ĐạI HọC THáI NGUYÊN
TRƯờNG ĐạI HọC NÔNG LÂM
Bùi Ngọc ánh Tên đề tài:
NGHIấN CU NG DNG MODULE VERTICAL MAPPER
TRONG XY DNG BN DC PHC V CễNG TC
QUY HOCH PHT TRIN NễNG LM NGHIP
HUYN PH LNG - TNH THI NGUYấN Khóa luận tốt nghiệp đại học
Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Quản lý đất đai
Khoa : Quản lý Tài nguyên
Khoá học : 2010 - 2014
Lp : K42 - QL - N01
Khoa : Quản lý Tài nguyên
Khoá học : 2010 - 2014
Giảng viên hớng dẫn:
Th.S Trơng Thành Nam
Khoa Quản lý Tài nguyên - Trờng Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
Thái Nguyên, năm 2014
LỜI CẢM ƠN
Thực tập tốt nghiệp là một khâu rất quan trọng trong quá trình học tập
của mỗi sinh viên nhằm hệ thống lại toàn bộ lượng kiến thức đã học, vận
dụng lý thuyết vào thực tiễn, bước đầu làm quen với những kiến thức khoa
học. Qua đó sinh viên ra trường sẽ hoàn thiện hơn về kiến thức lý luận,
phương pháp làm việc, năng lực công tác nhằm đáp ứng nhu cầu thực tiễn
của công việc sau này.
Được sự giúp đỡ của Ban giám hiệu trường Đại học Nông Lâm và
Ban chủ nhiệm Khoa Quản lý Tài Nguyên, em đã tiến hành nghiên cứu đề
tài: “Nghiên cứu ứng dụng module Vertical Mapper trong xây dựng bản
đồ độ dốc phục vụ phát triển nông lâm nghiệp huyện Phú Lương - tỉnh
Thái Nguyên”
Trong suốt quá trình thực tập em đã nhận được sự giúp đỡ của các thầy
KT : Kinh tế
QĐ : Quyết định
QĐ - TTg : Quyết định của thủ tướng
TP : Thành phố
TPTN : Thành phố Thái Nguyên
UBND : Ủy ban nhân dân
VN 2000 : Hệ tọa độ VN - 2000
WGS 84 : Hệ tọa độ WGS 84
KT - XH : Kinh tế - xã hội
XH : Xã hội
DANH MỤC CÁC BẢNGTrang
Bảng 2.1: Phân loại đất dốc 11
Bảng 4.1: Cơ cấu sử dụng đất huyện Phú Lương năm 2013 26
Bảng 4.2: Hiện trạng sử dụng các loại đất theo đơn vị hành chính 27
Bảng 4.3: Mô hình CSDL bản đồ độ dốc ở huyện Phú Lương,
tỉnh Thái Nguyên 32
Bảng 4.4: Danh mục các lớp dữ liệu trong bộ cơ sở dữ liệu bản đồ độ dốc 33
Bảng 4.5: Cấp độ dốc huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên 35
Hình 4.8: Cơ cấu diện tích đất theo cấp độ dốc 41
Hình 4.9: Tổng hợp cơ sở dữ liệu phân cấp độ dốc từ 0
0
- 8
0
trên bản đồ 42
Hình 4.10: Tổng hợp cơ sở dữ liệu phân cấp độ dốc từ 8
0
- 15
0
trên bản đồ 42
Hình 4.11: Tổng hợp cơ sở dữ liệu phân cấp độ dốc từ 15
0
- 20
0
trên bản đồ 43
Hình 4.12: Tổng hợp cơ sở dữ liệu phân cấp độ dốc từ 25
0
- 64.3738
0
trên bản đồ 43
Hình 4.13: Tìm kiếm các trường xã Yên Ninh 46
Hình 4.14: Tìm kiếm các trường có diện tích lớn hơn 2 ha 46
Hình 4.15: Tính diện tích xã Phú Đô 47
2.8.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới 16
2.8.2. Tình hình nghiên cứu trong nước 17
Phần 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19
3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 19
3.1.1. Đối tượng nghiên cứu 19
3.1.2. Phạm vi nghiên cứu 19
3.2. Địa điểm và thời gian tiến hành 19
3.2.1. Địa điểm nghiên cứu 19
