BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
ĐỖ THỊ NGUYỆT
DẠY VĂN TÍCH HỢP TRONG
MÔN TIẾNG VIỆT Ở LỚP 4, LỚP 5 LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Đỗ Huy Quang
HÀ NỘI, 2012LỜI CẢM ƠN
Học viên xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới Ban giám hiệu
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội II; các Thầy, cô giáo khoa Sau đại học;
các Thầy, cô giáo đã giảng dạy và tập thể lớp Cao học K14 Giáo dục học
đã giúp đỡ, động viên và tạo mọi điều kiện để học viên có thể hoàn
thành khóa học cũng như luận văn tốt nghiệp.
Đặc biệt, học viên xin được gửi lời biết ơn chân thành nhất tới
Giảng viên hướng dẫn khoa học PGS.TS Đỗ Huy Quang. Trong suốt
thời gian học tập tại trường, thầy đã dạy dỗ, chỉ bảo tận tình để học viên
hoàn thành Luận văn Cao học này.
Xin chân thành cảm ơn !
NỘI DUNG
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ DẠY
VĂN TÍCH HỢP TRONG CÁC PHÂN MÔN CỦA TIẾNG VIỆT Ở
LỚP 4, LỚP 5 6
1.1 Cơ sở lí luận 6
1.1.1 Cơ sở văn học 6
1.1.2 Cơ sở ngôn ngữ 18
1.1.3 Cơ sở tâm lí 25
1.2 Cơ sở thực tiễn 29
1.2.1 Nội dung văn trong chương trình và SGK ở tiểu học 29
1.2.2 Thực tiến hoạt động dạy văn tích hợp trong các phân môn TV ở lớp
4, lớp 5 33
CHƯƠNG II: MỘT SỐ BIỆN PHÁP DẠY VĂN TÍCH HỢP TRONG
CÁC PHÂN MÔN TIẾNG VIỆT Ở LỚP 4, LỚP 5 42
2.1 Biện pháp dạy văn tích hợp trong phân môn Tập đọc ở lớp 4, lớp 5 42
2.1.1 Biện pháp bồi dưỡng vốn sống, vốn hiểu biết trong phân môn Tập
đọc ở lớp 4, lớp 5 42
2.1.2 Biện pháp bồi dưỡng kiến thức về văn qua phân môn Tập đọc ở lớp
4, lớp 5. 48
2.1.3 Biện pháp bồi dưỡng kĩ năng cảm thụ và tư duy cho HS trong quá
trình dạy học phân môn Tập đọc ở lớp 4, lớp 5 55
2.2 Biện pháp dạy văn tích hợp trong phân môn Kể chuyện ở lớp 4, 69
2.2.1 Biện pháp bồi dưỡng vốn sống, vốn hiểu biết trong phân môn Kể
chuyện ở lớp 4, lớp 5 70
2.2.2 Biện pháp bồi dưỡng kiến thức về văn qua phân môn Kể chuyện ở
lớp 4, lớp 5 73
2.2.3 Biện pháp bồi dưỡng kĩ năng cảm thụ và tư duy cho HS trong quá
trình dạy học phân môn Kể chuyện ở lớp 4, lớp 5 75
2.3 Biện pháp dạy văn tích hợp trong phân môn Tập làm văn ở lớp 4,
3.4.2 Giáo án thực nghiệm 106
3.4.3. Giáo án đối chứng 116
3.5 Đánh giá kết quả thực nghiệm 116
3.5.1 Hình thức đánh giá kết quả thực nghiệm 116
3.5.2 Kết quả thực nghiệm 117
KẾT LUẬN 122
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 124
DANH MỤC VIẾT TẮT
CCGD
: Cải cách Giáo dục
CTVH
: Cảm thụ văn học
THCS
: Trung học cơ sở
THPT
: Trung học phổ thông
SGK
: Sách giáo khoa
TV
: Tiếng Việt
GD
: Giáo dục
GV
: Giáo viên
HS
1.2 Bậc tiểu học cần phải dạy văn và dạy văn tích hợp
Lớp 4 và 5 là hai lớp cuối cấp. Các em sẽ học lên bậc học trên, sẽ học
đọc hiểu văn bản, thuộc môn Ngữ Văn, Ở Phòng giáo dục, hàng năm đều tổ
chức các kỳ thi chọn HS giỏi, trong đó có nội dung thử thách năng khiếu văn.
