1
Bộ giáo dục và đào tạo
Trờng đại học s phạm Hà Nội 2
Chu Thị Minh Thành Đề tài:
Phơng pháp dạy kể chuyện cho học sinh lớp 4 và 5
(Kiểu bài đã đợc chứng kiến hoặc tham gia)
Luận văn thạc sĩ giáo dục học
3
Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Những số
liệu và kết quả nêu trong luận văn là hoàn toàn trung thực. Đề tài cha từng
đợc công bố trong bất kỳ công trình khoa học nào khác. Nếu sai tôi xin hoàn
toàn chịu trách nhiệm.
Tác giả Chu Thị Minh Thành
7
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
7
6. Phơng pháp nghiên cứu
7
7. Đóng góp của luận văn
8
8. Cấu trúc của luận văn
8
Phần 2: Nội dung
9
Chơng 1: Cơ sở lý thuyết
9
1.1. Cơ sở tâm lý học
9
1.2. Cơ sở ngôn ngữ học
11
1.3. Cơ sở văn học
14
1.4. Tiểu kết
17
Chơng 2: Thực trạng dạy học kiểu bài kể chuyện đã đợc
chứng kiến hoặc tham gia và các giải pháp
18
2.1. Nội dung chơng trình và cấu tạo nội dung bài học kiểu bài
kể chuyện đã đợc chứng kiến hoặc tham gia
18
2.1.1. Nội dung chơng trình
18
2.1.2. Cấu tạo bài học
Chơng 3: Thể nghiệm s phạm
48
3.1. Mục tiêu thể nghiệm
48
3.2. Cách thức thể nghiệm
48
3.3. Nội dung thể nghiệm
48
3.3.1. Giáo án thể nghiệm
49
3.3.2. Miêu tả giờ dạy thể nghiệm
59
3.3.3. Nhận xét giờ dạy thể nghiệm
76
Phần 3: Kết luận
79
Tài liệu tham khảo
81
6
Phần I: Mở đầu
Cũng nh kiểu bài Kể chuyện đã nghe, đã đọc, kiểu bài Kể chuyện đã
đợc chứng kiến hoặc tham gia vốn nằm trong phân môn Tập làm văn SGK
cũ, nay đợc chuyển sang phân môn Kể chuyện để rèn kỹ năng nói cho học
sinh. Do vậy đã có nhiều ý kiến đi sâu xem xét về nội dung cũng nh phơng
pháp dạy mảng kiến thức này. Những công trình nghiên cứu gắn liền với SGK
Tiếng Việt trớc năm 2000 đã nghiên cứu việc dạy tập làm văn kể chuyện
đợc chứng kiến hoặc tham gia chủ yếu ở các phơng diện:xem xét việc trang
bị kiến thức lý thuyết và tổ chức cho học sinh thực hiện tuần tự từng việc trong
quá trình xây dựng văn bản tự sự để học sinh có đợc những kiến thức và kỹ
năng cơ bản. Các công trình nghiên cứu gắn liền với SGK Tiếng Việt sau năm
2000 tập trung xem xét kiểu bài Kể chuyện đã đợc chứng kiến hoặc tham gia
trong phân môn Kể chuyện với các đặc điểm về nội dung và cách kể chuyện
đặc trng, riêng biệt. Đồng thời cũng đã có một số tài liệu nghiên cứu về
phơng pháp dạy nói chung và quy trình dạy cụ thể cho kiểu bài.Có thể điểm
những ý kiến có liên quan đến vấn đề mà đề tài nghiên cứu qua hai nguồn tài
liệu sau:
2.1. Tài liệu hớng dẫn giáo viên
Tập trung nhất là sách giáo viên Tiếng Việt 4 và sách giáo viên Tiếng
Việt 5. ở đây các tác giả đã trình bày rõ quy trình dạy của kiểu bài và gợi ý
hớng dẫn tới từng bài cụ thể. Tuy nhiên đây là tài liệu dùng để hớng dẫn giáo
viên trên khắp mọi miền đất nớc cho nên các gợi ý chỉ mang tính chất định
hớng chung. Vận dụng nh thế nào để mang lại hiệu quả cao trong các giờ
dạy ở từng địa phơng, sách giáo viên vẫn để dành khoảng trống cho giáo viên
sáng tạo. Đề tài của chúng tôi đã khảo sát thực trạng dạy kể chuyện ở một vùng
xác định để từ đó tìm cách dạy phù hợp với đối tợng.
