Thu hút vốn đầu tư vào các Khu công nghiệp tỉnh Nghệ An – thực trạng và giải pháp - Pdf 29

104
LỜI CAM ĐOAN
Chuyên đề tốt nghiệp “Thu hút vốn đầu tư vào các Khu công nghiệp
tỉnh Nghệ An – thực trạng và giải pháp” là kết quả của quá trình tìm tòi,
nghiên cứu nghiêm túc của các nhân tôi dưới sự hướng dẫn tận tình của giảng
viên hướng dẫn – TS. Nguyễn Thị Thu Hà cùng sự góp ý quý báu của các cán bộ
Phòng Kinh tế Đối ngoại – Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Nghệ An, hoàn toàn không
sao chép từ bất cứ luận văn hay chuyên đề nào.
Tôi xin cam đoan rằng đây là thành quả do chính bản thân mình viết ra.
Nếu xảy ra bất cứ vấn đề gì về nội dung chuyên đề, tôi xin chịu hoàn toàn trách
nhiệm.
Hà nội, tháng 5 năm 2014
Sinh viên
Nguyễn Thị Hoài
104
MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG, BIỂU
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC BIỂU
DANH MỤC HÌNH
BQL : Ban Quản lí
CCN : Cụm Công nghiệp
CNH : Công nghiệp hóa
DN : Doanh nghiệp
ĐTNN : Đầu tư nước ngoài
GCNĐT : Giấy Chứng nhận Đầu tư
HĐH : Hiện đại hóa
KCN :Khu Công nghiệp
KCX : Khu Chế xuất
KKT : Khu Kinh tế
TTHC : Thủ tục hành chính

hạn chế trong quá trình thu hút vốn đầu tư vào KCN trên địa bàn tỉnh Nghệ An
như việc phân bố vốn đầu tư không đồng đều, tỷ lệ thu hút vốn FDI còn thấp, tổng
vốn đầu tư trong tỉnh so với cả nước không cao…
Vấn đề cần giải quyết cấp thiết, cấp bách hiện nay là: Vì sao việc thu hút
vốn đầu tư vào các KCN tỉnh Nghệ An còn hạn chế, làm thế nào để thu hút được
nhiền vốn đầu tư ? Xuất phát từ yêu cầu đó, em đã lựa chọn đề tài: “Thu hút vốn
đầu tư vào các KCN tỉnh Nghệ An – Thực trang & giải pháp”.
 Kết cấu của chuyên đề gồm 3 chương:
Chương I: Cơ sở lí luận về công tác thu hút vốn đầu tư vào các Khu công
nghiệp tỉnh Nghệ An.
Chương II: Thực trang công tác thu hút vốn đầu tư vào các Khu công
nghiệp tỉnh Nghệ An.
Chương III: Định hướng và giải pháp thu hút vốn đầu tư vào các Khu
công nghiệp tỉnh Nghệ An.
 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Vốn đầu tư của các dự án
- Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu phân tích vốn đầu tư của các nhà đầu
tư Doanh nghiệp vào các KCN tỉnh Nghệ An để phát triển sản xuất công
nghiệp.
Xin được gửi lời cám ơn đặc biệt tới giảng viên hướng dẫn – TS. Nguyễn
Thị Thu Hà cùng các cán bộ của Phòng Kinh tế Đối ngoai – Sở Kế hoạch và Đầu tư
tỉnh Nghệ An đã giúp đỡ em rất nhiều trong quá trình thực hiện nghiên cứu. Mặc
dù đã hết sức cố gắng nhưng do hạn chế nhất định về kiến thức và kinh nghiệm
nên chuyên đề không tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được những góp
ý quý báu của quý thầy cô để em có thể hoàn thiện hơn nữa đề tài này.
Em xin chân thành cảm ơn!
