Dạy văn tích hợp trong môn tiếng việt ở lớp 2, lớp 3 - Pdf 29


- 1 -
PHẦN 1: PHẦN MỞ ĐẦU

1. Lí do chọn đề tài
1.1 Tầm quan trọng của môn Tiếng Việt ở Tiểu học
Trong các môn học ở Tiểu học, cùng với môn Toán, môn TV có vị trí rất
quan trọng. Việc giảng dạy và học tập môn TV đã góp phần hình thành và
phát triển ở HS các kĩ năng sử dụng tiếng Việt và thông qua môn học này các
em được rèn luyện các thao tác của tư duy. Ngoài mục tiêu cung cấp những
kiến thức sơ giản về tiếng Việt, về tự nhiên, xã hội và con người, môn TV còn
giúp các em hiểu biết về văn hóa văn học của Việt Nam và của nước ngoài.
Hơn bất kì môn học nào, môn TV có khả năng rất lớn trong việc bồi dưỡng
tình yêu tiếng Việt và hình thành thói quen giữ gìn sự trong sáng, giàu đẹp
của tiếng Việt, góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội
chủ nghĩa.
1.2 Tầm quan trọng của kiến thức và kỹ năng văn trong dạy học
Tiếng Việt ở Tiểu học
Môn Tiếng Việt ở trường Tiểu học gồm các phân môn Tập đọc, Kể
chuyện, Luyện từ và câu, Chính tả, Tập viết, Tập làm văn. Ta thấy trong hệ
thống các phân môn của môn TV không nhắc đến môn Văn, nhưng mục tiêu
dạy văn lại là một trong những mục tiêu quan trọng được tích hợp khoa học
trong quá trình dạy các phân môn trên. Khi mục tiêu dạy văn đạt được trong
quá trình dạy học các phân môn của TV, trước tiên sẽ tạo hiệu quả tốt cho
việc học chính các phân môn đó.
Nếu việc dạy văn thông qua các phân môn của môn TV thành công, HS
sẽ hiểu được, cảm thụ được cái hay, cái đẹp, những ý nghĩa ẩn chứa trong
những câu chuyện, bài thơ mà các em đọc, bồi dưỡng dần dần cho các em tình
yêu với văn học, một điều đang mất dần ở HS thời nay. Đồng thời nó còn góp

- 2 -

nhánh”, mũi phải “dọc dừa”, da phải “trắng mịn”,….
Hơn nữa, kiến thức sách vở cũng như kiến thức thực tế của HS Tiểu
học hiện còn nhiều lỗ hổng. Nhiều HS ở nông thôn chưa hề được ra thành
phố, chưa từng được đến công viên, vườn bách thú… Nhiều HS ở thành phố
chưa hề được nghe thấy tiếng gà gáy, được nhìn thấy con trâu đang cày ruộng,
được quan sát cánh đồng lúa lúc xanh mướt, lúc vàng óng trĩu bông,… Ngoài
ra, do sức hút của các trò chơi hiện đại, trẻ em ngày nay đã lãng quên thế giới
thơ mộng ở xung quanh, cái thế giới của ruộng đồng, cây cỏ, côn trùng, của
mưa gió,… Việc đọc sách của các em cũng đang bị xem nhẹ. Phần lớn HS
Tiểu học ít quan tâm đến việc đọc, nếu có đọc thường là đọc truyện tranh,
thậm chí là những truyện tranh không mang tính giáo dục. Việc trò chuyện,
tiếp xúc với bố mẹ, người thân trong gia đình và cộng đồng cũng rất hạn chế.
Do vốn liếng về cuộc sống và về văn học của HS Tiểu học mỏng nên khi làm
văn, nhiều HS không nắm được đặc điểm đối tượng mình đang tả, dẫn đến tả
không chân thực.
Điều này đòi hỏi phải có hoạt động kết nối những tri thức và kĩ năng mà
HS đã lĩnh hội được từ các môn học để giúp các em khắc phục nhược điểm
hời hợt, phiến diện, bắt chước văn mẫu, không chủ động sáng tạo khi viết văn.
Dạy văn tích hợp trong môn TV sẽ góp phần quan trọng, tích cực vào quá
trình kết nối đó.
1.4 Định hướng của Bộ Giáo dục Đào tạo về dạy học tích hợp ở
Tiểu học
Dạy học tích hợp góp phần nâng cao chất lượng giáo dục là mục tiêu
lớn được Bộ Giáo dục và Đào tạo nêu ra và hướng dẫn cho giáo dục phổ
thông các cấp.

