Kinh nghiệm dạy học phát huy tính tích cực trong môn Tiêng Việt cho HS lớp 1 dân tộc thiểu số.
MỤC LỤC
TT
Nội dung
Trang
I
PHẦN MỞ ĐẦU
3
I.1
Lý do chọn đề tài
3
I.2
Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài
3
I.3
Đối tượng nghiên cứu
Thuận lợi, khó khăn
5-6
b
Thành công, hạn chế
6
c
Mặt mạnh, mặt yếu
6-7
d
Các nguyên nhân, các yếu tố tác động
e
Phân tích, đánh giá các vấn đề về thực trạng mà đề tài đã đặt ra
7
7–8
II.3
Kết quả khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề nghiên cứu
II.4 Kết quả thu được qua khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề
nghiên cứu
III
PHẦN KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
15 – 16
16
16
1
Trần Thị Minh – TH Võ Thị Sáu
Kinh nghiệm dạy học phát huy tính tích cực trong môn Tiêng Việt cho HS lớp 1 dân tộc thiểu số.
III.1 Kết luận
16 - 17
III.2 Kiến nghị
17 – 18
19
Tài liệu tham khảo
KINH NGHIỆM DẠY HỌC PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC TRONG MÔN
lí do nêu trên, tôi đã suy nghĩ, nghiên cứu và chọn đề tài: " Kinh nghiệm dạy học
phát huy tính tích cực trong môn Tiếng Việt cho học sinh lớp Một dân tộc thiểu số”
nhằm nâng cao chất lượng học Tiếng Việt lớp Một.
I. 2. Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài
Mục tiêu của đề tài là nghiên cứu thực trạng về việc dạy học tiếng Việt lớp
một. Phân tích những thuận lợi và khó khăn khi dạy và học tiếng Việt ở lớp 1 học
sinh dân tộc thiểu số.
Nhiệm vụ của đề tài là đề xuất một số biện pháp nhằm phát huy tính tích cực,
chủ động cho học sinh trong môn Tiếng Việt nhằm nâng cao chất lượng học tiếng
Việt đối với học sinh lớp Một dân tộc thiểu số.
I. 3. Đối tượng nghiên cứu
Học sinh lớp 1A trường tiểu học Võ Thị Sáu.
I. 4. Giới hạn phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu việc dạy học môn Tiếng Việt lớp 1 tại trường Tiểu học Võ Thị Sáu
từ năm học 2013- 2014, năm học 2014 - 2015.
I. 5. Phương pháp nghiên cứu
3
Trần Thị Minh – TH Võ Thị Sáu
Kinh nghiệm dạy học phát huy tính tích cực trong môn Tiêng Việt cho HS lớp 1 dân tộc thiểu số.
Để hoàn thành đề tài này, tôi đã sử dụng các phương pháp sau:
a. Phương pháp nghiên cứu tài liệu: nghiên cứu sách giáo khoa Tiếng Việt Một,
nghiên cứu cơ sở lí luận của việc dạy học phát huy tính tích cực.
b. Phương pháp quan sát: Đây là phương pháp giúp ta quan sát thái độ, hành vi
của học sinh, phát hiện ra những hành vi, cử chỉ của học sinh trong học tập, sinh
hoạt...Để phát huy tính tích cực, tự giác của học sinh.
c. Phương pháp thực nghiệm: Dự giờ trao đổi ý kiến với đồng nghiệp về các
kiến thức, kĩ năng đối với học sinh lớp Một, tổng kết rút kinh nghiệm trong quá trình
Hiểu nghĩa của các từ ngữ thông thường và nội dung thông báo của câu văn, đoạn
4
Trần Thị Minh – TH Võ Thị Sáu
Kinh nghiệm dạy học phát huy tính tích cực trong môn Tiêng Việt cho HS lớp 1 dân tộc thiểu số.
văn. Viết đúng chữ viết thường, chép đúng chỉnh tả đoạn văn, nghe hiểu lời giảng và
lời hướng dẫn của giáo viên. Nói rõ ràng, biết trả lời câu hỏi đơn giản.