CHƯƠNG I. LÍ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG TÁC THU HÚT
VỐN ĐẦU TƯ VÀO CÁC KHU CÔNG NGHIỆP TỈNH NGHỆ
AN
I.1 KHÁI NIỆM KHU CÔNG NGHIỆP

ngoài, tạo môi trường đầu tư thuận lợi và hấp dẫn.KCN cho phép các doanh
nghiệp sử dụng những phạm vi đất đai nhất định bên trong KCN để thành lập các
nhà máy xí nghiệp, các cơ sở kinh tế, dịch vụ, với nhiều ưu đãi như thủ tục hành
chính, giá thuê đất…
Về tính chất hoạt động, KCN là nơi tập trung và thu hút các doanh nghiệp
sản xuất công nghiệp và các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ gắn liền với hoạt
động sản xuất công nghiệp gọi chung là doanh nghiệp KCN. Doanh nghiệp KCN có
thể là doanh nghiệp Việt Nam thuộc mọi thành phần kinh tế; Doanh nghiệp có
vốn đầu tư nước ngoài; các bên tham gia hợp đồng, hợp tác kinh doanh.Các
doanh nghiệp này được quyền kinh doanh trong các lĩnh vực sau : Xây dựng và
kinh doanh các công trình kết cấu hạ tầng; sản xuất gia công; lắp ráp các sản
phẩm công nghiệp để phục vụ cho xuất khẩu và tiêu dung trong nước; phát triển
và kinh doanh bằng sảng chế, qui trình công nghệ,…
Về cơ sở hạ tầng kĩ thuật, các KCN đều xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng
với những điều kiện thuận lợi cho hoạt động sản xuất kinh doanh như đường xá,
hệ thống điện nước, thông tin liên lạc, xử lý giác thải…Nguồn vốn xây dựng cơ sở
hạ tầng thường do Chính phủ bỏ ra để san lấp mặt bằng, làm đường giao thông…
Trong trường hợp nhà nước không đủ vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng thì Nhà
nước có thể kêu gọi từ nguồn vốn đầu tư nước ngoài và trong nước.Việc xây
dựng cơ sở hạ tầng trong KCN thường do một công ty phát triển hạ tầng đảm
nhiệm. Công ty này có thể là doanh nghiệp trong nước, doanh nghiệp 100% vốn
nước ngoài, doanh nghiệp liên doanh thực hiện. Các công ty phát triển hạ tầng
KCN sẽ xây dựng các kết cấu hạ tầng sau đó được phép cho các doanh nghiệp
khác thuê lại.
Về tổ chức quản lý, trên thực tế thì các KCN đều thành lập hệ thống Ban
quản lý KCN cấp tỉnh,thành phố trực thuộc Trung ương để trực tiếp thực hiện
chức năng quản lý Nhà nước đối với hoạt động sản xuất kinh doanh trong
KCN.Ngoài Ban quản lý KCN, tham gia quản lý tại các KCN còn có các Bộ, Ngành
như: UBND tỉnh- thành phố, Bộ kế hoạch và Đầu tư, Bộ thương mại, Bộ xây dựng,


- Các khu công nghiệp cải tạo, hình thành trên cơ sở có một số xí nghiệp
đang hoạt động
- Các khu công nghiệp xuất hiện trên địa bàn mới (hiện có khoảng 20)
 Theo tính chất đồng bộ của việc xây dựng:
Cần tách riêng 2 nhóm khu công nghiệp đã hoàn thành và chưa hoàn
thành đầy đủ cơ sở hạ tầng và các công trình bảo vệ môi trường như hệ thống
thông tin, giao thông nội khu, các công trình cấp điện, cấp nước, thoát nước mưa,
nước thải, các nhà máy xử lý nước thải, chất thải rắn, bụi khói v.v
 Theo tình trạng cho thuê:
Có thể chia số khu công nghiệp thành ba nhóm có diện tích cho thuê được
lấp kín dưới 50%, trên 50% và 100% (Các tiêu thức 3 và 4 chỉ là tạm thời: khi xây
dựng hoàn chỉnh, đồng bộ tất cả các công trình và cho thuê hết diện tích thì 2 tiêu
thức đó không cần sử dụng nữa).
 Theo quy mô:
Hình thành 3 loại khu công nghiệp: lớn, vừa và nhỏ. Các chỉ tiêu phân bổ
quan trọng nhất có thể chọn là diện tích tổng số doanh nghiệp, tổng số vốn đầu
tư, tổng số lao động và tổng giá trị gia tăng. Các khu công nghiệp lớn được thành
lập phải có quyết định của Thủ tướng chính phủ. Các khu công nghiệp vừa và nhỏ
thuộc quyền quyết định của Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố. Trong giai đoạn đầu
hiện nay ta chú trọng xây dựng các khu công nghiệp vừa và nhỏ để sớm khai thác
có hiệu quả.