HS muốn dự thi phải được rèn cách cảm thụ văn và viết văn. Chúng tôi dạy
lớp 4 và 5 phải tìm đủ loại sách: TV nâng cao, bồi dưỡng cảm thụ văn, bài thi
2
HS giỏi để bồi dưỡng năng lực văn cho các em. HS giỏi văn thường có ý
thức đọc thêm nhiều sách, thuộc nhiều thơ, sưu tầm nhiều lời nói hay, ý nghĩa.
Từ đó, các em ham thích và học tốt các phân môn TV. Nhưng thời gian để bồi
dưỡng HS giỏi thường cấp tập trong một thời gian ngắn, để đối phó nên thày
trò đều mệt mỏi, hiệu quả không cao. Chúng tôi nghĩ, nếu xác định được nội
dung văn cần chuẩn bị cho HS, rồi bồi dưỡng cho các em trong suốt năm học,
thông qua các bài học thuộc các phân môn, các hoạt động nội khóa, ngoại
khóa, thì khả năng văn học của các em và chất lượng dạy TV nhất định được
cải thiện.
1.3 Hiểu biết về văn và cách dạy văn là nhu cầu của mỗi người GV
tiểu học
Là GV tiểu học đang trực tiếp đứng lớp, dạy cho khối 4 và 5 chúng tôi
ý thức được tầm quan trọng, sự cần thiết phải dạy văn, bồi dưỡng năng lực
văn cho HS. Các bài tập đọc, câu chuyện kể, đoạn văn đoạn thơ để dạy Tập
làm văn, Luyện từ và câu, đều là những văn bản nghệ thuật. Phải làm cho HS
cảm nhận được cái hay cái đẹp, ý nghĩa sâu xa và ham thích đọc những văn
bản đó thì giờ học mới sinh động, hấp dẫn. Từ đó, mọi mục tiêu rèn kỹ năng
tiếng Việt, hình thành tình yêu tiếng Việt, hình thành nhân cách cho HS mới
đạt được theo chiều sâu một cách tự nhiên. Nhưng dạy văn ở tiểu học rất khó
khăn. Văn vốn trừu tượng, tiếp nhận văn cần đến những khái niệm về văn mà
HS tiểu học đều chưa có. Vậy có thể dạy những gì về văn cho HS lớp 4, lớp 5,
và dạy bằng cách nào. Chúng tôi muốn tự mình khám phá, hiểu biết, bổ sung
cho hành trang kinh nghiệm nghề nghiệp để đảm bảo dạy tốt, hiệu quả cao
pháp dạy học Tiếng Việt ở tiểu học II (2010) của Lê Phương Nga, NXB ĐHSP
4
Hà Nội. Những cuốn sách này đã cung cấp cho GV tiểu học những tri thức
chuyên sâu về năng lực cảm thụ văn học và phương pháp bồi dưỡng cảm thụ văn
chương cho HS.
Trong các công trình nghiên cứu đã công bố, chúng tôi thấy hoạt động dạy
văn tích hợp trong các phân môn Tiếng Việt cho HS lớp 4, lớp 5 chưa có
công trình nào đi sâu tìm hiểu. Các bài báo, cuốn sách nghiên cứu những vấn
đề liên quan đến đề tài đề tài luận văn của chúng tôi sẽ là những gợi ý và định
hướng quan trọng để chúng tôi tham khảo và đi tiếp.
3. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
3.1 Tìm ra các biện pháp dạy văn tích hợp để góp phần nâng cao chất
lượng dạy và học các phân môn TV lớp 4, lớp 5.