Quá trình dạy học gồm hoạt động có quan hệ hữu cơ: Hoạt động dạy của giáo
viên và hoạt động học của học sinh. Cả hai hoạt động này đều được tiến hành nhằm
thực hiện mục đích giáo dục. Hoạt động học tập của học sinh chính là hoạt động
nhận thức. Hoạt động này chỉ có hiệu quả khi học sinh học tập một cách tích cực chủ
động, tự giác với một động cơ nhận thức đúng đắn. Luôn luôn phát huy tích cực, chủ
động trong hoạt động học tập của học sinh ở mỗi tiết học, đó chính là dạy học tích
cực.
Dạy học nhằm phát huy tính tích cực của học sinh đòi hỏi người dạy phải coi
trọng việc tổ chức các hoạt động của học sinh, tạo điều kiện để học sinh tìm tòi, tiếp
nhận tri thức, tạo điều kiện để các em chủ động, chú ý hình thành khả năng tự học
của mình.
Dạy học nhằm phát huy tính tích cực của học sinh có tác dụng phát huy tính
độc lập sáng tạo, hình thành thói quen tự học, nâng cao hiệu quả và chất lượng dạy
học, đảm bảo tính toàn diện, giúp học sinh: Nắm vững, hiểu sâu và bền vững hơn về
kiến thức, luôn củng cố và phát triển cách học của mình, giúp học sinh có tinh thần
trách nhiệm, ý thức tập thể, có tinh thần hợp tác với bạn bè.
II. 2. Thực trạng
a.Thuận lợi, khó khăn
* Thuận lợi
100% học sinh lớp Một đã được học qua lớp mẫu giáo.
Nhà trường quan tâm trang bị đồ dùng dạy học, hỗ trợ kinh phí để giáo viên
Chưa biết đọc, chưa biết viết
SL
%
SL
%
13
54,2
11
45,8
b. Thành công, hạn chế
* Thành công: Trong quá trình thực hiện đề tài tôi đã phát hiện ra những thiếu
sót, những yếu kém trong quá trình giảng dạy cũng như hiệu quả của tiết dạy. Từ đó
xây dựng kế hoạch bài dạy, lựa chọn phương pháp và hình thức tổ chức dạy học phù
hợp với đặc trưng môn học, với trình độ học sinh. Do đó ý thức học tập, khả năng
khai thác lĩnh hội kiến thức của học sinh tiến bộ rõ rệt, giúp cho chất lượng dạy và
học được nâng cao. Chính vì thế kết quả học tập của lớp tôi cao hơn các lớp khác
trong khối. Tôi cũng luôn nhận được sự động viên khích lệ của cán bộ quản lí nhà
trường, sự chia sẻ đóng góp từ các giáo viên trong tổ chuyên môn.
* Hạn chế: Tuy nhiên, việc dạy học phát huy tính tích cực, chủ động vẫn còn
tồn tại hạn chế là chưa phát huy hết tiềm năng của mình trong quá trình giảng dạy.
Vẫn còn một số em tiếp thu bài còn chậm do trí nhớ của các em chưa bền vững, chất
lượng của lớp chưa đồng đều.
thức. chưa phát huy tính tích cực chủ động của các em. Một số học sinh chưa biết
xác định và chưa xác định động cơ học tập đúng đắn nên chưa chăm học. Do ở mẫu
giáo các em đang có thói quen vui chơi tương đối tự do, thoải mái tuỳ theo hứng
thú của mình, khi vào lớp Một các em phải làm việc trong một tập thể có nội quy,
kỉ luật, có hướng dẫn học tập, có trách nhiệm, nghĩa vụ rõ ràng. Các em còn hay
đãng trí, khó tập trung chú ý lâu, nhất là khi phải chú ý các đối tượng trừu tượng, ít
hấp dẫn. Điều kiện học tập như: dụng cụ học tập, góc học tập ở nhà còn thiếu thốn.