 Theo trình độ kỹ thuật: có thể phân biệt
- Các khu công nghiệp bình thường, sử dụng kỹ thuật hiện đại chưa nhiều.
- Các khu công nghiệp cao, kỹ thuật hiện đại thuộc ngành công nghiệp mũi
nhọn như công nghệ điện tử, công nghệ thông tin, công nghệ sinh học v.v làm
đầu tàu cho sự phát triển công nghiệp, phục vụ cho mục tiêu phát triển kinh tế xã
hội dài hạn.
 Theo chủ đầu tư, có thể chia thành 3 nhóm:
- Các khu công nghiệp chỉ gồm các doanh nghiệp, dự án đầu tư trong nước.
- Các khu công nghiệp hỗn hợp bao gồm các doanh nghiệp, dự án đầu tư

hiện trong thưc tế
I.2.2. Công tác xúc tiến đầu tư
 Khái niệm xúc tiến đầu tư: XTĐT là một công cụ nhằm để thu hút đầu tư, là
công cụ để tạo dựng thương hiệu của một quốc gia, một địa phương để các
nhà đầu tư gắn liền với những đặc điểm chất lượng mà họ yêu cầu. XTĐT
có thể được thực hiện qua nhiều cách như tuyên truyền, ấn phẩm, tổ chức
hội nghị hay qua kênh thông tin mạng…
 Nội dung hoạt động XTĐT: Nội dung công tác XTĐT của cơ quan trung
ương, địa phương và các tổ chức tham gian XTĐT bao gồm các hoạt động
cơ bản như: xây dựng hình ảnh, các hoạt động tạo ra đầu tư, các hoạt
động phục vụ đầu tư.
 Cơ quan XTĐT: là cơ quan thực hiện quảng bá, giới thiệu các yếu tố của
địa phương tới các nhà đầu tư vào các địa phương nói chung và các KCN
nói riêng. Ở địa phương, cơ quan có chức năng giúp UBND tỉnh XTĐT, bao
gồm:
• Trung tâm xúc tiến đầu tư thuộc Sở Kế hoạch và Đầu tư
• Ban quản lý KCN thuộc UBND tỉnh
• Công tý phát triển hạ tầng KCN.
I.2.3. Cải thiện môi trường đầu tư
Môi trường đầu tư được hiểu là tổng hợp các yếu tố, điều kiện về pháp
luật, kinh tế, chính trị,văn hóa, xã hội, các yếu tố về cơ sở hạ tầng, năng lực thị
trường và các lợi thế của một quốc gia… có ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động
đầu tư của các nhà đầu tư.
 Thước đo chất lượng môi trường đâu tư theo quan điểm PCI tỉnh được đánh giá
là thực hiện tốt 9 chỉ số thành phần trong chỉ số PCI cần có: 1) Chi phí gia nhập
thị trường thấp; 2) DN dễ dàng tiếp cận đất đai và có mặt bằng kinh doanh ổn
định; 3) Môi trường kinh doanh công khai minh bạch, DN có cơ hội tiếp cần công
bằng các thông tin cần cho kinh doanh; 4) Chi phí không chính thức ở mức tối
thiểu; 5) Thời gian DN phải bỏ ra để thực hiện các TTHC là ít nhất; 6) Lãnh đạo
tỉnh năng động và tiên phong; 7) Dịch vụ hỗ trợ DN tốt; 8) Có chính sách đào tạo

+ Công nghệ dệt, mau, da giày
+ Công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng và dịch vụ khác.
- Cơ cấu vốn đầu tư theo loại hình doanh nghiệp, bao gồm:
+ Doanh nghiệp nhà nước
+ Doanh nghiệp tư nhân
+ Công ty Trách nhiệm hữu hạn (TNHH)
+ Công ty Cổ phần
+ Doanh nghiệp vốn đầu tư nước ngoài.