- 4 -
Trong “Hỏi đáp về dạy học Tiếng Việt 2”, (Nguyễn Minh Thuyết chủ
biên), có nêu ra câu hỏi “Sách Tiếng Việt có dạy văn học không?”, rồi trả lời:
“Chương trình môn TV còn có nhiệm vụ trang bị kiến thức văn học và nhiều

* Hướng nghiên cứu thứ hai: hướng dẫn GV và HS cách CTVH, tìm
cái hay cái đẹp trong các văn bản văn chương.
Đây là hướng nghiên cứu của các tác giả: Đinh Trọng Lạc, “Vẻ đẹp của
ngôn ngữ văn học qua các bài tập đọc lớp 4 lớp 5” (1996) Nhà xuất bản GD;
Trần Mạnh Hưởng “Luyện tập về cảm thụ văn học ở Tiểu học” (2010) Nhà
xuất bản GD; Nguyễn Trí, Nguyễn Trọng Hoàn “Tìm vẻ đẹp bài văn ở Tiểu
học” (2004) Nhà xuất bản GD; Tạ Đức Hiển, Nguyễn Việt Nga, Phạm Đức
Minh “Cảm thụ văn Tiểu học 4” (2005) Nhà xuất bản Giáo dục.
Trong công trình nghiên cứu “Luyện tập về cảm thụ văn học ở Tiểu
học”, tác giả Trần Mạnh Hưởng đã xây dựng hệ thống bài tập phát hiện cái
hay cái đẹp trong ngôn từ tác phẩm văn chương nhằm giúp HS cảm hiểu được
giá trị nghệ thuật của việc sử dụng từ ngữ, hình ảnh thông qua hoạt động thực
hành. Tác giả Đinh Trọng Lạc đã có những chỉ dẫn cụ thể để HS có thể tự
mình khám phá ra vẻ đẹp của ngôn ngữ văn học trong các văn bản tập đọc lớp
4, lớp 5. Mặc dù ngữ liệu mà tác giả đưa ra làm dẫn chứng thuộc SGK của
chương trình trước năm 2000, nhưng cách thức mà tác giả hướng dẫn HS
CTVH, GV và HS vẫn có thể áp dụng thực hành được.
* Hướng thứ ba: nghiên cứu vấn đề dạy văn thông qua môn TV.
Có thể chia hướng nghiên cứu này thành hai hướng cụ thể sau:
- Nghiên cứu hoạt động dạy văn ở từng phân môn: nhiều tác giả quan
tâm đến vấn đề dạy văn ở Tiểu học thông qua hoạt động đọc hiểu trong giờ

- 6 -
Tập đọc như: Nguyễn Thị Hạnh “Rèn luyện kỹ năng đọc hiểu cho học sinh lớp
4, lớp 5 ” (1999). “Dạy đọc hiểu ở Tiểu học” (2002) Nhà xuất bản Đại học
Quốc gia. Nguyễn Trí: “Dạy tập làm văn ở trường Tiểu học”(1998) Nhà xuất
bản GD, “Luyện tập làm văn kể chuyện ở Tiểu học”(2001) Nhà xuất bản GD.
- Nghiên cứu hoạt động dạy văn thông qua các phân môn TV: Lê
Phương Nga: “Bồi dưỡng học sinh giỏi tiếng Việt ở Tiểu học” (2010) Nhà
xuất bản Đại học Sư phạm.

