ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
o0o
BÙI TIẾN DŨNG Tên đề tài:
ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG SỬ DỤNG ĐẤT VÀ ĐỊNH HƯỚNG QUY
HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT ĐẾN NĂM 2020 TẠI THỊ TRẤN VIỆT LÂM,
HUYỆN VỊ XUYÊN, TỈNH HÀ GIANG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Quản lý đất đai
Lớp : LTK9-QLDD
Khoa : Quản Lý Tài Nguyên
Khóa học : 2013 – 2015
Giảng viên hướng dẫn: ThS. Nguyễn Đình Thi Thái Nguyên, năm 2014
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BCN
:
Ban chủ nhiệm
CHXHCN
:
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
DT
:
Diện tích
DTTN
:
Diện tích tự nhiên
ĐVT
:
Quyền sử dụng đất
SL
:
Sản lượng
SXKD
:
Sản xuất kinh doanh
UBND
:
Ủy ban nhân dân
MỤC LỤC
PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1.1. Tính cấp thiết của đề tài 1
3.2.2. Thời gian nghiên cứu đề tài 17
3.3. Nội dung nghiên cứu 17
3.3.1. Điều tra, đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội 17
3.3.2. Tình hình quản lý, sử dụng và biến động đất đai 18
3.3.3 Định hướng quy hoạch sử dụng đất của thị trấn Việt Lâm tới năm 2020
18
3.4. Phương pháp nghiên cứu 18
PHẦN IV KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 19
4. 1 Điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên và cảnh quan môi trường 19
4.1.1 Vị trí địa lý 19
4.1.2. Địa hình, địa mạo 19
4.1.3. Khí hậu 20
4.1.4. Thủy văn 20
4.1.5. Các nguồn tài nguyên 21
4.1.6. Cảnh quan môi trường 22
4.1.7. Thực trạng môi trường 22
4.1.8. Đánh giá chung điều kiện tự nhiên, tài nguyên và cảnh quan môi trường
23
4.2. Điều kiện kinh tế – xã hội 24
4.2.1. Tình hình phát triển chung 24
4.2.2. Thực trạng phát triển các ngành kinh tế 25
4.3 Dân số, lao động và việc làm 28
4.3.1. Dân số 28
4.4 Thực trạng phát triển cơ sở hạ tầng xã hội 30
4.4.1. Hệ thống giao thông: 30
4.4.2. Cấp nước 30
4.4.3 Cấp điện và chiếu sáng đô thị 30
1
PHẦN I
ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
- Đất đai là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá, không thể tái tạo, tư liệu sản
xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống. Ngày nay
khi mà xã hội phát triển thì nhu cầu sử dụng đất ngày càng cao. Trong bất kỳ hoạt
động nào của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc, đất đai luôn là nguồn lực, là một yếu tố
cấu thành nên sự tồn tại và phát triển của mỗi quốc gia hay dân tộc đó.
Theo FAO “Đất đai là cội nguồn dự trữ tài nguyên có giá trị nhất của con
nguời, hơn thế nữa nó là phương tiện sống mà thiếu nó người ta không thể tồn tại,
duy trì và phát triển sự sống được”.
Đất đai có tính chất đặc trưng khiến nó không giống bất kỳ một tư liệu sản
xuất nào. Đất đai gồm các yếu tố tự nhiên và chịu sự tác động của các yếu tố tâm lý,
kinh tế, xã hội và ý thức sử dụng đất của mỗi con người. Đất đai có giới hạn về
không gian nhưng vô hạn về thời gian sử dụng.
Nhu cầu tăng trưởng kinh tế xã hội phát triển mạnh, cùng với sự bùng nổ dân
số đã làm cho quan hệ giữa con người và đất ngày càng trở nên căng thẳng, những
sai lầm liên tục của con người trong quá trình sử dụng đất (có ý thức hoặc vô ý
thức) dẫn đến huỷ hoại môi trường đất, một số chức năng nào đó của đất bị yếu đi.
Vấn đề sử dụng đất ngày càng trở nên quan trọng và mang tính toàn cầu.
Việt Nam đang trong giai đoạn phát triển, nên nhu cầu về đất đai là rất lớn.
Do đó để quản lý nắm chắc được quỹ đất, đảm bảo được nhu cầu về đất đai cho các
ngành, các lĩnh vực, nâng cao hiệu quả sử dụng đất, Nhà nước đã ban hành các văn
bản quy định về công tác quản lý nhà nước về đất đai, trong đó có quy hoạch sử
dụng đất, đây là một trong những nội dung quan trọng.