3.2 Nhận thức đầy đủ và thực hiện triệt để quan điểm dạy học tích hợp
Ngữ Văn của Bộ giáo dục và đào tạo.
4. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
4.1 Tìm hiểu cơ sở lí luận và thực tiễn của các vấn đề về văn, văn trong
các phân môn TV, quan điểm tích hợp và dạy văn tích hợp trong các phân môn
Tiếng Việt ở Tiểu học.
4.2 Đề xuất những biện pháp để dạy văn tích hợp ở lớp 4, lớp 5 phù
hợp với HS tiểu học và đạt kết quả cao.
4.3 Tiến hành thực nghiệm sư phạm.
5. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
5.1. Đối tượng nghiên cứu
Chương trình, SGK và hoạt động dạy học tích hợp văn trong các phân
môn TV.
5.2 Phạm vi nghiên cứu
- Luận văn nghiên cứu về việc dạy văn tích hợp trong một số phân môn
TV ở khối lớp 4, lớp 5.
5
1.1 Cơ sở lí luận
1.1.1 Cơ sở văn học
1.1.1.1 Tầm quan trọng của hoạt động dạy văn trong trường tiểu học
Văn học là một loại hình nghệ thuật, là một bộ phận hoạt động tinh
thần cơ bản làm nên sự phong phú của nhân cách, đặc biệt làm nảy sinh tư
tưởng, tình cảm, trí tưởng tượng, niềm tin và hành động nhân đạo cho con
người trong môi trường xã hội và tự nhiên. Văn học là nghệ thuật ngôn từ,
phản ánh cuộc sống bằng hình tượng, là nguồn suối quan trọng của tri thức,
kinh nghiệm sống của nhân loại mà con người cần tiếp thu và phát triển.
Văn học có chức năng xã hội, thẩm mỹ to lớn, cho nên tác phẩm văn
học được đưa vào chương trình giáo dục trẻ em từ trước tuổi đến trường phổ
thông và trong suốt những năm học phổ thông.
* Văn bản và tác phẩm
- Văn bản:
Văn bản là sản phẩm hoàn chỉnh của một hành vi tạo lời hay phát ngôn,
mang một nội dung giao tiếp xác định, thể hiện dưới dạng âm thanh hay chữ
viết. Văn bản có tính hoàn chỉnh, được triển khai một cách đầy đủ, chính xác,
mạch lạc. Các phần, các đoạn, các câu được tổ chức, sắp xếp theo một trật tự
hợp lí để thể hiện nội dung của văn bản. Văn bản có tính mạch lạc về nội
dung và liên kết chặt chẽ về hình thức.
Văn bản gồm có văn bản nghệ thuật, văn bản khoa học, văn bản hành
chính, văn bản công vụ,…. Văn bản nghệ thuật thể hiện rõ quan điểm, ý
tưởng, cảm xúc của người viết. Các văn bản còn lại đòi hỏi tính chính xác và
khách quan cao. Trong văn bản nghệ thuật, nếu xét về mặt ngữ nghĩa sẽ bao
7
gồm nghĩa tường minh và nghĩa hàm ẩn. Nghĩa tường minh là nghĩa được
biểu hiện trên bề mặt của các từ ngữ, câu, đoạn trên văn bản. Nghĩa hàm ẩn là
nghĩa được suy ra từ nghĩa tường minh và từ hoàn cảnh giao tiếp cụ thể của
văn bản. Nghĩa tường minh lại bao gồm nghĩa sự vật sự việc, còn gọi là nghĩa
miêu tả, và nghĩa tình thái. Nghĩa tình thái là nghĩa thể hiện tình cảm, cảm xúc,
tích mục tiêu môn TV
* Mục tiêu, nhiệm vụ chương trình Tiếng Việt ở Tiểu học
Chương trình tiểu học mới (ban hành theo Quyết định ngày 9/11/2001
của Bộ Giáo dục và Đào tạo) xác định mục tiêu, nhiệm vụ như sau:
“Môn Tiếng Việt ở trường tiểu học nhằm:
1. Hình thành và phát triển ở học sinh các kĩ năng sử dụng tiếng Việt
(nghe, nói, đọc, viết) để học tập và giao tiếp trong các môi trường hoạt động
của lứa tuổi. Thông qua việc dạy và học tiếng Việt, góp phần rèn luyện các
thao tác tư duy.
