
đảm bảo tiêu chuẩn vệ sinh, đáp ứng nhu cầu cho mỗi loại gia cầm theo lứa tuổi
và khả năng sản xuất [20]. Tốt nhất là cho gia cầm tiếp xúc thường xuyên với
nước và uống nước tự do.
2.1.3.2.Thức ăn trong chăn nuôi gia cầm
2.1.3.2.1.Nhóm thức ăn giàu năng lượng
Nhóm thức ăn cung cấp năng lượng bao gồm một số loại củ (sắn, khoai),
hạt ngũ cốc và các phụ phẩm, các chất dầu mỡ. Hạt ngũ cốc gồm lúa, ngô, lúa
mì, cao lương… và phụ phẩm của hạt ngũ cốc bao gồm cám, tấm… là các loại
thức ăn giàu tinh bột và giàu năng lượng. Đây là loại thức ăn nghèo Lysine,
Triptophane và Methionyne. Các loại hạt ngũ cốc thường nghèo canxi, 1/3 - 2/3
Photpho của chúng thường ở dạng axit phitic nên khả năng sử dụng của gia cầm
rất kém. Trong các loại hạt ngũ cốc thì ngô là loại quan trọng nhất đối với gia
cầm [16] [20].
2.1.2.2.2.Nhóm thức ăn cung cấp protein
Thức ăn giàu protein nguồn gốc thực vật: chủ yếu là các loại hạt họ đậu và
axitamin tng hp, m hoc mt s cht cú hot tớnh kớch thớch sinh trng,
phũng bnh, k c nhng cht to mu sn phm tht, trng
Cỏc loi thc n b sung bao gm: Thc n b sung nng lng, b sung
protein, b sung vitamin, b sung khoỏng, b sung men sinh vt v ezim, b
sung khỏng sinh, b sung cht hu c v hoỏ cht to mu, mựi [16].
2.1.2.2.4.Hiu qu s dng thc n v cỏc yu t nh hng n hiu qu s
dng thc n
Trong chn nuụi gia cm, hiu qu s dng thc n chớnh l mc tiờu tn
thc n cho mt n v sn phm [17]. Hiu qu s dng thc n i vi g
Kho¸ luËn tèt nghiÖp Cao ThÞ YÕn Chi – CNA – K49
43
broiler được tính bằng tiêu tốn thức ăn cho một kg tăng khối lượng. Hiệu quả sử
dụng thức ăn là một chỉ tiêu quan trọng, nó liên quan đến hiệu quả chăn nuôi và
đó cũng chính là mối quan tâm lớn nhất của các nhà chăn nuôi.
Theo Chambers và cộng sự (1984), hệ số tương quan di truyền giữa khối
lượng cơ thể và tốc độ tăng trọng với lượng thức ăn thu nhận là rất cao (0,5-0,9),
còn hệ số tương quan di truyền giữa tốc độ sinh trưởng và hiệu quả sử dụng thức
ăn có giá trị âm và biến động từ -0,2 đến -0,8 [31].
Hiệu quả sử dụng thức ăn chịu ảnh hưởng lớn bởi các yếu tố: loài, giống,
dòng, cá thể, kĩ thuật nhân giống. Tiêu tốn thức ăn cho một kg tăng khối lượng
của các giống gà Tam Hoàng; Lương Phượng hoa lần lượt là 2,8 – 3 kg; 2,4 -
2,6kg [17]. Tuổi gia cầm cũng ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng thức ăn, khi gia
cầm còn non, hiệu quả sử dụng thức ăn cũng tốt hơn. Theo Nguyễn Đăng Vang
& cs (1999), tiêu tốn thức ăn cho gà Hồ x Tam Hoàng, Mía x Tam Hoàng và
Tàu Vàng x Tam Hoàng ở 1 - 4 tuần tuổi lần lượt là 1,11kg, 1,08kg, 1,21kg; ở 1
- 15 tuần tuổi lần lượt là 3,12kg, 3,21kg, 3,48kg [27].
Kĩ thuật chế biến thức ăn và tính chất của khẩu phần cũng ảnh hưởng đến
hiệu quả sử dụng thức ăn. Kết quả nghiên cứu của Ngưyễn Thị Mai (1994) đã
kết luận rằng sử dụng mức năng lượng và protein thích hợp trong khẩu phần sẽ
làm tăng hiệu quả sử dụng thức ăn của gà broiler. Cũng theo Nguyễn Thị Mai
0
C, 15 – 21 ngày tuổi là 29
0
C.
Chuồng úm gà 1 ngày tuổi phải được che kín, khoảng 3 ngày sau cần phải
thay đổi không khí với tốc độ 0,2 m/giây. Cường độ chiếu sáng cho gia cầm non
là 24/24 giờ từ 1 – 3 tuần tuổi, từ 4 – 6 tuần tuổi giảm dần xuống còn 16
giờ/ngày.
* Kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng gà
Giai đoạn gà úm và sau úm cần cho gà uống nước và ăn tự do. Nước cung
cấp cho gà phải là nước sạch, và được thay thường xuyên. Thức ăn cho gà phải
đảm bảo chất lượng, không ôi thiu hay bị mốc. Các máng ăn và máng uống phải
được phân phối đều khắp chuồng, tránh đặt trực tiếp dưới bóng điện.
Thường xuyên quan sát đàn gà, sớm phát hiện những dấu hiệu của dịch
bệnh, những triệu chứng bất thường như gà bỏ ăn, mệt mỏi, màu sắc của phân
gà… để có biện pháp xử lý kịp thời.
2.1.4. Sức sản xuất thịt của gia cầm và các yếu tố ảnh hưởng
Sức sản xuất thịt là đặc điểm kinh tế khá quan trọng trong ngành chăn nuôi
gia cầm. Nó được biểu hiện bằng khối lượng và chất lượng thịt ở tuổi giết thịt
của gia cầm.
Mức độ và hiệu quả kinh tế của sức sản xuất thịt của gia cầm được đánh giá
Khoá luận tốt nghiệp Cao Thị Yến Chi CNA K49
45
bng tc sinh trng ca con non, t l nuụi sng, hiu qu s dng thc n
v chi phớ thc n cho mt kg tng khi lngnhng ch tiờu tng hp cui
cựng m ngi ta quan tõm l sn lng tht c sn xut ra t mt g mỏi
trong mt nm.
Nhng ch tiờu ỏnh giỏ sc sn xut tht ca gia cm bao gm: Ch tiờu
ỏnh giỏ sc sn xut tht gia cm sng (gm: khi lng c th gia cm, tc
mc lụng, ngoi hỡnh v s phỏt trin ca c ngc, tiờu tn v chi phớ thc n
nhỏ hơn của gia súc, vì thế mà thịt gia cầm mềm hơn thịt của các loài gia súc.
Cơ trắng mềm hơn cơ đỏ do các sợi cơ mỏng hơn và tổ chức liên kết ít hơn.
Nhưng cơ đỏ lại ướt hơn cơ trắng do khẳ năng chứa dịch thịt trong cơ tốt hơn.
Độ mềm và độ ướt của thịt phụ thuộc vào loài, giống, tuổi, tính biệt, điều kiện
nuôi dưỡng, thức ăn…[10] [20].
Nói chung phẩm chất thịt chịu ảnh hưởng bởi các nhân tố như sau: các yếu tố
di truyền như dòng, giống, giới tính, tuổi, khối lượng, và các yếu tố môi trường
như chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng, điều kiện khí hậu, thời gian nghỉ ngơi trước
khi giết mổ, cách giết thịt, phương pháp bảo quản thịt v.v [2]. Theo nghiên cứu
của S. M. Lonergan & cs thì độ sáng của thịt lườn gà ở các giống gà broiler, gà
Leghorn, gà Fayoumi lần lượt là 43,34%; 41,12%; 41,31%; tỷ lệ mất nước sau
chế biến của các giống gà này lần lượt là 11,47%; 16,14%; 16,26% [43].
2.1.6. Một số đặc điểm của giun Quế (Perionyx excavatus)
*Nguồn gốc
Giun Perionyx excavatus ở Việt Nam được gọi là giun Quế hay giun đỏ. Ở
một số nước, người ta gọi là Blue worm, Idian blue, Malaisia blue. Chúng
thường sống trên mặt đất, nơi ẩm ướt, có nhiều phân rác mục. Giun perionyx
excavatus được tìm thấy ở Ấn Độ, Ceylon, Úc, Newzealan và ở Việt Nam.
Giun Quế là một loại giun đất, thuộc ngành giun đốt (Annelida), trong lớp
giun ít tơ (Oligochaeta) [5]. Hiện nay trên thế giới có khoảng 2500 loài, Mehrotra
(1997) cho rằng có 3920 loài [39], Lê Hồng Mận cho rằng trên thế giới có đến
8000 giống giun, trong đó ở nước ta đã phát hiện trên 100 giống [46].
* Hình thái cấu tạo
Giun Quế có hình thon nhỏ như chiếc tăm, hai đầu nhọn, thân hơi dẹt, bên
ngoai cơ thể có một lớp kitin mỏng bao phủ, thân giun có màu mận chín ở lưng, hay
Kho¸ luËn tèt nghiÖp Cao ThÞ YÕn Chi – CNA – K49
47
màu ánh bạc, khi đem ra ngoài ánh sáng thì cơ thể phát dạ quang màu xanh tím.