Tiểu học Hoàng Hoa Thám - Quận Ba Đình (nội thành Hà Nội) và học sinh
lớp 2, lớp 3 trường Tiểu học Uy Nỗ, huyện Đông Anh, ngoại thành Hà Nội.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu cơ sở lí luận và thực tiễn của các vấn đề về văn trong các
phân môn TV, quan điểm tích hợp và dạy tích hợp Ngữ Văn ở Tiểu học.
- Đề xuất những biện pháp để dạy văn tích hợp ở lớp 2, lớp 3 đạt kết quả cao.
- Tiến hành thực nghiệm sư phạm.
6. Phƣơng pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp tổng hợp các vấn đề lí thuyết
Phương pháp này được áp dụng để tổng hợp các công trình đã viết
về dạy văn tích hợp trong môn TV ở Tiểu học để tìm ra cơ sở lí luận cho
đề tài.
6.2 Phương pháp điều tra, khảo sát, thống kê
Phương pháp điều tra, khảo sát được sử dụng để đánh giá kiến thức
và kĩ năng văn của HS lớp 2, lớp 3 trường Tiểu học Hoàng Hoa Thám và
trường Tiểu học Uy Nỗ (thông qua điều tra về vốn sống, vốn hiểu biết và
hứng thú đọc văn của HS, thông qua bài làm văn, hoạt động ngoại khóa,
hoạt động ngoài giờ trên lớp của HS).

- 8 -
Thống kê, phân loại, nhận xét các phiếu điều tra, trên cơ sở đó tìm ra
các giải pháp dạy văn tích hợp trong môn TV cho HS lớp 2, lớp 3.
6.3 Phương pháp thực nghiệm
Bằng TN quan sát, phân loại, nêu và tìm hiểu việc dạy học Văn thông
qua môn TV ở các trường Tiểu học để từ đó tìm ra phương pháp dạy học có
hiệu quả, gây hứng thú cho HS.
Tổ chức kiểm tra đánh giá năng lực Văn (bằng phiếu khảo sát) của HS
cả trong và sau quá trình học tập môn TV có so sánh với lớp ĐC. Công cụ
kiểm tra đánh giá phải cụ thể có thể đo được. Công cụ đánh giá dùng cho cả
bài học TN và bài học ĐC.

chẽ. Còn nội dung, văn được thể hiện qua ngôn từ. Ngôn từ giúp xây dựng
lên hình tượng để thông qua hình tượng truyền tải được những quan điểm, ý
tưởng của tác giả.
Văn học là một loại hình nghệ thuật, là một bộ phận của hoạt động tinh
thần cơ bản làm nên sự phong phú của nhân cách, đặc biệt làm nảy sinh tư
tưởng, tình cảm, trí tưởng tượng, niềm tin và hành động nhân đạo cho con
người trong môi trường xã hội và tự nhiên. Văn học là nghệ thuật ngôn từ,

- 10 -
phản ánh cuộc sống bằng hình tượng, là nguồn suối quan trọng của tri thức,
kinh nghiệm sống của nhân loại mà con người cần tiếp thu và phát triển.
Văn học có chức năng xã hội, thẩm mĩ to lớn, cho nên tác phẩm văn
học được đưa vào chương trình GD trẻ em từ trước tuổi đến trường phổ thông
và trong suốt những năm học phổ thông. Với tư cách là một lĩnh vực văn hóa,
văn học được coi là một nội dung quan trọng trong chương trình TV ở Tiểu
học. Văn học dẫn dắt mở cửa cho con người ngay từ những bước chập chững
đầu tiên đi vào thế giới của các giá trị phong phú chứa đựng trong tác phẩm
nghệ thuật ngôn từ. Sự tiếp xúc thường xuyên với tác phẩm văn học được
chọn lọc sẽ phát triển ở trẻ ngôn ngữ, sự nhạy cảm thẩm mĩ, năng lực CTVH,
những tố chất ban đầu của năng khiếu nghệ thuật. Tiếp xúc với tác phẩm văn
học, trẻ học tiếng mẹ đẻ: học cách phát âm đúng, tích lũy vốn từ ngữ nghệ
thuật, học những mẫu câu hoàn hảo, sinh động, giàu sức biểu cảm. Từ đó, các
em biết yêu mến, trân trọng tiếng nói dân tộc, hứng thú bước vào hoạt động
văn học nghệ thuật. Văn học còn góp phần phát triển trí tuệ, tình cảm đạo
đức, làm phong phú đời sống tinh thần cho trẻ. Những ấn tượng đẹp đẽ về
những hình tượng nghệ thuật trong tác phẩm sẽ thúc đẩy ham muốn sáng tạo
nghệ thuật của trẻ. Những bài thơ, những câu chuyện kể, tranh vẽ chính là sự
thể hiện thế giới bên trong, là nhu cầu tự thể hiện mình của trẻ. Để làm cho
quá trình này phát triển có phương hướng, đạt mục đích, người làm công tác
GD, dạy học cần phải nắm được những quy luật làm cơ sở cho quá trình đó.