8
2.2. Tài liệu tham khảo
9
6. Phơng pháp nghiên cứu:
- Tổng hợp lý luận và kinh nghiệm thực tiễn.
- Điều tra, khảo sát, thống kê.
- Phơng pháp thử nghiệm.
7. Đóng góp của luận văn:
- Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn về phân môn kể chuyện
kiểu bài Kể chuyện đã đợc chứng kiến hoặc tham gia để nâng cao chất
lợng dạy phân môn kể chuyện nói riêng và môn Tiếng Việt nói chung ở
trờng tiểu học. Cụ thể:
+Nhận thức: Giúp giáo viên và học sinh nhận thức đúng mục đích của
kiểu bài kể chuyện đợc chứng kiến hoặc tham gia.
+ Xây dựng kế hoạch dạy kiểu bài này cho phù hợp năng lực nhận thức
của học sinh.
+ Phơng pháp dạy: Tổ chức các họat động học tập của học sinh trong
giờ kể chuyện
- Góp phần hoàn thiện qui trình dạy học kể chuyện đã đợc chứng kiến
hoặc tham gia.
8. Cấu trúc cuả luận văn:
- Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn bao gồm 3 chơng:
Chơng 1: Cơ sở lý thuyết.
Chơng 2: Thực trạng dạy học kiểu bài kể chuyện đã đợc chứng kiến
hoặc tham gia và các giải pháp
Chơng 3: Thể nghiệm s phạm. 10
Phần 2: Nội dung
không phải là ngời lớn thu nhỏ mà trẻ em là trẻ em. Trẻ em là một thực thể tự
vận động theo quy luật của bản thân nó. Từ việc nhìn nhận, xem xét những vấn
đề trên đã đa đến quan điểm vì trẻ em mà mở ra trờng học. Mọi hoạt động
của nhà trờng đều phải lấy sự phát triển của trẻ em làm chuẩn chứ không lấy thầy
giáo làm chuẩn. Phơng pháp dạy học mới là phơng pháp dạy học tích cực, lấy
học sinh làm trung tâm. Học sinh lĩnh hội tri thức đợc bao nhiêu là tuỳ thuộc vào
hoạt động của chính các em. Còn ngời thầy là ngời tổ chức, hớng dẫn, điều
khiển các hoạt động của học sinh từ đó giúp các em phát huy những năng lực tự
có của nó. Trẻ em là một thực thể hồn nhiên, vô t, tiềm tàng khả năng phát triển.
Theo thời gian trẻ lớn lên tự nhiên bằng các hoạt động của chính mình do ngời
lớn tổ chức. Các em tiếp xúc với xung quanh với xã hội và đánh giá nhận xét mối
quan hệ đó theo chuẩn mực của chính các em. Tất cả hiện tại và tơng lai trớc
con mắt của các em đều rất bí ẩn, hấp dẫn nhng cũng rất giản đơn.