Một số cha mẹ chưa thực sự quan tâm đến việc học của các em, còn khoán trắng cho
nhà trường, chưa tạo điều kiện cho các em học tập. Từ thực trạng trên, tôi thấy cần
phải đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực hoạt động học
tập của học sinh trong môn Tiếng Việt lớp 1.
e. Phân tích, đánh giá các vấn đề về thực trạng mà đề tài đặt ra
Với 100% học sinh trong lớp là người dân tộc thiểu số, hầu hết các em chưa có
ý thức học tập, vốn kĩ năng sống hạn chế. Bên cạnh đó do thói quen tiếng mẹ đẻ nên
khả năng giao tiếp của các em gặp rất nhiều khó khăn. Một phần do hoàn cảnh gia
đình nghèo đói, cha mẹ các em phải đi làm để kiếm ăn nên một số em thiếu sự quan
tâm của cha mẹ trong việc giáo dục đạo đức và học tập. Một số em lại chưa có động
cơ học tập. Một số cha mẹ học sinh nhận thức hạn chế nên không nhắc nhở giúp đỡ
các em học tập ở nhà. Do đội ngũ giáo viên trong trường chưa đồng đều, kinh
nghiệm trong giảng dạy chưa nhiều, chưa phát huy hết kĩ năng sư phạm, chưa biết tổ
chức hướng dẫn các hoạt động học tập nhằm phát huy tính tích cực của các em trong
học tập. Nên các em chưa ham thích học tập, còn ngại khi tham gia hoạt động học
tập. Chính vì những nguyên nhân đó dẫn đến tình trạng học sinh ít phát biểu ý kiến
xây dựng bài, chưa tập trung tự giác trong học tập, còn mải chơi chưa biết hợp tác
với bạn trong học tập. Điều này làm ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả giảng dạy cũng
như kết quả học tập của các em. Để giúp các em có thói quen tự học, phát huy tính
tích cực chủ động, tự tìm tòi khám phá để nắm được kiến thức đáp ứng với yêu cầu
về chuẩn kiến thức kĩ năng, tôi đã tiến hành tìm hiểu nắm chắc số lượng học sinh
trong lớp về sở thích, về khả năng nhận thức . Cụ thể lớp 1A có tổng số 24 học sinh
trong đó có 05 em tích cực, tự giác trong học tập, có 06 em khả năng tiếp thu bài đạt
của mỗi cá nhân học sinh. Giúp các em có động cơ học tập, có phẩm chất đạo đức
tốt, có kĩ năng sống vận dụng trong sinh hoạt hằng ngày, giúp các em trở thành con
người phát triển toàn diện về đức trí, thể, mĩ.
b. Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp, biện pháp
Dạy học tích cực tạo cho các em phương pháp học tập tích cực. Chinh vì vậy
tôi đã đề ra các biện pháp thực hiện như sau:
Biện pháp thứ nhất: Sử dụng đồ dùng dạy học
Thiết bị đồ dùng dạy học là những phương tiện vật chất giúp cho giáo viên
và học sinh tổ chức hợp lý có hiệu quả quá trình dạy học đối với các môn học
nhằm thực hiện chương trình dạy học. Trong quá trình đổi mới phương pháp dạy
học, thiết bị đồ dùng dạy học là một trong những điều kiện cơ bản không thể
thiếu để giáo viên, học sinh thực hiện mục tiêu dạy học. Hơn nữa thiết bị đồ
dùng dạy học tạo điều kiện trực tiếp cho học sinh huy động mọi năng lực hoạt
động nhận thức, tiếp cận thực tiễn, nâng cao khả năng tự học, rèn luyện kỹ năng
8
Trần Thị Minh – TH Võ Thị Sáu
Kinh nghiệm dạy học phát huy tính tích cực trong môn Tiêng Việt cho HS lớp 1 dân tộc thiểu số.
học tập và thực hành. Thiết bị đồ dùng dạy học là vật chất hữu hình t ưởng như
là vô tri vô giác nhưng dưới sự điều khiển của người giáo viên, thiết bị đồ dùng
dạy học thể hiện khả năng sư phạm của nó : Làm tăng tốc độ truyền thông tin,
tạo ra sự lôi cuốn, hấp dẫn làm cho giờ học sinh động, hiệu quả hơn .
Nếu việc "Dạy chay, dạy suông" làm cho người học thụ động không phát
huy được tính tích cực, chủ động sáng tạo thì sự hỗ trợ đắc lực của thiết bị sẽ là
cầu nối giữa người dạy và người học, làm cho hai nhân tố này gắn kết với nhau
trong việc thực hiện mục tiêu đào tạo, nội dung đào tạo, ph ương pháp đào tạo và
làm cho chất lượng giảng dạy và học tập được nâng cao.
Hơn thế nữa, đối với học sinh lớp Một dân tộc thiểu số, đồ dùng dạy học sẽ có
Trần Thị Minh – TH Võ Thị Sáu
Kinh nghiệm dạy học phát huy tính tích cực trong môn Tiêng Việt cho HS lớp 1 dân tộc thiểu số.