của văn bản. Nghĩa tường minh lại bao gồm nghĩa sự vật sự việc, còn gọi là
nghĩa miêu tả, và nghĩa tình thái. Nghĩa tình thái là nghĩa thể hiện tình cảm,
cảm xúc, thái độ của người viết (nói) với sự vật sự việc và với người đọc,
người nghe.

- 12 -
Trong phân môn Tập đọc ở Tiểu học, văn bản các bài đọc chủ yếu là
văn bản nghệ thuật, là những câu chuyện, bài thơ và là phần để HS luyện đọc.
Giờ Tập đọc, HS được rèn luyện các năng lực đọc trơn, đọc nhanh, đọc lướt;
đọc to, đọc nhỏ, đọc thầm; đọc đúng, đọc hiểu, đọc diễn cảm; đọc đúng tiếng,
từ, câu, đoạn, trên văn bản. Đọc văn bản để HS từng bước nhận ra và hiểu
nghĩa tường minh và một phần nghĩa hàm ẩn của văn bản. Còn nói theo sách
Ngữ Văn THCS, THPT thì đọc văn bản để làm hiện ra và hiểu tác phẩm trong
văn bản.
Tác phẩm là linh hồn chứa trong văn bản. Thông qua thao tác tinh thần
là hình dung, tưởng tượng kết hợp với những hiểu biết vốn có khi đọc văn bản
mà tác phẩm hiện lên trong đầu mỗi người đọc. Phân tách tác phẩm ra khỏi
văn bản là quan điểm của Lý thuyết tiếp nhận. Đi theo Lý thuyết này, môn
Văn ở THCS và THPT không gọi là giảng văn hay phân tích tác phẩm nữa mà
là đọc hiểu. Đọc văn bản để hiểu tác phẩm. Lý thuyết tiếp nhận đề cao vai trò
bạn đọc trong quá trình tiếp nhận.
“Văn bản là duy nhất, tác phẩm là vô vàn”, trong tiếp nhận văn học,
người đọc có thể tán thành, đồng cảm với tác phẩm, tác giả hoặc chối bỏ một
số vấn đề trong tác phẩm, người ta gọi đó là khoảng cách thẩm mĩ. Điều này
phụ thuộc vào sự từng trải của mỗi cá nhân, điều kiện xã hội, nhu cầu, hứng
thú, trình độ của người đọc. Kayser, nhà lí luận văn học theo chủ nghĩa cấu
trúc viết: "Tác phẩm văn học sống và phát sinh không phải là hồi quang của
một cái gì khác mà là một cấu trúc ngôn ngữ khép kín”.
Trong chương trình, SGK TV ở Tiểu học không có yêu cầu phải phân
biệt văn bản và tác phẩm, nhưng mỗi GV phải nhận thức rõ điều này.

nhân tố này tham gia và tạo nên hoạt động giao tiếp, đồng thời chi phối nó về
nhiều phương diện: nội dung, hình thức, mục đích, hiệu quả,…