I.4 NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ VÀO CÁC
KHU CÔNG NGHIỆP
I.4.1. Các yếu tố bên ngoài KCN
a) Điều kiện tự nhiên của khu vực xây dựng KCN
Lợi thế về điều kiện tự nhiên có vai trò quan trọng trong việc thu hút vốn
đầu tư, nó quyết đinh đến cơ cấu ngành nghề, lĩnh vực sản xuất của các nhà đầu
tư và số lượng ngành nghề sản xuất; nó bao gồm các yếu tố về tự nhiên, địa hình,
khí hậu, nguồn tài nguyên…
b) Điều kiện kinh tế - xã hội
Địa phương có sự ổn định trong phát triển kinh tế - xã hội thì lượng vốn
đầu tư từ bên ngoài đổ vào cũng ổn định, hiệu quả sản xuất cao hơn, mang lại
nhiều lợi ích hơn cho các nhà đầu tư và cả nền kinh tế của nơi diễn ra hoạt động
đầu tư.
c) Cơ sở hạ tầng kĩ thuật – xã hội
Kết cấu hạ tầng kĩ thuật – xã hội tạo tiền đề cho mọi hoạt động phát triển
kinh tế - xã hội, kích thích thu hút và tiếp nhận được vốn đầu tư trong và ngoài
nước.
d) Chi phí nhân công và chất lượng nguồn nhân lực
Chất lượng nguồn nhân lực và chi phí nhân công là nhân tố rất quan
trọng, ảnh hưởng đến hoạt động của DN; quyết định đến hiệu quả sản xuất kinh
doanh của DN.
e) Ổn định về an ninh chính trị

nghiệp. Bình Dương nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, nhưng nền
kinh tế còn yếu kém. Số dân chỉ bằng một quận của thành phố Hồ Chí Minh. Với
thế đất cao thoáng và nền xây dựng vững chắc, đất đai của Bình Dương rất thích
hợp cho việc xây dựng cơ sở hạ tầng công nghiệp và đô thị. Khác với thành phố
Hồ Chí Minh và các tỉnh công nghiệp liền kề trong vùng, Bình Dương bước vào
xây dựng và phát triển KCN với điểm xuất phát thấp, do đó buộc Bình Dương
phải có giải pháp và bước đi thích hợp, đi tắt đón đầu, biết tận dụng lợi thế của
tỉnh.
Đến cuối năm 2005, ngoài KCN Việt Nam- Singapo thành lập năm 1996 với
diện tích 292 ha thuộc trung ương quản lý, Bình Dương đã có 21 KCN với tổng
diện tích phê duyệt là 4.921 ha, thu hút được 470 dự án đầu tư sản xuất. Trong
đó, 168 dự án đầu tư trong nước với vốn điều lệ là 1.409 tỷ đồng (tương đương
gần 100 triệu USD) và 302 dự án đầu tư nước ngoài với tổng vốn đầu tư đăng ký
là 1,35 tỷ USD. Quy mô vốn bình quân dự án đầu tư nước ngoài là 4,4718 triệu
USD.
Từ những thành công và cả những yếu kém tồn tại, Bình Dương có thể cho
ta những bài học:
+ Một là, thường xuyên nâng cao chất lượng xây dựng và thực hiện quy
hoạch phát triển KCN.
Việc chọn địa điểm, quy mô hợp lý và loại hình tổ chức không gian sản
xuất của từng KCN là những vấn đề có ảnh hưởng nhiều đến kết quả thu hút đầu
tư và hiệu quả sản xuất của doanh nghiệp. Các KCN được phân bố rộng trong
tỉnh. Việc thành lập mới KCN được tiến hành theo phương thức "cuốn chiếu, lan
toả dần". Diện tích đất KCN được sử dụng cho thuê trên 60% khi đó mới được
thành lập KCN khác. Theo quy hoạch phát triển ngành, quy hoạch tổng thể phát
triển kinh tế đến 2010 và 2020, Bình Dương tiếp tục mở rộng thêm diện tích KCN
với những loại hình mới phù hợp nhu cầu phát triển công nghiệp trên địa bàn,
tạo tiền đề tăng tốc thu hút đầu tư trong thời kỳ tiếp theo.