Để giúp học sinh tưởng tượng ra sự vật hay hoạt động được nói đến trong từ
khoá, từ ứng dụng, hiểu đúng hơn về sự vật, hoạt động tôi đã sử dụng tranh, mô
hình, vật thật khi giải nghĩa từ.
Ngoài việc sử dụng tranh ảnh,… để giải nghĩa từ thì tranh ảnh còn đóng vai trò
quan trọng trong khi minh hoạ câu ứng dụng.
Ví dụ dạy bài 58: inh –ênh, khi học câu ứng dụng:
Cái gì cao lớn lênh khênh.
Đứng mà không tựa ngã kềnh ngay ra?
Tôi treo tranh: “cái thang dựa bên đống rơm” và nói: Đây là bức tranh vẽ đống
rơm và một đồ vật dựa bên đống rơm. Các em hãy quan sát bức tranh và cho cô
biết: Đồ vật đó như thế nào? Nếu để nó đứng một mình, thì thế nào? Vậy đồ vật đó
là cái gì? Học sinh trả lời đồ vật đó cao lớn lênh khênh. Nếu nó đứng một mình sẽ bị
ngã. Đó là cái thang. Tôi chỉ tranh, nêu tác dụng của cái thang và giải thich giúp học
sinh hiểu thêm về từ cao lênh khênh là rất cao,…
Như vậy sử dụng tranh ảnh khi dạy câu ứng dụng, giúp học sinh hiểu thêm về
nội dung câu ứng dụng.
Căn cứ vào nội dung, yêu cầu luyện nói của mỗi bài học, tôi lựa chọn và sử
dụng tranh ảnh minh họa đúng mục đích, đúng yêu cầu, nêu bật nội dung chủ đề
luyện nói giúp học sinh tái hiện nội dung ở phần luyện nói.
Ví dụ dạy bài 70: ôt - ơt: Khi dạy chủ đề luyện nói '' Những người bạn tốt”, tôi
yêu cầu học sinh đọc chủ đề luyện nói trong sách giáo khoa; tìm tiếng chứa vần ôt.
Học sinh trả lời tiếng tốt có vần ôt. Sau đó, tôi hướng dẫn các em quan sát tranh
minh hoạ, gợi mở bằng câu hỏi để các em luyện nói theo chủ đề.
+ Các bạn trong tranh đang làm gì?
+ Em nghĩ họ có phải là những người bạn tốt không?
các em tự đánh vần rồi đọc trơn. Sau khi giúp các em nhận biết mỗi vần, tôi tổ chức
trò chơi “ Tìm chữ bí ẩn” bằng cách phát cho mỗi nhóm một hộp trong đó có đựng
các tiếng chứa vần vừa học và vần đã học rồi giao nhiệm vụ cụ thể mỗi nhóm tìm
trong hộp tiếng có vần vừa học gài vào bảng gài trong thời gian 1 phút nhóm nào
tìm được nhiều tiếng đúng sẽ thắng cuộc. Đối với học sinh khá, giỏi, tôi cho các em
tự tìm và ghép tiếng (có nghĩa) mang vần đã học nhưng không giống tiếng trong
SGK. Việc làm này giúp các em luyện tập thực hành để vận dụng kiến thức, kĩ năng
đã học một cách tích cực và sáng tạo. Chỉ sau vài phút, các em tìm được những tiếng
có vần on như : đòn, gọn, lon ton,.... Sử dụng bộ thực hành Tiếng Việt không những
giúp học sinh nắm được cấu tạo của từ, viết được từ mà còn phát triển tư duy, các
em được sử dụng tất cả các giác quan như mắt nhìn, tay cầm do đó các em sẽ ghi
nhớ lâu; không những thế việc sử dụng bộ thực hành Tiếng Việt còn làm giảm bớt
sự khô khan của việc tìm từ mà còn làm lớp học thêm sinh động.