- 14 -
Hoạt động dạy học TV trong lớp học của GV và HS cũng là hoạt động
giao tiếp. Đây là dạng giao tiếp có quy thức: có kế hoạch, có tổ chức, có
chương trình, … Trong hoạt động giao tiếp này, nhân vật giao tiếp là thầy cô
và HS, nội dung giao tiếp là kiến thức của bài học, phương tiện giao tiếp là
ngôn ngữ nói hoặc viết và một số phương tiện khác như tranh ảnh, máy
chiếu,…
Điều cần chú ý đó là GV cần hình thành và rèn cho HS ý thức và có kĩ
năng đặt vấn đề cần nói và viết vào từng hoàn cảnh giao tiếp cụ thể. Vận dụng
vốn sống vốn hiểu biết liên môn, HS luôn ý thức được nội dung mình tả, kể
là gì, cho ai nghe, tả kể với mục đích gì,… Khi xác định được như vậy, nội
dung giao tiếp của các em sẽ được định hướng rõ ràng, có tình cảm, có cảm
xúc.
1.1.2.2 Quan điểm biên soạn SGK TV ở bậc Tiểu học
Với mục đích rèn cho HS thuần thục bốn kĩ năng nghe, nói, đọc, viết,
SGK TV của chương trình sau năm 2000 được biên soạn theo các quan điểm
giao tiếp, tích hợp và tích cực. Các quan điểm đó cũng là phương châm dạy
học của GV khi sử dụng bộ SGK này. Nghiên cứu hoạt động dạy văn tích hợp
trong môn TV, chúng tôi đi sâu xem xét quan điểm tích hợp thể hiện trong
chƣơng trình, nội dung và phƣơng pháp dạy học môn TV ở Tiểu học.
Tích hợp nghĩa là tổng hợp trong một đơn vị học, thậm chí một tiết học
hay một bài tập nhiều mảng kiến thức và kĩ năng liên quan với nhau nhằm
tăng cường hiệu quả giáo dục và tiết kiệm thời gian học tập cho người học.
Có thể thực hiện tích hợp theo chiều ngang và tích hợp theo chiều dọc.
a. Tích hợp theo chiều ngang là tích hợp kiến thức tiếng Việt với các
mảng kiến thức về văn học, thiên nhiên, con người và xã hội theo nguyên tắc
đồng quy. Đây chính là giải pháp để thực hiện mục tiêu “cung cấp cho HS


- 16 -
để các kiến thức và kĩ năng ấy thực sự là của mỗi người học, góp phần hình
thành ở các em những phẩm chất mới của nhân cách. Sự tích hợp theo chiều
dọc thể hiện trên các mặt sau đây:
- Về chủ điểm:
Như trên đã nói, bộ SGK TV Tiểu học mới, thực hiện yêu cầu tích hợp
qua hệ thống các chủ điểm học tập và bài đọc gần gũi, thiết thực với đời sống
của trẻ. Sách dắt dẫn HS đi dần vào các lĩnh vực của đời sống, qua đó tăng
cường vốn từ, khả năng diễn đạt, đồng thời mở cánh cửa cho các em bước vào
thế giới xung quanh và soi vào thế giới tâm hồn của chính mình.
Ở lớp 1, HS được học theo các chủ điểm khá rộng: Nhà trường, Gia
đình, Thiên nhiên – Đất nước (phần Luyện tập tổng hợp, SGK TV1, tập II)
Lên lớp 2, các chủ điểm được chia nhỏ. Ví dụ: Nội dung 8 chủ điểm:
Em là học sinh, Bạn bè, Trường học, Thầy cô, Ông bà, Cha mẹ, Anh em, Bạn
trong nhà ở lớp 2 là sự chia nhỏ hai chủ điểm Nhà trường và Gia đình ở lớp
1. Việc chia nhỏ chủ điểm với thời lượng dành cho mỗi chủ điểm ít hơn, phù
hợp với sự phát triển nhận thức của trẻ, giúp trẻ duy trì hứng thú, loại trừ cảm
giác nhàm chán khi học một chủ điểm trong thời gian quá dài.
Ba chủ điểm mở đầu lớp 3 (Măng non, Mái ấm, Tới trường) lặp lại các
chủ điểm đã học ở lớp 2 nhưng có tính khái quát cao hơn, nghĩa là trở lại tầm
bao quát rộng như lớp 1 nhưng là một vòng xoáy ốc mới, cao hơn nhiều.
Ngay cách đặt tên cho các chủ điểm này ở lớp 3 cũng không còn “mộc mạc”
như ở lớp 1, lớp 2 nữa. So sánh: Gia đình (lớp 1) – Ông bà, Cha mẹ, Anh em,
Bạn trong nhà (lớp 2) – Mái ấm (lớp 3). Các chủ điểm từ tuần 7 đến tuần 34
của SGK TV3 (Cộng đồng, Quê hương, Bắc – Trung – Nam, Anh em một nhà,
Thành thị và nông thôn, Bảo vệ Tổ quốc, Sáng tạo, Nghệ thuật, Lễ hội, Thể
thao, Ngôi nhà chung, Bầu trời và mặt đất) hoàn toàn mới so với sách lớp
dưới.