Trong công tác tổ chức xây dựng hạ tầng, thực hiện phương thức cuốn
chiếu các hạng mục công trình trong từng KCN và theo trình tự hợp lý giữa các

+ Ba là, điều chỉnh cơ cấu sản xuất theo ngành nghề và đẩy mạnh xúc tiến
đầu tư vào các KCN.
Điều chỉnh cơ cấu sản xuất theo ngành nghề các KCN Bình Dương triển
khai theo hướng vận động, khuyến khích doanh nghiệp đầu tư đổi mới công nghệ,
sử dụng nguyên liệu nội địa, đầu tư mới cơ sở sản xuất phụ trợ, cải tiến và tăng
thêm mặt hàng để tăng sức cạnh tranh của sản phẩm.
Trong những KCN mới được thành lập, có thể liên kết các đối tác trong
nước (tổng công ty, tập đoàn kinh tế) và nước ngoài đầu tư xây dựng một số cụm
công nghiệp chuyên môn hoá hoặc một tổ hợp chuyên môn hoá trong KCN. Hình
thức tổ chức mới này có khả năng tạo sự chuyển đổi hợp lý cơ cấu sản xuất của
KCN trên địa bàn. Trong cùng một thời gian nhất định có thể khởi công xây dựng
một số KCN đáp ứng nhu cầu đầu tư khác nhau.
Tỉnh có nhiều hình thức giới thiệu như mời gọi các tập đoàn lớn đầu tư
vào các ngành công nghệ cao, tạo điều kiện cho việc xây dựng và sử dụng kết cấu
hạ tầng của các trung tâm công nghệ cao, nghiên cứu và công bố danh mục ưu
tiên thu hút các dự án công nghệ cao, cơ khí chính xác, vật liệu mới với dây
chuyền sản xuất hiện đại và sử dụng ít lao động.
+ Bốn là, tiếp tục thực hiện chương trình cải cách hành chính trong các
hoạt động thu hút đầu tư vào KCN trên cơ sở hoàn chỉnh cơ chế quản lý "một
cửa, tại chỗ", duy trì thường xuyên các quan hệ giao dịch hành chính giữa cơ
quan công quyền với các nhà đầu tư, các công dân theo nguyên tắc công khai,
minh bạch và lành mạnh.
Quan điểm và cách làm mời gọi đầu tư, mời đón nhân tài của Bình Dương
đã trở thành truyền thống, có sự nhất trí từ lãnh đạo đến cán bộ công chức, được
các nhà đầu tư đồng tình. Hằng tháng, lãnh đạo tỉnh cùng cán bộ đầu ngành đến
với doanh nghiệp để tìm hiểu, giải quyết vướng mắc tại chỗ, coi vướng mắc khó
khăn của doanh nghiệp là khó khăn vướng mắc của tỉnh. Tỉnh phân công rõ trách
nhiệm cụ thể đồng thời hoàn thiện sự phối hợp công tác giữa Ban quản lý các
KCN với các ban ngành có liên quan trong tỉnh. Công tác xúc tiến đầu tư, tổ chức
các hình thức cung cấp thông tin hay mời gọi đầu tư trong và ngoài nước là hết

xây dựng KCN. Trên địa bàn tỉnh Đồng Nai, các KCN thành công thường nằm ở
những vị trí thuận lợi về giao thông như KCN Biên Hoà 1, KCN Biên Hoà 2, KCN
Amata Việc xây dựng quy hoạch KCN của tỉnh Đồng Nai thời gian qua đã khai
thác được mọi tiềm năng lợi thế của địa phương, mang lại hiệu quả trong thu hút
đầu tư phát triển công nghiệp, tạo thêm nhiều việc làm mới, tăng thu nhập cho
người lao động, tạo động lực thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh theo
hướng phát triển bền vững, bảo vệ môi trường sinh thái, tạo mỹ quan đô thị, tiết
kiệm đất nông nghiệp.