Khi dạy viết, tôi đã sử dụng mẫu chữ in thường, chữ hoa. Sử dụng mẫu chữ
trong tập viết, giúp cho các em ghi nhớ được cách viét chữ bằng nhiều giác quan
( mắt nhìn, tai nghe ), giúp các em ghi nhớ lâu. Ví dụ dạy viết chữ: h, tôi đưa mẫu
chữ h, các em quan sát nêu nhận xét độ cao của chữ h; phân tích cấu tạo chữ h theo
câu hỏi gợi ý của tôi ( Chữ h cao mấy ô li, gồm mấy nét? Là những nét nào?)
Ngoài việc cho học sinh quan sát tranh ảnh, mẫu chữ trên bảng, thì việc khai
thác các kênh hình, kênh chữ trong SGK là việc làm rất cần thiết. Sách giáo khoa
là một đồ dùng học tập không thể thiếu được trong mỗi tiết học.Việc hướng dẫn các
em biết cách sử dụng SGK, giúp các em phát huy được tính tích cực chủ động trong
học tập; phát triển năng lực tự học tạo nền móng cho việc học ở các lớp trên. Việc
dùng SGK còn giúp các em tiếp cận trực tiếp với văn bản, hiểu đúng văn bản. Sách
giáo khoa còn giúp tôi tiện lợi hơn trong việc thiết kế các hoạt động dạy học theo
hướng đổi mới phương pháp dạy học.
Ví dụ: Khi dạy đọc từ (câu) ứng dụng, tôi cho học sinh đọc theo nhóm đôi các
từ, câu trong sách giáo khoa, để nhiều em được luyện đọc hơn, hay khi luyện nói,
học sinh có thể dựa vào tranh ảnh trong sách giáo khoa để nói theo định hướng của
tranh trong sách giáo khoa.
giữa các vần,….
Khi dạy chủ đề luyện nói ''Nhà trẻ '' bài 26: y – tr trang 54 sách giáo khoa
Tiếng Việt 1, tập 1, tôi đặt câu hỏi để học sinh so sánh việc học ở nhà trẻ và học ở
lớp 1 có gì giống và khác nhau. Nhà trẻ khác lớp Một ở chỗ nào? ( Đi nhà trẻ khác
với đi học lớp Một là ở nhà trẻ giờ chơi nhiều hơn, có nhiều đồ chơi hơn, các con
vừa học lại vừa chơi còn ở lớp 1, giờ chơi ít hơn, không có đồ chơi chỉ được tham
gia trò chơi khi cô giáo tổ chức.)
Với bài 21: Ôn tập trang 44 sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 1 tập 1, sau khi
hình thành xong bảng ôn vần, để học sinh phân biệt khi nào viết k. Tôi hỏi: Nhìn
vào bảng ôn tập, ta thấy k đứng trước âm nào? Học sinh phải quan sát bảng ôn để
nêu được k đứng trước âm ( i, e, ê ). Các âm a, u, ư không thể ghép với âm k. Bằng
những câu hỏi suy luận tôi dùng đã yêu cầu học sinh tìm hiểu nguyên nhân sự việc,
vận dụng kiến thức vào bài học, khái quát hoá kiến thức.
Hoặc bài 63: em - êm: khi học chủ đề luyện nói '' Anh chị em trong nhà '' tôi
hỏi: Anh chị em trong nhà phải làm gì? Anh chị em trong nhà phải biết đoàn kết,
yêu thương, đùm bọc lẫn nhau. Như vậy các em đã biết liên hệ thực tế về bản thân
mình.
Khi tìm hiểu nội dung bài Bàn tay mẹ trang 55, sách giáo khoa Tiếng Việt lớp
1, tập 2, tôi đã dùng hệ thống câu hỏi huy động sự chú ý của cả ba đối tượng học
sinh như sau:
12
Trần Thị Minh – TH Võ Thị Sáu
Kinh nghiệm dạy học phát huy tính tích cực trong môn Tiêng Việt cho HS lớp 1 dân tộc thiểu số.
+ Vì sao Bình yêu nhất đôi bàn tay của mẹ? Vì đôi bàn tay của mẹ phải làm
biết bao nhiêu việc.
+ Bàn tay mẹ làm những việc gì cho chị em Bình? Mẹ đi chợ, nấu cơm, tắm
cho em bé, giặt một chậu tã lót đầy.
Sau khi hết thời gian chơi, tôi tiến hành đánh giá kết quả chơi. Tôi động viên, khen
ngợi tinh thần khi tham gia trò chơi của các em, rồi cho các em đọc lại tiếng, từ vừa
tìm được như vậy các em sẽ nắm chắc kiến thức vừa học.