HS ngay từ bậc tiểu học”.
1.1.3 Đặc điểm tâm lí lứa tuổi của học sinh tiểu học với việc bồi
dưỡng năng lực văn
1.1.3.1 Các em giàu xúc cảm và tình cảm
Giàu xúc cảm, tình cảm là nét tâm lí nổi bật ở trẻ thơ, đặc biệt là trẻ em
lứa tuổi Tiểu học. Nhìn chung, ở lứa tuổi này, tình cảm thống trị tất cả các
mặt trong hoạt động tâm lí của trẻ. Chính vì vậy mà nhận thức của trẻ cũng
mang đậm màu sắc cảm xúc. Trẻ luôn có nhu cầu được người khác quan tâm
và cũng luôn bày tỏ tình cảm của mình đối với mọi người xung quanh. Lứa
tuổi này đặc biệt nhạy cảm trước sự đổi thay của thế giới xung quanh và xúc
động, ngỡ ngàng trước những điều tưởng chừng như rất đơn giản. Một bông
hoa nở, một chiếc lá rơi, một con kiến tha mồi hay một đêm trăng sáng,…
cũng có thể làm cho trẻ xúc động một cách sâu sắc. Chính đặc điểm dễ nhạy
cảm này làm cho trẻ khi tiếp xúc với những câu chuyện, những bài thơ có thể
dễ dàng hóa thân vào nhân vật trong tác phẩm. Việc cho trẻ tiếp cận với tác
phẩm văn học, ngoài kiến thức, còn tạo cho trẻ một năng lực cảm nhận cái
đẹp, một thái độ để cảm nhận cuộc sống - một phong cách sống.
Trẻ càng lớn, tình cảm sẽ càng dần ổn định. Sự hiểu biết của trẻ sẽ
phong phú, phức tạp dần theo các mối quan hệ và những hiểu biết về thế giới
xung quanh. Chính vì vậy, từ những xúc cảm, tình cảm được nảy sinh trong
quá trình cảm thụ tác phẩm văn học, trẻ sẽ biết yêu thương mọi người cũng
như vạn vật xung quanh. Trẻ em luôn hứng thú về một cái gì đó. Như vậy,
cảm xúc chẳng những có mối quan hệ với nguồn kinh nghiệm cụ thể của trẻ
mà còn gắn bó với tư duy và hành động của trẻ. Nó trở thành một yếu tố tâm
lí góp phần phát triển nhân cách của trẻ.