3.2.2. Thời gian tiến hành 19
3.3. Nội dung nghiên cứu 19
3.3.1. Điều tra cơ bản 19
3.3.2. Các bước xây dựng cơ sở dữ liệu bản đồ độ dốc 19
3.3.3. Nghiên cứu phần mềm Mapinfo xây dựng bản đồ độ dốc bằng module
Vertical Mapper 20
3.3.4. Đánh giá khả năng khai thác bản đồ độ dốc trong phát triển nông lâm
nghiệp huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên 20
3.4. Phương pháp nghiên cứu 20
3.4.1. Phương pháp thu thập số liệu 20
3.4.2. Phương pháp xây dựng cơ sở dữ liệu bản đồ 20
3.4.3. Phương pháp thống kê, xử lý số liệu 20
3.4.4. Phương pháp chuyên gia 20
Phần 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 21
4.1. Đặc điểm tự nhiên huyện Phú Lương 21
4.1.1. Vị trí địa lý 21
4.1.2. Địa hình, địa mạo 21
4.1.3. Khí hậu 22
4.1.4. Thủy văn 22
4.4.2.3. Xây dựng cấu trúc cơ sở dữ liệu của bản đồ độ dốc 39
4.4.3. Ứng dụng cơ sở dữ liệu bản đồ độ dốc phục vụ quản lý
và cung cấp thông tin 40
4.4.3.1. Thống kê cơ sở dữ liệu trong bản đồ độ dốc: 40
4.4.3.2. Truy vấn cơ sở dữ liệu thuộc tính trong bản đồ độ dốc: 45
4.4.4. So sánh, đánh giá bản đồ độ dốc 48
4.4.5. Đề xuất sử dụng bản đồ độ dốc trong phát triển nông lâm nghiệp Huyện
Phú Lương - tỉnh Thái Nguyên 50
Phần 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 53
5.1. Kết luận 53
5.2. Đề nghị 53
TÀI LIỆU THAM KHẢO 55
I. Tài liệu trong nước 55
II. Tài liệu nước ngoài 56
1 Phần 1:
2 Nguyên dưới sự hướng dẫn trực tiếp của thầy giáo ThS.Trương Thành
Nam và các thầy cô giáo, em tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu
ứng dụng module Vertical Mapper trong xây dựng bản đồ độ dốc phục vụ
công tác quy hoạch phát triển nông lâm nghiệp huyện Phú Lương-tỉnh
Thái Nguyên”.
1.2. Mục đích của đề tài
Ứng dụng module Vertical Mapper trong xây dựng bản đồ độ dốc
phục vụ quy hoạch phát triển nông lâm nghiệp huyện Phú Lương - tỉnh
Thái Nguyên.
Tìm hiểu về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của địa bàn huyện Phú
Lương, tỉnh Thái Nguyên
Nghiên cứu về sự phân cấp địa hình trên toàn bộ diện tích đất huyện
Phú Lương, tỉn Thái Nguyên.
1.3. Yêu cầu của đề tài
- Nắm vững các bước để thực hiện việc thành lập một mô hình số địa
hình trong môi trường Vertical Maper.
- Bản đồ độ dốc xây dựng phải đảm bảo đầy đủ, tính chính xác cao,
thuận lợi trong việc lưu trữ và sử dụng.
- Quy trình thực hiện đảm bảo tính khoa học và chính xác.
1.4. Ý nghĩa của đề tài
1.4.1. Ý nghĩa trong học tập và Nghiên cứu khoa học
- Đây là cơ hội cho sinh viên vận dụng những kiến thức đã học và
những hiểu biết của mình vào thực tiễn, đồng thời cũng có cơ hội nâng cao sự
hiểu biết về phát triển nông lâm nghiệp trên địa bàn huyện Phú Lương - tỉnh
Thái Nguyên.
- Nâng cao kỹ năng sử dụng và tích hợp các phần mềm tin học ứng dụng
1.4.2. Ý nghĩa thực tiễn
thống trợ giúp việc ra quyết định, tích hợp các số liệu không gian trong một
cơ chế thống nhất.