Được sự đồng ý của BCN Khoa Quản lý Tài nguyên - trường Đại học Nông
Lâm Thái Nguyên, cùng với sự hướng dẫn của giảng viên – Ths. Nguyễn Đình
Thi, tôi thực hiện đề tài “Đánh giá hiện trạng sử dụng đất và định hướng quy hoạch
sử dụng đất đến năm 2020 tại Thị trấn Việt Lâm, huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang”. 3
1.2. Mục đích và yêu cầu nghiên cứu
1.2.1 Mục đích nghiên cứu
- Đánh giá được hiện trạng sử dụng đất và từ đó có định hướng chiến lược trong
quản lý và sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên đất của huyện đáp ứng nhu cầu phát triển
kinh tế - xã hội của địa phương trong những năm trước mắt và lâu dài.
- Quản lý và tổ chức sử dụng quỹ đất hợp lý, tiết kiệm có hiệu quả đáp ứng
nhu cầu sử dụng đất hiện tại và phát triển bền vững trên cơ sở khai thác hợp lý lợi thế
tự nhiên của huyện. Từng bước chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất đồng bộ và phù hợp
với quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động, cơ cấu đầu tư tạo ra những tiền đề hợp lý
cho quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế toàn vùng theo hướng công nghiệp hoá, hiện
đại hoá.
- Phân bổ lại quỹ đất cho các mục đích sử dụng, phù hợp với định hướng phát
triển lâu dài, đồng thời đảm bảo an ninh lương thực.
- Định hướng cho việc xây dựng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của cấp xã, tạo
cơ sở pháp lý cho việc giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất, thu hồi đất,
lập hồ sơ địa chính và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
- Tạo điều kiện cho việc thu hút các dự án đầu tư, hình thành các trung tâm
kinh tế, văn hoá - xã hội, góp phần thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông
nghiệp và nông thôn theo chiến lược phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2020 của
huyện và tỉnh.
- Tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ quan quản lý nhà nước, nhất là UBND
huyện nắm chắc quỹ đất phục vụ tốt cho công tác quản lý Nhà nước về đất đai trên
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BCN
:
Ban chủ nhiệm
CHXHCN
:
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
DT
:
Diện tích
:
Năng suất
QHSDĐ
:
Quyền hạn sử dụng đất
QSDĐ
:
Quyền sử dụng đất
SL
:
Sản lượng
SXKD
:
Sản xuất kinh doanh
UBND
:
Ủy ban nhân dân
cao, xã hội ngày càng phát triển thi chức năng của đất đai ngày càng được mở rộng
kéo theo đó là quá trình sử dụng đất cũng phức tạp hơn. Vì vậy đất đai không chỉ
cung cấp cho con người các tư liệu vật chất để sinh tồn mà còn cung cấp các điều
kiện để hưởng thụ và đáp ứng các nhu cầu khác của con người.
Tuy nhiên khi nền kinh tế xã hội càng phát triển mạnh thì một số chức năng
của đất đai đã bị suy yếu đi do nhận thức sai lầm của con người trong việc sử dụng
đất cùng với sự tác động của thiên nhiên. Do vậy trong quá trình sản xuất, các chức
năng của đất cần phải được nâng cao theo hướng đa dạng hoá, nhiều tầng nấc để có
thể duy trì và gìn giữ lâu dài cho các thế hệ sau. 7
2.1.3. Khái niệm quy hoạch sử dụng đất
Quy hoạch sử dụng đất là hệ thống kinh tế - xã hội có tính đặc thù. Đây là
một hoạt động vừa mang tính khoa học, vừa mang tính pháp lý của một hệ thống
các biện pháp kỹ thuật, kinh tế, xã hội được xử lý bằng các phương pháp tổng hợp
về sự phân bố địa lý của điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội, có những đặc trưng của
tính phân dị giữa các cấp vùng lãnh thổ theo quan điểm tiếp cận hệ thống để hình
thành các phương án tổ chức lại việc sử dụng đất theo pháp luật của Nhà nước. Bản
thân nó được coi là hệ thống các giải pháp định vị cụ thể của tổ chức phát triển kinh
tế xã hội trên một vùng lãnh thổ nhất định, cụ thể là đáp ứng nhu cầu mặt bằng sử
dụng đất hiện tại và tương lai cho các ngành, các lĩnh vực cũng như nhu cầu sinh
hoạt của mỗi thành viên trong xã hội một cách tiết kiệm, khoa học, hợp lý và có
hiệu quả cao. Quy hoạch sử dụng đất là một hoạt động vừa mang tính kỹ thuật, kinh
tế vừa mang tính pháp chế.