Cơ thể giun Quế dài khoảng 10-15 cm, có 120 đốt, trên mỗi đốt có một
vành tơ, các cơ quan bên trong như hệ tuần hoàn, hệ thần kinh, hệ bài tiết… đều
ca giun Qu phi khụ nh sau : vt cht khụ chim 93,62%, protein thụ chim
59,9%, nng lng thụ chim 402,09 kcal/100g, bộo thụ chim 7,43%, canxi
chim 0,11%, pht pho chim 0,118% [1].
Theo kt qu phõn tớch giỏ tr dinh dng giun Qu ụng khụ (ti phũng
phõn tớch thuc b mụn Dinh dng- Vi sinh- ng c, khoa Chn nuụi- Thu
sn)ca Nguyn ỡnh Linh (2006), vt cht khụ ca giun Qu l 20,69%,
Protein thụ l 66,14%, lipit thụ l 7,4%, khoỏng tng s l 13,23%.
Theo Trn Th Dõn, H Th Qunh Nh, Nguyn Th Hng Võn (2006), giỏ
tr dinh dng ca giun Qu trc khi ch bin nh sau : vt cht khụ
chim19,24%, Protein thụ chim 13,41%, bộo chim 1,17%, khoỏng tng s
chim 1,48%. Sau khi phi, vt cht khụ ca giun Qu l 88,68%, protein l
57,14%, bộo l 4,89%, khoỏng tng s l 7,9%. Sau khi rang, vt cht khụ ca
giun Qu l 91,69%, protein l 41,07%, bộo l 4,24%, khoỏng tng s chim
36,88% [4].
Nh vy, giun Qu rt giu cỏc cht dinh dng, phự hp lm thc n
chn nuụi, c bit l chn nuụi gia cm.
2.2. Cỏc cụng trỡnh nghiờn cu trong v ngoi nc
2.2.1. Cỏc nghiờn cu trong nc
Theo Phan T Diờn, inh ng Minh, Nguyn Lõn Hựng (1998), dựng
giun Qu cho g tht n vi s lng 10-15 con/g/ngy l thớch hp [5].
Theo Nguyn Vn By (2000), s dng giun t ti loi Perionyx
excavatus b sung cho g th vn u cho kt qu tng trng v t l kh
quan. Nu l g tht th vn thỡ cho thõn tht chc, thm ngon, cũn g sn
xut trng cú t l lũng /lũng trng khụng thay i. c bit i vi g n
thc n cú b sung thờm giun ti thỡ bc u ghi nhn c hm lng
cholesterol trong trng khụng ỏng k. Cho g tht th vn v g th vn
n thờm giun ti 7-10g/con/ngy u tit kim c mt phn thc n ỏng k
khi nuụi g vi cỏm viờn hoc vi cỏm nụng h t trn [1].
Theo Lờ Hng Mn (2004), cú th cho gia cm n giun ti sau khi thu
Kho¸ luËn tèt nghiÖp Cao ThÞ YÕn Chi – CNA – K49
Kho¸ luËn tèt nghiÖp Cao ThÞ YÕn Chi – CNA – K49
50
Những thí nghiệm khác trên gà ở Trung Quốc cho thấy giun tươi cắt vụn
có khả năng thay thế bột cá và cải thiện được năng suất [37].
Một số thí nghiệm ở Ấn Độ (Kale and al. 1982) và Philippine (Guerro,
1983) cho rằng giun Quế biến đổi thành công phân gia súc, tạo ra nguồn nguyên
liệu protein dùng làm thức ăn bổ sung cho gia cầm [35] [32].
Trong thí nghiệm dùng thức ăn tự trộn có bổ sung 300g giun đất tươi cung
cấp cho 27 gà (5 tuần tuổi) trong suốt 11 tuần, Vorsters (1995) kết luận rằng
giống gà địa phương tiêu thụ dễ dàng một lượng khá lớn giun đất tươi, có thể sử
dụng giun đất để thay thế cho đậu nành, bột cá trong thức ăn hỗn hợp có chất
lượng thấp mà giá thành rẻ hơn [44]
Louis (1985) cho rằng có thể sử dụng giun đất làm thức ăn nuôi chim và
dùng một lượng nhỏ giun đất cho gia cầm để han chế bệnh thiếu dinh dưỡng,
làm giảm tỷ lệ chết [38].
Anthony làm nhiều thí nghiệm và xác định rằng giun đất là thức ăn thích
hợp để nuôi gà, nó đóng vai trò là nguồn protein bổ sung [30].
R.A.Dynes (2003) cho rằng bột giun có thể thay thế bột cá trong khẩu phần
của gia cầm và thuỷ sản với tỷ lệ 25-50% là thích hợp [42].