+ Thứ ba, Đồng Nai thường xuyên quan tâm xây dựng hệ thống kết cấu hạ
tầng kỹ thuật trong và ngoài hàng rào KCN, hệ thống dịch vụ phục vụ KCN. Hạ
tầng ngoài hàng rào KCN bao giờ cũng đi trước một bước. Thực tế cho thấy, có
điện mà không có nước hoặc không có đường đi đều gây những ách tắc, cản trở
hoạt động của các doanh nghiệp. Các công trình hạ tầng ngoài hàng rào KCN vừa
là yếu tố tăng sức hấp dẫn đầu tư, đồng thời còn là giải pháp kinh tế- xã hội bảo
đảm phát triển KCN theo mô hình bền vững. Hiện nay, tổng đầu tư cho các công
trình hạ tầng trong và ngoài hàng rào KCN Đồng Nai khoảng 100 triệu USD. Chi
phí đầu tư trung bình cho các công trình hạ tầng KCN Loteco và KCN Amata do
doanh nghiệp trong nước đầu tư khoảng 3-5 USD/m2. Các KCN của Đồng Nai
được xây dựng hoàn chỉnh đều có đối tượng thuê đất phù hợp theo nguyên tắc
"tiền nào của nấy". Bởi vậy, việc xây dựng hạ tầng KCN đồng bộ, hiện đại, tiết
kiệm, đúng tiến độ có ý nghĩa trong việc nâng cao khả năng thu hút đầu tư vào
KCN.
+ Thứ tư, Đồng Nai đã xây dựng được hệ thống cơ chế chính sách quản lý
phù hợp, tạo môi trường thông thoáng, hấp dẫn các nhà đầu tư. Việc chăm sóc
tốt các nhà đầu tư thông qua cơ chế chính sách sẽ mở ra cơ hội đón các nhà đầu
tư mới. Thông thường, các nhà đầu tư có tâm lý tìm đến những nơi có sự quan
tâm, tạo điều kiện tốt nhất đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh của họ.
Đồng Nai là một trong những địa phương đầu tiên trong cả nước thực
hiện quản lý nhà nước các KCN theo cơ chế quản lý "một cửa, tại chỗ". Cơ chế
này đã góp phần giảm chi phí, thực hiện nhanh chóng các thủ tục hành chính

tạo ra những sản phẩm có giá trị gia tăng lớn, sử dụng nguồn lao động có trình
độ, phát triển theo hướng hội nhập vào chuỗi cung ứng toàn cầu, tập trung vào
các ngành có giá trị gia tăng cao (điện, điện tử - viễn thông, cơ khí chế tạo, hóa
dược, chế biến tinh lương thực thực phẩm và các dịch vụ phục vụ phát triển công
nghiệp). Ưu tiên các nhà đầu tư đến từ các nước phát triển, có các tiêu chuẩn cao
và quy định chặt chẽ về môi trường, có chế độ đào tạo và đối đãi tốt với người lao
động; các nhà đầu tư có tiềm lực vốn và công nghệ hiện đại từ châu Âu, Mỹ,
Nhật… Sự đầu tư của các doanh nghiệp này sẽ kéo theo chuỗi các nhà cung ứng
(công nghiệp phụ trợ) và dịch vụ tương thích đi kèm.
+ Hai là, đổi mới cách thức xúc tiến đầu tư. Chuyển cách kêu gọi đầu tư từ
hình thức “nhà đầu tư có nhu cầu thì họ tự tìm đến” sang hình thức “lựa chọn và
mời gọi nhà đầu tư theo định hướng”. Cụ thể là chủ động phối hợp với các tổ
chức, cơ quan ngoại giao, tham tán thương mại Việt Nam ở nước ngoài để phân
loại, nghiên cứu kỹ các đối tác nước ngoài có nhu cầu hoặc quan tâm đến việc
dịch chuyển đầu tư vào Việt Nam. Việc phân loại đối tác cũng phải có trọng tâm,
trọng điểm, xem đối tác nào có khả năng đáp ứng mục tiêu muốn thu hút vào
KCX, KCN. Sau đó, không chỉ dừng ở việc tiếp cận, giới thiệu mà phải liên tục tiếp
cận, tìm hiểu nhu cầu của nhà đầu tư, nhất là những đối tác đầu tư lớn, và vận
động đầu tư thông qua những mối quan hệ cá nhân, tổ chức có uy tín.