Hay khi dạy bài 80: ich, êch trang 162 sách giáo Tiếng Việt lớp 1 tập 1, tôi tổ
chức cho các em chơi trò chơi nhìn tranh, vật thật đoán chữ. Tôi đã gắn lên bảng
tranh chụp con cá diếc, cái lược, thước kẻ, gọi các em lên bảng gắn từ tương ứng
13
Trần Thị Minh – TH Võ Thị Sáu
Kinh nghiệm dạy học phát huy tính tích cực trong môn Tiêng Việt cho HS lớp 1 dân tộc thiểu số.
dưới mỗi hình ảnh. Trò chơi này giúp các em nhớ vần mới, tìm nhanh các tiếng có
vần mới, đọc và viết các tiếng, từ đó.
Hoặc khi dạy bài 83: Ôn tập, tôi đã tổ chức cho các em trò chơi hái hoa dân
chủ. Tôi chuẩn bị một số bông hoa bằng giấy trên mỗi bông hoa ghi một từ có âm
hoặc vần mới học ở mặt giấy phía trong. Các em lần lượt lên hái rồi đọc từ ghi ở
bông hoa. Đối với các em khá, giỏi sau khi đọc xong học sinh phải nói một cụm từ
hoặc một câu trong đó có các từ đã học. Thông qua trò chơi giúp các em luyện nhẩm
đánh vần nhanh để đọc trơn cả tiếng, cả từ. dùng từ đã học để tạo từ ngữ hoặc câu
ngắn.
Với những trò chơi mà tôi đã tổ chức trong các giờ học đã tạo cho các em sự
chú ý, tinh thi đua, khắc sâu kiến thức. Thông qua việc tổ chức các trò chơi này, tôi
nhận thấy để trò chơi có hiệu quả, ngoài việc chuẩn bị trò chơi thì việc lựa chọn sao
cho phù hợp với nội dung bài cũng là điều quan trọng.
Biện pháp thứ tư : Vận dụng linh hoạt các hình thức tổ chức dạy học
Việc vận dụng linh hoạt các hình thức tổ chức dạy học sẽ có tác dụng rất lớn
đến hiệu quả giảng dạy. Học sinh được luyện tập kĩ năng đọc, viết theo nhiều hình
thức, chống học vẹt. Giúp các em ghi nhớ bằng nhiều giác quan cách đọc, cách viết
mà không nhàm chán và ghi nhớ bài học tốt hơn. Là cơ hội để các em đều luyện
đồ dùng dạy học song hệ thống câu hỏi đưa ra không phù hợp thì chưa tạo được sự
chú ý của các em, hiệu quả tiết học sẽ không cao và ngược lại. Làm tốt hai biện pháp
sử dụng đồ dùng dạy học và sử dụng hệ thống câu hỏi phù hợp nhưng không biết
vận dụng các hình thức tổ chức dạy học và tổ chức các trò chơi học tập không linh
hoạt thì giờ học sẽ không thoải mái, không hấp dẫn, không phát huy được tính tích
cực của học sinh. Chính vì thế người giáo viên phải biết kết hợp hài hòa giữa các
biện pháp thì tiết học sẽ diễn ra nhẹ nhàng đạt kết quả cao, các em tự giác tích cực
chủ động hơn, giờ học sôi nổi hơn. Đây chính là cơ sở vững chắc nâng cao chất
lượng học tập cho các em, là cơ sở để học tốt các lớp học trên. Thông qua đó các em
có vốn kiến thức để vận dụng vào cuộc sống lao động hằng ngày.
e. Kết quả khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề nghiên cứu
* Kết quả khảo nghiệm: Do mới được làm quen với môi trường mới, do đặc
thù, thói quen tập quán nên các em rất chậm chạp trong việc học tập, chưa thể hiện
được kĩ năng, kĩ xảo. Bởi vậy chất lượng khảo sát đầu năm gặp rất nhiều khó khăn.