Biểu hiện của tính kỹ thuật ở chỗ, đất đai được đo đạc, vẽ thành bản đồ, tính
toán và thống kê diện tích, thiết kế phân chia thành từng thửa đất.
Về mặt pháp lý, đất đai được Nhà nước giao cho tổ chức, hộ gia đình, cá
nhân sử dụng vào các mục đích khác nhau. Nhà nước ban hành các văn bản pháp
2.2. Cơ sở pháp lý về quy hoạch sử dụng đất
2.2.1. Cơ sở pháp lý về quy hoạch sử dụng đất đai.
Việc sử dụng đất đai hợp lý có liên quan chặt chẽ tới hoạt động của từng
ngành và từng lĩnh vực, quyết định đến hiệu quả sản xuất toàn xã hội cũng như vận
mệnh quốc gia. Chính vì vậy, Đảng và nhà nước ta luôn coi đây là vấn đề cấp thiết
được quan tâm hàng đầu.
Hiến pháp nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 tại chương II
Điều 18 nêu rõ : “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý,
Nhà nước thống nhất quản lý đất đai theo quy hoạch và pháp luật, đảm bảo sử dụng
đúng mục đích và có hiệu quả”. Điều này đã khẳng định tính pháp chế cao của nhà
nước ta trong việc quy hoạch và sử dụng đất đai.
Luật đất đai năm 2003 tại Điều 23 quy định rõ nội dung về quy hoạch, kế
hoạch sử dụng đất đai, Điều 25 quy định cả bốn cấp hành chính trong cả nước phải
lập quy hoạch sử dụng đất, Điều 26 quy định về thẩm quyền quyết định, xét duyệt
quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. 9
Chỉ thị số 05/CT-TTG ngày 29 tháng 2 năm 2004 của thủ tướng Chính phủ
về việc thi hành Luật Đất đai 2003.
Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29 tháng 10 năm 2004 của Chính phủ về
việc thi hành Luật Đất đai năm 2003.
Thông tư 30/2004/TT-BTNMT ngày 01/11/2004 của Bộ tài nguyên và Môi
trường về việc hướng dẫn lập, điều chỉnh và thẩm định quy hoạch, kế hoạch sử
dụng đất.
Các nghị định: số 80/2006/NĐ-CP ngày 09 tháng 8 năm 2007 và số
21/2008/NĐ-CP ngày 28 tháng 02 năm 2008 của Chính phủ về việc thi hành Luật
Bảo vệ môi trường.
Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13 tháng 8 năm 2009 của Chính phủ quy
Bảng 4. 4 Tình hình dân số Thị trấn Việt Lâm năm 2013 29
Bảng 4.6. Hiện trạng sử dụng đất năm 2013 32
Bảng 4.7. Cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp năm 2013 32
Bảng 4.8. Cơ cấu sử dụng đất phi nông nghiệp năm 2013 33
Bảng 4.9. Hiện trạng sử dụng đất chuyên dùng 34
Bảng 4.10. Biến động đất đai thị trấn Việt Lâm giai đoạn 2010 - 2013 39
Bảng 4.11. Dự kiến cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp 2020 45
Bảng 4.12. Cơ cấu sử dụng đất phi nông nghiệp 2020 của thị trấn Việt Lâm - Huyện
Vị Xuyên 48
Bảng 4.13. Dự kiến cơ cấu sử dụng đất chưa sử dụng năm 2020 của Thị trấn Việt
Lâm 48 11
2.3. Các loại hình quy hoạch sử dụng đất
Hệ thống quy hoạch sử dụng đất đai có các loại hình là: Quy hoạch phân bổ
sử dụng đất đai và quy hoạch sử dụng đất đai.
* Quy hoạch phân bổ sử dụng đất đai: mang tính định hướng, loại hình quy
hoạch này được chia ra làm quy hoạch phân bổ sử dụng đất đai theo lãnh thổ hành
chính và quy hoạch phân bổ sử dụng đất đai theo ngành.
+ Quy hoạch phân bổ sử dụng đất đai theo lãnh thổ ở các dạng sau:
- Quy hoạch phân bổ sử dụng đất đai cả nước.