+ Ba là, tạo quỹ đất sẵn sàng cho thu hút đầu tư. Theo đó, cần tăng cường
sự phối hợp với chính quyền địa phương và các công ty phát triển hạ tầng KCX,
KCN đẩy nhanh tiến độ giải phóng mặt bằng, thực hiện tốt công tác tái định cư;
chuẩn bị sẵn sàng quỹ đất để giới thiệu cho các nhà đầu tư tiềm năng; rà soát,
thu hồi quỹ đất đối với những dự án không triển khai theo đúng tiến độ đăng ký
để triển khai các dự án khác, xây dựng cơ sở hạ tầng hoàn chỉnh, đồng bộ và hiện
đại. Đặc biệt, cần hỗ trợ chủ đầu tư hạ tầng các KCN dự kiến thành lập mới hoặc
mở rộng thực hiện nhanh các thủ tục đầu tư để sớm triển khai.
+ Bốn là, kết hợp chặt chẽ giữa quy hoạch phát triển KCX, KCN với quy
hoạch phát triển đô thị, phân bố dân cư, nhà ở và các công trình xã hội phục vụ
công nhân trong KCX, KCN nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển đồng bộ các hoạt

Một là, sự thống nhất nhận thức và nhất quán hành động của toàn thể
Đảng bộ và nhân dân trong tỉnh trong quá trình quy hoạch, xây dựng KCN là vô
cùng quan trọng. Cần có sự tuyên truyền vận động tốt để chính quyền địa
phương, người dân trong vùng ảnh hưởng của KCN hỗ trợ tích cực trong công
tác giải phóng mặt bằng, bàn giao đất cho chủ đầu tư xây dựng hạ tầng KCN và
tham gia giám sát, quản lý hoạt động của các KCN. Và với chính sách thỏa đáng,
hợp lý, nó sẽ góp phần đẩy nhanh tiến độ đền bù, giải tỏa để nhanh chóng triển
khai đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng KCN và kêu gọi đầu tư.
Hai là, quá trình quy hoạch phát triển KCN, đặc biệt là việc lựa chọn vị trí
xây dựng, quy mô xây dựng, chọn ngành công nghiệp ưu tiên thu hút đầu tư vào
KCN phải phù hợp quy hoạch phát triển KT-XH chung, với tiềm năng và lợi thế
của địa phương, với điều kiện cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội của khu vực, và đảm
bảo an ninh quốc phòng.
Việc quy hoạch phát triển KCN phải đảm bảo đồng bộ giữa phát triển công
nghiệp với cơ sở hạ tầng ngoài hàng rào KCN và quá trình đô thị hóa. Phát triển
các KCN cần đồng thời chú trọng đầu tư đảm bảo sự đồng bộ về hạ tầng ngoài
hàng rào KCN: giao thông, điện, nước, hạ tầng xã hội phục vụ đời sống công nhân
KCN, khu dân cư dịch vụ phục vụ cho KCN.
Ba là, lựa chọn chủ đầu tư thuê đất trong các KCN phải đảm bảo là có khả
năng về tài chính, kinh nghiệm hoạt động sản xuất kinh doanh và kinh nghiệm
quản lý nhằm đảm bảo tỉnh thành công của dự án. Ưu tiên các chủ đầu tư có dự
án quy mô lớn, công nghệ tiên tiến, hiện đại, thân thiện với môi trường.
Bốn là, thực hiện quản lý đối với KCN theo cơ chế “một cửa, tại chỗ” tại
Ban Quản lý các KCN tỉnh là cơ chế quản lý phát huy hiệu quả, vừa đảm bảo nâng
cao vai trò và năng lực thực hiện chức năng quản lý trực tiếp đối với KCN và các
doanh nghiệp KCN của Ban Quản lý, vừa đảm bảo yêu cầu giải quyết nhanh gọn,
chính xác các yêu cầu của KCN và doanh nghiệp KCN đặt ra. Để thực hiện tốt cơ
chế quản lý trên, cần tiếp tục quy định rõ trách nhiệm, quyền hạn, chức năng,
nhiệm vụ của Ban Quản lý các KCN tỉnh thống nhất thực hiện trên toàn quốc.
Đồng thời cần phải nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ - công chức của Ban


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status