- 19 -
Như đã nói ở trên, chính bởi trẻ Tiểu học giàu xúc cảm, tình cảm cho
nên sự tiếp nhận văn học của chúng cũng mang đậm màu sắc xúc cảm. Theo
quy luật chung, trẻ tiếp nhận mọi tri thức theo kiểu tư duy trực quan hình

Tiểu học. Đặc điểm của nó là thiên về những điều kì diệu khác thường. Đó là
thế giới thần tiên của truyện cổ tích, trong đó có những ông Bụt, bà Tiên tốt
bụng, với những nàng công chúa xinh đẹp, những chàng hoàng tử dũng cảm,
thông minh, Điều đó giải thích tại sao trẻ em nào cũng thích truyện cổ tích.
Nếu như người lớn hiểu tác phẩm văn học bằng kinh nghiệm và sự suy ngẫm
từ cuộc đời từng trải của mình thì trẻ em lại tiếp nhận tác phẩm văn học bằng
chính trực giác và tưởng tượng thiên bẩm của tuổi thơ. Nhờ trực giác, tưởng
tượng của tuổi thơ bao giờ cũng giàu có hơn người lớn. Có thể nói, tưởng
tượng là một năng lực không thể thiếu để cảm thụ và sống với các tác phẩm
văn học. Như vậy, trí tưởng tượng phong phú của trẻ chính là tiền đề để
chúng ta thực hiện việc đưa tác phẩm văn học đến với trẻ. Trẻ sử dụng trí
tưởng tượng của mình để tiếp thu sáng tạo nghệ thuật và ngược lại, trí tưởng
tượng phong phú, bay bổng trong các tác phẩm văn học cũng sẽ chắp cánh
cho những ước mơ, những hoài bão và sự sáng tạo của trẻ. GV cần có sự hiểu
biết và những kĩ năng cảm thụ tác phẩm để tìm ra con đường tốt nhất giúp trẻ
tiếp nhận tác phẩm một cách có hiệu quả.
1.1.3.3 Tư duy trực quan hình tượng
Tư duy là một trong những đặc điểm tâm lí quan trọng, có ảnh hưởng
trực tiếp đến sự tiếp nhận văn học của trẻ. Với sự tung hoành của trí tưởng
tượng cùng với tính “duy kỉ” rất cao, trẻ em lứa tuổi Tiểu học luôn lấy mình
làm trung tâm để nhìn nhận thế giới xung quanh. Với cách nhìn như vậy và trí
tưởng tượng phong phú, vạn vật trong thế giới qua con mắt trẻ thơ đều trở nên
sinh động và có hồn. Các em tìm thấy trong thiên nhiên, đời sống của chính

- 21 -
mình và chúng hòa mình vào thiên nhiên, đồng nhất thế giới xung quanh với
chính bản thân mình. Chỉ có nhà thơ và trẻ em mới có thể nhìn vạn vật ra con
người, nhìn thiên nhiên có linh hồn và tâm trạng. Chính khả năng đồng hóa ấy
khiến trẻ có thể giao cảm với thế giới nghệ thuật trong tác phẩm, để có thể
hiểu về thế giới bằng tâm hồn và ngôn ngữ rất thơ của mình.

1.2 Cơ sở thực tiễn
Để hiểu thực tiễn GV Tiểu học hiện nay có ý thức được tầm quan trọng
của hoạt động dạy văn tích hợp qua môn TV cho HS không, chúng tôi đã
khảo sát sơ lược nội dung chương trình văn trong SGK Tiểu học từ năm 1981
trở về trước đồng thời làm rõ thành phần văn trong SGK TV chương trình
CCGD trước năm 2000 và trong chương trình SGK TV từ năm 2000 đến nay.
Từ đó chúng tôi điều tra thực tế bồi dưỡng năng lực văn cho HS trong dạy học
TV ở một số trường Tiểu học.
1.2.1 Nội dung Văn trong chương trình và SGK TV ở Tiểu học
1.2.1.1 Vị trí thành phần văn trong chương trình và SGK TV trước
năm 2000
Trong cuốn “Dạy và học môn TV ở trường Tiểu học theo chương trình
mới”, (Nhà xuất bản Giáo dục, 2009) Phó Giáo sư Nguyễn Trí đã nêu bật
những đặc điểm cơ bản của chương trình TV qua từng giai đoạn cụ thể, trong
đó có nhấn mạnh đến mục tiêu dạy văn ở Tiểu học trong mỗi chương trình.
* Chương trình môn Ngữ văn ở Tiểu học năm 1956
Môn Ngữ văn trong chương trình năm 1956 được giải thích là gồm hai
bộ phận : TV và Văn học. Các phân môn Tập đọc, Học thuộc lòng, Kể chuyện
thuộc môn Văn học. Các phân môn Tập chép, Chính tả, Ngữ pháp, Tập làm
văn thuộc môn TV. Mặc dù việc chia các phân môn thuộc môn Văn học hoặc
TV và việc xác định nhiệm vụ cụ thể của từng phân môn còn chưa toàn diện,