- Quy hoạch phân bổ sử dụng đất đai cấp tỉnh.
- Quy hoạch phân bổ sử dụng đất đai cấp huyện.
- Quy hoạch phân bổ sử dụng đất đai cấp xã.
+ Quy hoạch phân bổ sử dụng đất đai theo ngành gồm: Quy hoạch đất nông
nghiệp, lâm nghiệp, đất khu dân cư và đất chuyên dùng.
* Quy hoạch sử dụng đất đai bao gồm:
- Quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp.
Công tác quy hoạch phân bổ sử dụng đất đã được tiến hành từ lâu, ở nhiều
nước trên thế giới. Xuất phát từ những mô hình nông trang, đa canh các quốc gia
tiến bộ đã sớm nhận thức được vai trò cũng như hiệu quả của việc xây dựng mô
hình quản lý, sử dụng đất đai đầy đủ, hợp lý, khoa học dựa trên cơ sở tiến bộ của tư
liệu sản xuất. QHSDĐ được đưa ra để đảm bảo đáp ứng nhu cầu đó.
Quản lý đất đai là một việc phức tạp không nơi nào giống nơi nào nên ở mỗi
quốc gia, vùng lãnh thổ đều có một chính sách và công cụ quản lý đất đai khác
nhau. Trong đó, việc quy hoạch sử dụng đất là một công cụ quan trọng giúp cho
việc quản lý Nhà nước về đất đai đạt hiệu quả cao. Công tác quy hoạch sử dụng đất
đã được tiến hành từ nhiều năm trước đây với đầy đủ cơ sở khoa học. Mặc dù trên
thế giới việc lập quy hoạch đã ra đời từ lâu nhưng đến nay nó vẫn nguyên giá trị vì
qua mỗi thời kỳ, vùng đất có sự thay đổi thì lại có những quy hoạch thay đổi, phù
hợp. Đồng thời công việc quy hoạch sử dụng đất có ảnh hưởng đến rất nhiều ngành,
nhiều lĩnh vực
Tại một số nước có các phương pháp quy hoạch mang tính đặc thù riêng như:
* Quy hoạch ở Liên Xô: Quy hoạch đấtđai gắn với quy hoạch vùng, thực
hiện trên quy mô kết hợp một tỉnh, một tiểu vùng. Những tài liệu luận chứng 13
kinh tế - kỹ thuật này đã được chấp nhận là cơ sở khoa học cho công tác xây
dựng kế hoạch. Trên cơ sở bản vẽ thiết kế quy hoạch này tiến hành quy hoạch
các cụm công nghiệp, kế hoạch xây dựng mặt bằng thành phố, kết hợp bảo vệ
môi trường.
* Quy hoạch đất đai ở Thái Lan: Quy hoạch đất đai ở nước này được tiến
hành theo 3 phân cấp đó là: Cấp quốc gia, cấp vùng, cấp địa phương. Quy hoạch
nhằm cụ thể hóa các trường phái kinh tế xã hội của Hoàng gia Thái Lan, gắn liền
với tổ chức hành chính và quản lý nhà nước phối hợp với chính phủ và chính quyền
địa phương.
Trải qua nhiều năm thực hiện quy hoạch tổng thể trên phạm vi rộng thì bộ
mặt nông thôn đã biến đổi rõ rệt. Nông nghiệp được phát triển theo hướng sản xuất
hàng hóa, các làng nghề truyền thống được khôi phục, kinh tế, dịch vụ và du lịch đã
được phát triển góp phần đưa Việt Nam từ nước phải nhập khẩu lương thực thành
nước xuất khẩu gạo đứng thứ 2 trên thế giới.
2.4.2.2 Thời kỳ trước Luật đất đai 1993
Ở thời kỳ này công tác quy hoạch được biết đến một cách rất sơ lược, chủ
yếu tập trung vào phát triển ngành nông nghiệp – lâm nghiệp phục vụ phong trào
hợp tác hóa với phương châm sử dụng tối đa nguồn tài nguyên đất, song còn nôn
nóng, sự hiểu biết còn hạn chế nên tính khả thi của phương pháp còn thấp.
Từ 1987 đến trước luật đất đai 1993, công tác quy hoạch sử dụng đất đai đã
có cơ sở pháp lý quan trọng, thể hiện ngay trong Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 khẳng định:
“Đất đai thuộc sở hữu toàn dân, Nhà nước thống nhất quản lý đất đai theo quy
hoạch và pháp luật đảm bảo sử dụng đất đúng mục đích và có hiệu quả”.