Nhưng sau một thời gian kiên trì, miệt mài tìm ra những giải pháp để khắc phục
những yếu kém đã mang lại kết quả qua các lần đánh giá, kết quả cụ thể như sau:
Thời gian
TSHS
Trên trung bình
SL
%
Đầu năm học
2013 – 2014
20
8
Hoàn thành
Dưới trung bình
SL
%
Chưa hoàn thành
Đầu năm học
2014 – 2015
24
13
54,2
11
45,8
Cuối học kì I
24
21
87,5
viên. Rõ ràng qua cách làm này, tôi thấy kết quả giáo dục cả về học tập lẫn phẩm
chất của học sinh ngày càng tiến bộ rõ rệt, chất lượng dạy và học được nâng cao.
Các em ngày càng chăm ngoan yêu trường yêu lớp, tích cực chủ động, sáng tạo
trong học tập, giờ học sôi nổi. Học sinh không còn tâm lí nhút nhát trong học tập
cũng như trong giao tiếp, tạo điều kiện để học sinh phát huy tối đa những khả năng
vốn có của mình trong học tập cũng như trong mọi hoạt động của lớp, của trường.
III. PHẦN KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
III. 1. Kết luận
Dạy học vừa mang tính khoa học, vừa mang tính nghệ thuật. Muốn dạy học có
hiệu quả, đáp ứng được yêu cầu đào tạo hiện nay của Đảng và Nhà nước đòi hỏi
người giáo viên phải nỗ lực, sáng tạo, không ngừng cải tiến phương pháp để nâng
cao hiệu quả giảng dạy. Để đạt được những mong muốn đó, bản thân tôi luôn xác
định rằng trước hết mình phải có lòng yêu nghề, mến trẻ, lòng say mê nghề nghiệp
và ý chí quyết tâm cao. Phải có ý thức trách nhiệm đối với bản thân, đối với nghề
nghiệp và xã hội. Muốn nâng cao hiệu quả và tạo sự hứng thú học tập trong quá
trình giảng dạy, đòi hỏi người giáo viên phải chuẩn bị: kế hoạch dạy học khoa học,
hệ thống câu hỏi ngắn gọn rõ ràng dễ hiểu, lựa chọn phương pháp dạy học có hiệu
quả. Sử dụng tối đa đồ dùng dạy học và có hiệu quả trong từng tiết dạy, trong từng
16
Trần Thị Minh – TH Võ Thị Sáu
Kinh nghiệm dạy học phát huy tính tích cực trong môn Tiêng Việt cho HS lớp 1 dân tộc thiểu số.
môn học. Có vốn hiểu biết nhất định và kiến thức xã hội. Cần tạo điều kiện để HS
tích cực, chủ động, sáng tạo chiếm lĩnh tri thức.
Thực hiện tốt chỉ thị “Hai không” của Bộ GDDT; bám sát chủ đề năm học để
lên kế hoạch tháng, tuần cho phù hợp và khoa học.
Giáo viên cần phải chuẩn bị rất chu đáo về mọi công việc như: đồ dùng dạy
học, giáo án và thâm nhập giáo án một cách kĩ càng. Khi đứng lớp phải bình tĩnh, tự
Trần Thị Minh – TH Võ Thị Sáu
Kinh nghiệm dạy học phát huy tính tích cực trong môn Tiêng Việt cho HS lớp 1 dân tộc thiểu số.
hơn. Rất mong được sự góp ý của Hội đồng chấm sáng kiến kinh nghiệm và các bạn
đồng nghiệp.
Xin chân thành cảm ơn!
Ea Bông, ngày 19 tháng 1 năm 2015
Người thực hiện
Trần Thị Minh
TÀI LIỆU THAM KHẢO
STT
TÊN TÀI LIỆU
TÁC GIẢ/NHÀ XUẤT
GHI
18
Trần Thị Minh – TH Võ Thị Sáu
Kinh nghiệm dạy học phát huy tính tích cực trong môn Tiêng Việt cho HS lớp 1 dân tộc thiểu số.
BẢN
thức tổ chức dạy học
Nguyễn Đức Hoành -2006
6
Điều lệ trường tiểu học.
Bộ GDSX năm 2005
Bộ Giáo dục và Đào tạo
NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM CẤP TRƯỜNG
…………………………………………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………………………………………
19
Trần Thị Minh – TH Võ Thị Sáu
Kinh nghiệm dạy học phát huy tính tích cực trong môn Tiêng Việt cho HS lớp 1 dân tộc thiểu số.
…………………………………………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………..………………………………………
CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM CẤP HUYỆN
…………………………………………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………………………………………