Reed và Enter prices (2006) cho rằng bột giun làm tăng khả năng tăng
trưởng, phát triển cơ, tăng trọng, bồi đắp lượng protein và axitamin thiếu hụt, là
thức ăn hấp dẫn hơn đối với vật nuôi [41].
Khi cho vịt con từ 1 đến 28 ngày tuổi ăn giun đất tươi cùng với cám hỗn
hợp đơn giản, rẻ tiền có 13% protein thô đã đạt khối lượng sống lúc 28 ngày tuổi
là 668,6 g/vịt/lô thí nghiệm, trong khi ở lô đối chứng cho ăn cám hỗn hợp có giá
cao, có 19,6% protein nhưng chỉ đạt được 468,6g/vit/lô đối chứng. Mặc dù cám
hỗn hợp của lô thí nghiệm nghèo dinh dưỡng hơn nhưng khi bổ sung giun tươi
đã làm cho giá thành sản xuất vịt thấp hơn. Rõ ràng giun đất đã tham gia trong
vai trò làm tăng trưởng có lợi trên vịt [44].
Như vậy cũng đã có một số công trình nghiên cứu về việc sử dụng giun
- Ảnh hưởng của việc bổ sung giun Quế vào khẩu phần ăn đến khả năng
sinh trưởng của gà.
- Ảnh hưởng của việc bổ sung giun Quế vào khẩu phần ăn đến khả năng
thu nhận thức ăn và hiệu quả sử dụng thức ăn của gà.
- Ảnh hưởng của việc bổ sung giun Quế vào khẩu phần ăn đến tỷ lệ nuôi
sống của gà.
- Ảnh hưởng của việc bổ sung giun Quế vào khẩu phần ăn đến năng suất
(tỷ lệ thân thịt, tỷ lệ thịt đùi, tỷ lệ thịt ngực…) và chất lượng thịt của gà (pH,
màu sắc, độ mất nước của thịt).
3.3. Phương pháp nghiên cứu
3.3.1. Phương pháp bố trí thí nghiệm
Thí nghiệm được bố trí theo kiểu hoàn toàn ngẫu nhiên theo phương pháp
phân lô so sánh với 4 lô: 1 lô đối chứng và 3 lô thí nghiệm. Mỗi lô gồm 37 con,
tổng số 4 lô có 148 con. Các lô đảm bảo đồng đều về tỷ lệ trống mái, về giống,
về chế độ chăm sóc nuôi dưỡng, cũng như quy trình vệ sinh thú y, phòng bệnh
Lô thí nghiệm
Lô ĐC
Lô I
Lô II
Lô 3 Lô III
Mức bổ sung giun
(% vck khẩu phần)
0 1 1.5 2
*Phương pháp bổ sung giun:
Giun được bổ sung ở dạng tươi sống cho gà, bằng cách cắt nhỏ và trộn đều vào
Kho¸ luËn tèt nghiÖp Cao ThÞ YÕn Chi – CNA – K49
53
một lượng thức ăn vừa phải và rải đều vào các máng ăn cho gà ăn tự do. Bổ
sung giun cho gà ăn 2 lần/ngày vào buổi sáng sớm và chiều mát.
Kho¸ luËn tèt nghiÖp Cao ThÞ YÕn Chi – CNA – K49
54
ăn theo tiêu chuẩn dinh dưỡng cho gà Lương Phượng của trung tâm nghiên cứu
gia cầm Thụy Phương, Viện chăn nuôi (bảng phụ lục). Gà con đem về được úm
trong 4 tuần. Sau đó, tiến hành phân lô và sử dụng giun để bổ sung vào khẩu
phần ăn của các lô thí nghiệm. Gà được cho ăn tự do, nước uống được cung cấp
thường xuyên. Tiến hành tiêm phòng cho gà theo đúng lịch (bảng phụ lục).
3.2. Phương pháp xác định các chỉ tiêu nghiên cứu
3.2.1. Sinh trưởng tuyệt đối và sinh trưởng tương đối
Gà được cân khối lượng ở mỗi tuần tuổi vào ngày đầu tuần bằng cân điện
tử và cân đồng hồ có độ chính xác 0,01g và 10g. Cân từng con vào buổi sáng,
trước lúc cho gà ăn. Như vậy ta sẽ tính được tốc độ sinh trưởng tuyệt đối và sinh
trưởng tương đối của đàn gà theo công thức sau:
- Sinh trưởng tuyệt đối:
V
1
– V
0
A =
T
1
– T
0
Trong đó : A là sinh trưởng tuyệt đối (g/con/ngày)
V1 là khối lượng gà cân ở thời điểm T1 (g)
V0 là khối lượng gà cân ở thời điểm T0 (g)
-Sinh trưởng tương đối:
V
1