2. Cung cấp cho học sinh những kiến thức sơ giản về tiếng Việt và
những hiểu biết sơ giản về xã hội, tự nhiên và con người, văn hóa, văn học
của Việt Nam và nước ngoài.
3. Bồi dưỡng tình yêu tiếng Việt và hình thành thói quen giữ gìn sự
trong sáng, giàu đẹp của tiếng Việt, góp phần hình thành nhân cách con
người Việt Nam xã hội chủ nghĩa”.
Dựa theo các cuốn sách viết về bồi dưỡng năng lực cảm thụ văn
chương cho HS Tiểu học, có thể xác định kiến thức và kỹ năng văn ở Tiểu
học gồm 3 nội dung như sau:
- Bồi dưỡng vốn sống cho học sinh bằng cách cung cấp nhiều câu
chuyện, bài thơ, đoạn văn, trong đó chứa đựng những tri thức phong phú và
9
đa diện về cuộc sống, con người để học sinh tích lũy tri thức và kinh nghiệm
cuộc sống.
- Bồi dưỡng vốn tri thức Ngữ Văn cho học sinh Tiểu học, bao gồm tri
thức về thể loại văn học, về thành phần của nội dung, nghệ thuật tác phẩm
văn học, về đặc điểm của ngôn ngữ nghệ thuật, về cách đọc hiểu các tầng
nghĩa trong văn bản nghệ thuật.
- Rèn kỹ năng tư duy và trau dồi vốn ngôn ngữ cho học sinh, bao gồm:
+ Kỹ năng đọc hiểu, gồm nhiều thao tác của tư duy lôgic như phân tích,
tổng hợp, so sánh, đánh giá, suy luận của tư duy hình tượng như: quan sát,
biểu, hiểu được nội dung, ý nghĩa, lời khuyên của bài. Sự thông hiểu nội dung
sẽ chi phối trở lại tạo ra một cách đọc có chất lượng hơn. Có những bài là
trích đoạn của các tác phẩm lớn nhưng hệ thống câu hỏi khai thác bài phù hợp
với trình độ nhận thức của từng khối lớp. Từ đó, HS hiểu được chất văn chứa
đựng trong mỗi tác phẩm. Hệ thống câu hỏi tìm hiểu bài mà SGK biên soạn
bao gồm những câu hỏi tái hiện (yêu cầu thuật lại câu chữ, hình ảnh, chi tiết,…
trong bài học) và câu hỏi suy luận (yêu cầu phán đoán, phân tích, tổng hợp, nêu
ý kiến riêng,…).
Ví dụ:
- Bài “Mẹ ốm” (TV4 - tập 1)
1. Em hiểu những câu thơ sau muốn nói lên điều gì?
Lá trầu khô giữa cơi trầu
Truyện Kiều gấp lại trên đầu bấy nay
Cánh màn khép lỏng cả ngày
Ruộng vườn vắng mẹ cuốc cày sớm trưa
11
2. Sự quan tâm chăm sóc của xóm làng đối với mẹ của bạn nhỏ được thể
hiện qua những câu thơ nào?
3. Những chi tiết nào trong bài thơ bộc lộ tình yêu thương sâu sắc của
bạn nhỏ đối với mẹ?
* Ngoài ra, định hướng rèn luyện năng lực văn trong phân môn Tập đọc
còn thể hiện rõ nét ở phần “Luyện đọc diễn cảm”. Đọc diễn cảm là một yêu
cầu đặt ra khi đọc những văn bản văn chương hoặc có các yếu tố của ngôn
ngữ nghệ thuật. Đó là việc đọc thể hiện ở kĩ năng làm chủ ngữ điệu, chỗ
ngừng giọng, cường độ giong v.v để biểu đạt đúng ý nghĩ và tình cảm mà
tác giả gửi gắm trong bài đọc, đồng thời biểu hiện được sự thông hiểu, cảm
thụ của người đọc đối với tác phẩm.