Với ý nghĩa đó ngời thầy phải đại diện cho trí tuệ thời đại, thầy phải là
chuyên gia có tay nghề để truyền thụ nền văn hóa của nhân loại cho học trò,
vừa là ngời thợ khéo tay để uốn nắn sửa chữa những mắc mớ cho các em, giúp
các em thực sự tạo ra đợc sản phẩm giáo dục. Nếu nh ngời thầy không làm
tốt công việc này sẽ để lại cho thế hệ mai sau những nhân cách què quặt, không
lành mạnh. Vì con ngời ta bao giờ cũng vậy những gì có đợc từ trớc và đầu
tuổi học đều để lại dấu ấn theo suốt cả cuộc đời. Cho nên mục tiêu quan trọng
của giáo dục tiểu học là phải tạo ra cho các em tính năng động, tự chủ, sáng
tạo. Kể chuyện là một trong những môn học góp phần hình thành những năng
lực trên cho các em. Đặc biệt khi kể câu chuyện đã đợc chứng kiến hoặc tham
gia nói về các sự việc gần gũi, quen thuộc phù hợp với nhận thức, tâm lý của
các em nh: kể chuyện đã làm để góp phần giữ gìn xóm làng xanh - sạch - đẹp
(Lớp 4). Kể về một buổi sum họp đầm ấm trong gia đình (Lớp 5) sẽ giúp các
em chủ động, tự tin hơn trong sử dụng ngôn ngữ. Dạy kể chuyện đã đợc
chứng kiến hoặc tham gia chính là hớng học sinh quan sát cuộc sống bằng 13
Ngôn ngữ nói sử dụng chất liệu là âm thanh, ngôn ngữ viết sử dụng chất
liệu là chữ viết. Vì ngôn ngữ nói sử dụng chất liệu là âm thanh nên yêu cầu đầu
tiên cần phải chú ý đó là: âm thanh khi nói, khi kể chuyện phải chuẩn, không
ngọng, không lắp.
Âm thanh tồn tại trong một không gian, thời gian nhất định cho nên khi
nói, khi kể chuyện giọng phải to, rõ ràng để ngời nghe nghe đợc và tốc độ
nói cần vừa phải sao cho ngời nghe theo dõi và hiểu kịpđồng thời để chính
ngời nói đủ thời gian chuẩn bị nội dung,lựa chọn cách diễn đạt cho phù hợp
với chất liệu là âm thanh, hoạt động giao tiếp bằng dạng nói đòi hỏi đợc diễn
ra trực tiếp giữa ngời nói và ngời nghe. Vì thế khi nói, ngời nói phải hớng
tới ngời nghe, tìm cách thuyết phục ngời nghe và nhận tín hiệu phản hồi. Để
thuyết phục ngời nghe bên cạnh nội dung còn là ngữ điệu, và các yếu tối phi
lời. Có nội dung nhng giọng đều đều không có điểm nhấn, không có sự điều
chỉnh cao độ, trờng độ giọng nói chắc chắn hiệu quả giao tiếp sẽ không cao.
Bên cạnh đó việc sử dụng ánh mắt, nét mặt và điệu bộ cử chỉ của ngời nói
cũng giúp cho việc giao tiếp thêm sinh động làm cho ngời nghe sẽ tập trung
chăm chú theo dõi nội dung hơn.
Nắm đợc những đặc điểm trên khi hớng dẫn những học sinh kể chuyện
với mục đích cơ bản là rèn cho các em kỹ năng nói, bên cạnh việc hớng dẫn
cho học sinh chuẩn bị tốt nội dung kể cần rèn cho học sinh cách sử dụng ngữ
điệu phù hợp với nội dung kể. Học sinh biết ngắt nghỉ hơi, điều chỉnh cao độ,
cờng độ để tăng sự chú ý của ngời nghe chuyện. Giáo viên cũng cần tập
trung cho học sinh biết dùng động tác phụ trợ cho lời kể một cách hợp lý. Và
quan trọng là học sinh cần tự tin hớng về phía bạn bè để kể. Vừa để lời kể
thêm thuyết phục, vừa để thắt chặt sự giao lu giữa ngời kể và ngời nghe.