Tuy nhiên, ở giai đoạn này chúng ta đang đứng trước nhiều khó khăn và thử
thách của nền kinh tế thị trường hàng hóa, đời sống nhân dân còn nhiều khó khăn
nên công tác quy hoạch vẫn chưa thực hiện một cách sát sao, triệt để. Song, công
cuộc đổi mới nông thôn diễn ra sâu sắc, xóa bỏ chế độ hợp tác xã chuyển sang giao
đất, cấp đất cho từng hộ gia đình. Có thể nói đây là mốc quan trọng đánh giá công
tác triển khai quy hoạch sử dụng đất cấp xã trên toàn quốc. 15
2.4.2.3 Từ Luật đất đai 1993 đến Luật đất đai 2003
Tháng 7/1993 Luật Đất đai sửa đổi được ban hành rộng rãi, trong đó nêu cụ
thể các điều khoản về quy hoạch sử dụng đất đai.
Đầu năm 1994, Tổng cục Địa chính triển khai công tác quy hoạch sử dụng
đất trên phạm vi toàn quốc giai đoạn 1996 – 2010, đồng thời xây dựng kế hoạch sử
trình của đất nước trên con đường phát triển đi lên công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nước, hội nhập kinh tế quốc tế, Hà Giang đã và đang có những bước chuyển
mình đáng kể. Các dự án đầu tư vào Hà Giang ngày càng nhiều, dân cư ngày càng
tăng, chính điều này đã gây áp lực lớn cho đất đai. Nhận thức được vấn đề này
UBND tỉnh đã phối hợp với các cơ quan có liên quan tiến hành lập và chỉ đạo thực
hiện QHSDĐ trong toàn tỉnh để nhằm sử dụng đất một cách có hiệu quả nhất. Đến
nay tất cả các huyện, xã trong toàn tỉnh đều đã tiến hành lập quy hoạch, kế hoạch sử
dụng đất cho từng giai đoạn và từng năm. Tuy kết quả đạt được chưa cao nhưng đã
giảm bớt được phần nào áp lực đối với đất đai và đáp ứng yêu cầu phát triển của xã hội.
2.4.2.6 Tình thưc hiện quy hoạch,kế hoạch sử dụng đất của thị trấn Việt Lâm
Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là một trong những nội dung quan trọng
trong quản lý đất đai; bảo đảm đất đai được quản lý thống nhất, sử dụng hợp lý, tiết
kiệm và phục vụ hiệu quả cho phát triển kinh tế - xã hội. Vì vậy, thời gian qua thị trấn
Việt Lâm đã tiến hành xây dựng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. Qua đó, đáp ứng nhu
cầu đất đai tối ưu cho chiến lược công nghiệp hoá, hiện đại hoá của thị trấn.
Có thể nói, từ thực tiễn công tác lập và điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử
dụng đất trên địa bàn thị trấn nhìn chung đã đi vào nề nếp và trở thành công cụ quan
trọng của công tác quản lý nhà nước đối với đất đai. Đặc biệt là phân bổ quỹ đất đai
hợp lý cho các ngành, đảm bảo sử dụng đất đúng mục đích, tiết kiệm, có hiệu quả;
tạo điều kiện cho các dự án đầu tư, hình thành các vùng sản xuất tập trung nhằm
khai thác tốt tiềm năng và thế mạnh đất đai ở vùng
- Đến nay bối cảnh phát triển tại thị trấn Việt Lâm có nhiều sự đổi thay,cần
được tiếp tục nghiên cứu và đưa ra các định hướng phát triển mới. Đặc biệt trong
giai đoạn tới quá trình đô thị hóa tại tỉnh tỉnh Hà Giang sẽ phát triển với tốc độ
nhanh, thị trấn Việt Lâm được định hướng là đô thị hỗ trợ trung tâm huyện lỵ với
nhiều chức năng mới. Để xây dựng các định hướng chiến lược tạo tiền đề thúc đẩy
phát triển kinh tế -xã hội, nâng cao chất lượng đô thị,làm cơ sở pháp lý để thực hiện
các bước tiếp theo trong quá trình xây dựng tại huyện Vị Xuyên, việc lập quy hoạch
chung xây dựng thị trấn Việt Lâm đến năm 2020 là cần thiết.