* Thành phần văn trong phân môn Kể chuyện
Kể chuyện cũng là phân môn chiếm nhiều thời lượng trong chương
trình TV, đó là vì vị trí và tầm quan trọng của nó trong việc hình thành nhân
mở rộng vốn hiểu biết về đời sống. Các em được tiếp xúc với các mảng hiện
thực khác nhau và hiểu rõ hơn về nhà trường, bạn bè, thầy cô, biết thêm về
cây cối, vật nuôi trong nhà, về thế giới tự nhiên bao la xung quanh,… Ngữ
liệu cung cấp cho HS vẻ đẹp tiếng Việt có trong hàng trăm tình huống giao
tiếp tự nhiên khác nhau, từ đó giúp các em học cách dùng tiếng Việt sao cho
chính xác, tinh tế, biểu cảm
Ngữ liệu được lấy từ những mảng giao tiếp tươi nguyên sự sống sẽ giúp
GV và HS dễ dàng vượt qua những nội dung môn học từ ngữ, ngữ pháp mà
xưa nay vẫn bị định kiến là: khô, khó. Ngữ liệu với nội dung gần gũi quen
thuộc và được diễn đạt trong sáng, nghệ thuật ngoài mục đích làm vật liệu
mẫu để mở rộng vốn từ, nhận biết các kiểu câu,… còn phải đáp ứng yêu cầu
là ngữ liệu về lời nói chuẩn mực, lời nói văn hóa để các em học tập.
13
Ví dụ:
Bài Luyện tập viết tên người, tên địa lý Việt Nam (TV4 – tập 1)
Câu 1: Viết lại cho đúng các tên riêng trong bài ca dao sau:
Rủ nhau chơi khắp Long Thành
Ba mươi sáu phố rành rành chẳng sai:
Hàng bồ, hàng bạc, hàng gai
Hàng Buồm, Hàng Thiếc, Hàng hài, Hàng Khay
Mã vĩ, Hàng Điếu, hàng giày
Hàng Lờ, hàng cót, hàng mây, hàng Đàn
GV cũng có thể khai thác chất văn từ những bài học Luyện từ và câu về
biện pháp tu từ so sánh, nhân hóa; các kiến thức về tiếng Việt. Bởi vì khi dạy
HS nắm vững các biện pháp này, GV một mặt giúp HS hiểu cái hay cái đẹp
của ngôn từ tiếng Việt, mặt khác giúp các em có kĩ năng viết các câu văn giàu
hình ảnh.
Ví dụ:
Bài Đại từ xưng hô (TV5 – Tập 1 – Trang 104)
Trong phân môn Tập làm văn, một số kiểu văn bản (như miêu tả, kể
chuyện) có liên quan mật thiết đến việc dạy các yếu tố văn cho HS. Các bài
văn, đoạn văn mẫu được chọn lựa cũng phải là những văn bản nghệ thuật.
Ví dụ:
Bài Luyện tập tả cảnh (TV5 – Tập 1 – Trang 31)
Câu 1: Đọc bài văn sau và trả lời câu hỏi:
Mưa rào
Một buổi có những đám mây lạ bay về. Những đám mây lớn, nặng và
đặc xịt lổm ngổm đầy trời. Mây tản ra từng nắm nhỏ rồi san đều trên một nền
15
đen xám xịt. Gió nam thổi giật mãi. Gió bỗng đổi mát lạnh, nhuốm hơi nước.
từ phía nam bỗng nổi lên một hồi khua động dạt dào. Mưa đã xuống bên kia
sông: gió càng thêm mạnh, mặc sức điên đảo trên cành cây.