Cũng do giao tiếp trực tiếp ngời nói không có điều kiện chuẩn bị kỹ nh giao
tiếp bằng văn bản viết nên những thô nhám trong cách dùng từ diễn đạt,
theo một hệ thống lôgíc. Hệ thống này căn cứ vào các mối quan hệ mà ngời
kể chuyện cho là hợp lý, chặt chẽ và có hiệu quả giao tiếp cao. 15
Bớc 3: Trình bày đề cơng
Cần đợc trình bày một cách rõ ràng, biểu hiện đợc các mối quan hệ và
tiến trình triển khai nội dung. Cách trình bày phải tự nhiên, mang đặc trng của
dạng nói. Tuyệt đối không đọc đề cơng. Có thể dựa vào đề cơng nhng trình
bày theo lối nói, kể.
Bớc 4: Kiểm tra, đánh giá
Từ chuẩn bị đến thực hiện giao tiếp là một quá trình và có nhiều nhân tố
tác động. Cần có bớc kiểm tra để xem đề cơng có đợc triển khai đúng
hớng không, có đầy đủ không hoặc cần bổ sung, điều chỉnh những gì. Vì mỗi
văn bản kể của học sinh rất ngắn gọn cho nên khâu định hớng đợc coi là vô
cùng quan trọng. Khâu này quyết định học sinh có tìm đợc câu chuyện đúng
đề tài không và chuyện có tình huống để kể không. Các bớc còn lại chỉ cần
thực hiện ở yêu cầu đơn giản.
1.3. Cơ sở văn học
Yêu cầu của kiểu bài Kể chuyện đợc chứng kiến hoặc tham gia là học
sinh phải xây dựng đợc một văn bản truyện để kể trong nhóm hoặc trớc lớp.
Yêu cầu này đòi hỏi giáo viên và học sinh phải nắm vững thế nào là truyện? Sự
việc và nhân vật trong truyện? Cốt truyện? .v.v Khác với mục đích dạy tập
làm văn là dạy tạo lập văn bản là chính, dạy kể chuyện hớng tới đích cơ bản là
rèn cho học sinh kỹ năng kể về văn bản truyện mà học sinh đã xây dựng đợc.
Vì thế vấn đề về kể chuyện, lời kể và ngôi kể trong kể chuyện giáo viên và học
sinh cũng cần hiểu rõ.
1.3.1. Truyện, chuyện và kể chuyện
Với các nhà nghiên cứu văn học, từ lâu truyện đợc xem là một thể loại
văn học thuộc loại tự sự có hai thành phần chủ yếu là cốt truyện và nhân vật.
mở đầu và kết thúc cho hay. Có thể có những cách mở đầu và kết thúc chuyện
nh sau:
Những cách mở đầu câu chuyện:
Bằng một câu tả cảnh.
Bằng một ý nghĩ về cuộc đời. 17
Bằng một cảm giác mới lạ.
Bằng một tiếng kêu.
Bằng một câu hỏi.
Bằng một âm thanh.
Những cách kết thúc câu chuyện:
Một sự đột ngột thú vị.
Một d âm ngân nga mãi trong lòng ngời đọc.
Một sự nhấn mạnh về ý nghĩa câu chuyện mình kể (nên sống nh thế
nào? Nên xử thế ra sao? Nên yêu cái gì? Ghét cái gì).
1.3.4. Lời kể, ngôi kể và ngời kể chuyện
Văn kể chuyện chủ yếu là văn kể về ngời và kể việc. Vì thế có lời văn
giới thiệu nhân vật và lời văn kể sự việc. Khi kể về ngời thì dùng lời văn giới
thiệu: họ tên, lai lịch, quan hệ, tính tình, tài năng .v.v Khi kể việc thì dùng lời
kể về các hành động, việc làm, kết quả và sự đổi thay do các hành động đấy
đem lại.