- 23 -
nhưng chương trình đã xác định rất rõ nhiệm vụ dạy văn ở Tiểu học. Phân
môn Tập đọc có nhiệm vụ giáo dục thẩm mĩ, nâng cao lòng yêu nghệ thuật,
yêu cái đẹp qua việc khai thác nội dung các bài Tập đọc trích từ tác phẩm văn
chương có giá trị nghệ thuật cao. Với phân môn Kể chuyện cũng vậy, phân
môn này bên cạnh nhiệm vụ rèn kĩ năng kể chuyện còn có nhiệm vụ bồi
dưỡng tâm hồn và tăng vốn sống, vốn văn học cho HS.
* Chương trình môn TV cấp I năm 1981 và 1986.

Trung tâm Thực Nghiệm Giảng Võ từ năm 1978 cho rằng ở Tiểu học
phải dạy văn, vì văn là nhu cầu thiết yếu của con người. Nhà trường chủ
chương tách Văn ra khỏi môn TV từ Tiểu học, bởi hai môn học đó có hai đối
tượng khác nhau. Học TV là học môn khoa học, còn học Văn là học môn
nghệ thuật. Họ quan niệm rằng dạy văn là biến tác phẩm của tác giả thành tác
phẩm của mỗi cá nhân người học. HS viết văn phải có rung cảm thực sự trước
tác phẩm, chứ không phải học thuộc lòng nhắc lại rung cảm của người khác
một cách vô cảm. Vì vậy mà nhà trường đã biên soạn hệ thống sách văn, sách
thiết kế, xây dựng quy trình dạy văn riêng cho chương trình Tiểu học.
Điểm qua các chương trình TV trước năm 2000, chúng tôi nhận thấy
các chương trình này đều chú trọng kết hợp dạy tiếng Việt với văn học, chú
trọng dạy tiếng Việt trên cơ sở ngữ liệu là các trích đoạn từ các tác phẩm văn
học. Đặc điểm này tạo điều kiện cho HS hấp thu được tinh hoa tiếng Việt qua
ngôn ngữ mang tính nghệ thuật của các giá trị văn học dân tộc.
Chương trình cũng chú trọng dạy TV với phát triển tư duy và mở rộng
tri thức về tự nhiên và xã hội, về Việt Nam và thế giới của HS. Đặc điểm này
cùng với những đặc điểm trên cho thấy việc dạy học TV ở Tiểu học đã tiềm ẩn
tinh thần tích hợp, đặc biệt là tích hợp văn trong TV. Và nếu nói thật chính xác
thì cả một giai đoạn dài trước năm 1981, TV được dạy trên cơ sở dạy Văn.

- 25 -
1.2.1.2 Vị trí của thành phần văn trong chương trình, sách giáo khoa
Tiếng Việt sau năm 2000.
Hiện nay, cấp học THCS và THPT, môn Văn và TV cũng đã tích hợp
thành môn Ngữ Văn. Dạy văn là dạy đọc hiểu văn bản. Dạy Ngữ Văn phải tập
trung vào hai hoạt động cơ bản của giao tiếp là giải mã văn bản, còn gọi là
tiếp nhận văn bản, đọc hiểu văn bản và ký mã văn bản, còn gọi là tạo lập văn
bản, là làm văn. Dạy TV ở Tiểu học là chuẩn bị cho việc dạy đọc hiểu Ngữ
Văn ở các cấp học trên.
* Mục tiêu, nhiệm vụ chương trình TV ở Tiểu học


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status