Mưa đến rồi, lẹt đẹt lẹt đẹt mưa giáo đầu. Những giọt nước lăn
xuống mái phên nứa: mưa thực rồi. Mưa ù xuống khiến cho mọi người không
tưởng được là mưa lại kéo đến chóng thế. Lúc nãy là mấy giọt lách tách, bây
giờ bao nhiêu nước tuôn rào rào. Nước xiên xuống, lao xuống, lao vào trong
bụi cây. Lá đào, lá na, lá sói vẫy tai run rẩy. Con gà sống ướt lướt thướt ngật
ngưỡng tìm chỗ trú. Mưa xuống sầm sập, giọt ngã, giọt bay, bụi nước tỏa
trắng xóa .
(Theo Tô Hoài)
Tập đọc và Kể chuyện cung cấp sẵn một ngữ liệu văn chương, còn các
kiểu bài Tập làm văn này lại yêu cầu HS phải sáng tạo nên các ngữ liệu ấy.
Những kết quả sáng tạo của các em chưa hẳn đã có được chất văn, nhưng từ
góc nhìn của người dạy học thì đây chính là con đường đi đến với thế giới văn
chương của các em. Bồi dưỡng năng lực văn là một trong những nội dung
quan trọng trong dạy học phân môn Tập làm văn.
* Thành phần văn trong phân môn Chính tả
Nếu hiểu văn là cái đẹp thì việc dạy HS suy nghĩ hướng tới cái đẹp, biết
nói lời đẹp, tạo ra những văn bản đẹp là GV đã dạy văn cho HS. Phân môn
Trong lý thuyết tiếp nhận văn chương, ta đã biết rằng, để tiếp nhận một
cách tốt nhất thì người đọc phải có một tầm đón nhất định, và ta cũng cần
quan tâm đến khoảng cách giữa bạn đọc và tác phẩm, bạn đọc và nhà văn.
Tầm đón của bạn đọc ở mức độ nào thì tiếp nhận văn chương ở mức độ đó. Vì
thế trường học phải có kế hoạch nâng cao tầm đón cho HS. Khoảng cách về
17
thời điểm sống, văn hóa, phong tục, biểu tượng của người đọc so với nhà văn,
với tác phẩm không giống nhau. Chính vì thế người dạy cần hướng dẫn cho
HS biết lấp đầy dần khoảng cách bằng việc cung cấp vốn sống, vốn hiểu biết
cho HS.
+ Bồi dưỡng kiến thức về văn :
Kiến thức về văn là những hiểu biết về tác phẩm văn học và ngôn ngữ
nghệ thuật. Những kiến thức đó trước hết là sự hiểu biết về nội dung, nghệ
thuật, giá trị của tác phẩm văn học.
Cung cấp dần cho HS những kiến thức về văn như tác phẩm, văn bản,
văn bản nghệ thuật, nhà văn, hình ảnh, cốt truyện, nhân vật, chi tiết nghệ thuật,
biện pháp tu từ, Đây chính là công cụ để HS khám phá văn bản.
Chương trình và SGK TV tiểu học đã lựa chọn, giới thiệu những đoạn
văn, câu thơ và những tác phẩm có giá trị thuộc nhiều quốc gia trên thế giới.
Có khi chúng được chế tác lại sao cho phù hợp với lứa tuổi tiểu học. Đó là
ngữ liệu của các bài Tập đọc, Kể chuyện và Tập làm văn Nói chung, với các
câu thơ, đoạn văn, bài thơ hay truyện kể đều có yêu cầu đọc – hiểu, có câu
hỏi tìm hiểu nội dung và nghệ thuật, nhằm giúp các em có được những hiểu
biết cụ thể về giá trị mỗi tác phẩm.
Tổng số những hiểu biết cụ thể đó cho phép các em sau này sẽ tiến xa
hơn trong việc khám phá ý nghĩa xã hội – nhân văn, lịch sử văn học, phong
cách nhà văn trong từng tác phẩm cụ thể, cũng như trong các giai đoạn, các
thời đại
Quá trình đó cũng giúp HS tích lũy được vốn từ, ngày càng phong phú,
có được khả năng diễn đạt một cách chính xác, mạch lạc, linh hoạt và tinh tế.