Ngời kể chuyện trớc hết cũng chính là ngời nghe (ngời chứng kiến
chuyện). Trớc khi có hành vi kể lại ngời này đã đóng vai trong chuyện (hoặc
chứng kiến hoặc tham gia). Từ vai ngời xem, ngời làm, khi kể lại chuyển
thành vai ngời kể, kể về một ngời khác so với thời điểm và hành vi ban đầu.
Quá trình sáng tạo ra truyện cũng tức là sự gia công, góc nhìn và lựa chọn, chỗ
nhấn thông tin làm cho chuyện trở thành đẹp hơn, sống động hơn. Con ngời
trong truyện cũng đẹp hơn, rõ nét hơn những gì hằng thấy, hằng nghe trong
hiệu quả dạy học kiểu bài này.
19
Chơng 2
Thực trạng dạy học kiểu bài kể chuyện đã đợc
chứng kiến hoặc tham gia
Để nắm vững thực trạng dạy học kể chuyện đợc chứng kiến hoặc tham
gia trong chơng trình kể chuyện cho học sinh lớp 4, lớp 5, chúng tôi tiến hành
hệ thống nội dung kể chuyện và xem xét cấu tạo nội dung bài học, đồng thời
khảo sát thực trạng dạy học kiểu bài kể chuyện này ở một số lớp 4,5 huyện
Cẩm Khê - Phú Thọ trên cơ sở đó chúng tôi có ý kiến đề xuất nhằm nâng cao
hiệu quả hoạt động dạy - học kể chuyện đợc chứng kiến hoặc tham gia. Trớc
hết chúng tôi thống kê nội dung chơng trình và phân tích cấu tạo nội dung bài
học kể chuyện đợc chứng kiến hoặc tham gia trong sách giáo khoa Tiếng Việt
lớp 4, lớp 5.
2.1. Nội dung chơng trình và cấu tạo nội dung bài học kể chuyện đã
đợc chứng kiến hoặc tham gia.
2.1.1. Nội dung chơng trình
* Lớp 4: Cả năm học có 8 tiết
Học kỳ 1 có 3 tiết phân bố trong 3 chủ điểm
Học kỳ 2 có 5 tiết phân bố trong 5 chủ điểm
Tuần
Tên chủ điểm Nội dung kể chuyện
9
Trên đôi cánh ớc
34
Tình yêu cuộc sống - Kể về một ngời vui tính mà em biết
* Lớp 5: Có 10 tiết trong hai học kỳ
+ Học kỳ 1 có 5 tiết đợc phân bố trong 5 chủ điểm
+ Học kỳ 2 có 5 tiết đợc phân bố trong 5 chủ điểm Tuần
Tên chủ điểm
Nội dung kể chuyện
3
Việt Nam - Tổ quốc em
Kể về một việc làm tốt xây dựng quê hơng đất nớc
6
Cánh chim hòa bình
- Kể lại một câu chuyện em đã chứng kiến hoặc một
việc em đã làm thể hiện tình hữu nghị giữa nhân dân
ta với nhân dân các nớc.
- Nói về một nớc mà em đợc biết qua truyền hình,
phim ảnh.
9
Con ngời với thiên
nhiên
Kể chuyện về một lần em đợc đi thăm cảnh đẹp ở
địa phơng em hoặc nơi khác.
13
Giữ lấy màu xanh
- Kể về một việc làm tốt của em hoặc những ngời
xung quanh để bảo vệ môi trờng.
Nam và nữ
Kể về một việc làm tốt của bạn em
34
Những chủ nhân
tơng lai
- Kể một câu chuyện mà em biết về việc gia đình,
nhà trờng hoặc xã hội chăm sóc và bảo vệ thiếu nhi.
- Kể về một lần em cùng các bạn trong lớp hoặc
trong chi đội tham gia công tác xã hội.
22
2.1.2. Cấu tạo bài học
Nội dung bài học gồm hai phần là đề bài và gợi ý
2.1.2.1. Lớp 4
Cấu tạo nội dung bài học giờ kể chuyện đợc chứng kiến hoặc tham gia ở
lớp 4 có hai phần:
Phần đề bài: Nêu đề bài kể chuyện
Phần gợi ý: Đợc biên soạn theo hai cách:
- Hát, múa, chơi đàn, vẽ tranh giỏi
- Chơi thể thao (bóng đá, cờ vua, võ thuật) giỏi
- Làm đợc những việc mà ngời có sức khỏe bình thờng, không làm
đợc (diễn viên xiếc đợc hai, ba ngời trên tay, ngời gánh lúa gánh đợc
100kg; lực sĩ dùng tay kéo đợc cả chiếc xe ôtô).
2. Tìm những ngời có khả năng hoặc có sức khỏe đặc biệt ở đâu
- Tìm trong các bạn em có thể có những bạn học giỏi, múa hát hay hoặc
chơi thể thao giỏi.
- Tìm trong làng xóm, phố phờng của em. Có thể có những cô chú khéo
tay, nhiều sáng kiến, có sức khỏe đặc biệt, chơi đàn, chơi bóng giỏi hoặc thành
đạt trong lao động, học tập.
- Nhớ lại những ngời có khả năng hoặc có sức khỏe đặc biệt mà em đã
gặp khi xem thi đấu thể thao, biểu diễn xiếc hay văn nghệ).
3. Kể nh thế nào
- Em có thể kể một câu chuyện cụ thể (diễn ra trong thời gian nhất định, ở
địa điểm nhất định) về ngời có khả năng hoặc có sức khỏe đặc biệt mà em
biết. Muốn vậy cần cho biết:
+ Câu chuyện bắt đầu nh thế nào?
+ Diễn biến chính của câu chuyện
+ Kết thúc câu chuyện 24
- Em cũng có thể kể những điều em biết, em chứng kiến về ngời có khả
năng hoặc có sức khỏe đặc biệt, không cần kể thành một câu chuyện có khởi
đầu, diễn biến và kết thúc. Muốn vậy, em cần:
+ Cho biết ngời đó có khả năng gì đặc biệt
+ Chọn nêu một số ví dụ về khả năng đặc biệt nói trên.
2.1.2.2. Lớp 5
Cấu tạo nội dung bài học giờ kể chuyện đợc chứng kiến hoặc tham gia
+ Ngời ấy có lời nói hoặc hành động gì đẹp?
+ Suy nghĩ của em về lời nói hoặc hành động ngời đó
Ví dụ 2: Tuần 13. Chủ điểm "Giữ lấy màu xanh"
Có hai đề bài và có gợi ý theo đề bài
a. Đề bài: Chọn một trong hai đề bài sau đây:
1. Kể về một việc làm tốt của em hoặc của những ngời xung quanh để
bảo vệ môi trờng.
2. Kể về một hành động dũng cảm bảo vệ môi trờng.
b. Gợi ý
1. Đề 1: Những việc làm tốt để bảo vệ môi trờng
- Giữ vệ sinh nhà cửa, trờng lớp, xóm làng, đờng phố (thờng xuyên
quét dọn nhà cửa, lau bàn ghế sạch sẽ, tham gia làm vệ sinh ở xóm làng, đờng
phố; không xả rác bừa bãi, giữ sạch nguồn nớc).
- Trồng cây, chăm sóc cây
- Bảo vệ, chăm sóc các loài vật có ích
- Khuyên bảo bạn bè, em nhỏ, ngời xung quanh giữ vệ sinh chung,
không bẻ cành, hái hoa ở nơi công cộng, không bắn chim
- Phát hiện và ngăn chặn các hành vi phá hoại môi trờng
2. Những hành động dũng cảm bảo vệ môi trờng
- Đấu tranh quyết liệt với những hành vi phá hoại môi trờng
+ Khai thác gỗ bừa bãi
+ Săn bắn thú rừng bừa bãi