Nói tóm lại theo BURROUGHT: “GIS như là một tập hợp các công cụ
cho việc thu nhập, lưu trữ, thể hiện và chuyển đổi các dữ liệu mang tính chất
không gian từ thế giới thực để giải quyết các bài toán ứng dụng phục vụ các
mục đích cụ thể” (Vũ Văn Trọng,2006) [14].
Sơ đồ khái niệm về một hệ thống thông tin địa lý được thể hiện như sau: Người sử dụng
GIS
Phần mềm + cơ sở dữ liệu
Thế giới thực
T
4 2.1.2. Các thành phần cơ bản của một Hệ thống thông tin địa lý
Một Hệ thống thông tin địa lý bao gồm những thành phần cơ bản sau:
- Phần cứng: bao gồm máy tính điều khiển mọi hoạt động của hệ thống
và các thiết bị ngoại vi.
- Phần mềm: cung cấp công cụ và thực hiện các chức năng:
+ Thu thập dữ liệu không gian và dữ liệu thuộc tính từ các nguồn thông
tin khác nhau
+ Lưu trữ, cập nhật, điều chỉnh và tổ chức các cơ sở dữ liệu nói trên.
+ Phân tích biến đổi, điều chỉnh và tổ chức các cơ sở dữ liệu nhằm giải
quyết các bài toán tối ưu và mô hình mô phỏng không gian và thời gian.
+ Đưa ra các thông tin theo yêu cầu dưới dạng khác nhau.
Ngoài ra phần mềm cần phải có khả năng phát triển và nâng cấp theo
+ Người sử dụng CSDL không được làm hỏng thông tin của người khác.
Khi có sự cố về máy tính, CSDL phải được bảo vệ và cất giữ sang một
máy khác.
Giữa các chương trình ứng dụng và CSDL phải có sự độc lập: Khi dữ
liệu có thay đổi thì chương trình không phải thay đổi theo và ngược lại.
Hiệu suất áp dụng tốt:
+ Mặc dù CSDL có nhiều người sử dụng nhưng đối với mỗi người
CSDL phải tạo ra cho họ cảm giác làm việc hoàn toàn độc lập.
+ CSDL phải cho câu trả lời chính xác nhất và kịp thời khi người sử
dụng truy vấn.
2.3. Phần mềm Mapinfo
Mapinfo là một công cụ rất quan trọng trong việc xây dựng, quản lý,
cập nhật, xử lý, phân tích và mô hình hoá các đối tượng địa lý, MapInfo tổ
chức, quản lý cơ sở dữ liệu theo các lớp đối tượng địa lý trên máy tính bởi các
File dữ liệu với các phần mở rộng như sau:
[*.Tab]: Chứa các thông tin mô tả cấu trúc dữ liệu
[*.Dat]: Chứa các thông tin nguyên thuỷ
[*.Map]: Chứa các thông tin mô tả đối tượng không gian
[*.ID]: Chứa các thông tin về chỉ số liên kết không gian và thuộc tính
[*.Ind]: Chứa các thông tin về chỉ số đối tượng (Ngô Công Châu,
2008)[2].
2.3.1. Các dữ liệu trong Mapinfo
Khi người dùng tạo ra các table trong Mapinfo, lưu cất các workspace,
nhập hoặc xuất dữ liệu. Mapinfo sẽ tạo ra rất nhiều các file với các phần mở
rộng khác nhau. Các file dữ liệu trong Mapinfo bao gồm:
6 - Tên file *.DAT: File dữ liệu dạng bảng tính cho một table format của
Mapinfo.
7 các đối tượng không gian nhằm mô tả vị trí, hình dáng trong một hệ thống toạ
độ nhất định. Một cửa sổ MAP cho phép hiển thị cùng một lúc nhiều lớp
thông tin (Layer) khác nhau hoặc bạt tắt hiển thị một lớp thông tin nào đó.
- LAYOUT (Trình bày và in ấn): Cho phép người sử dụng kết hợp các
browser, các cửa sổ bản đồ, biểu đồ và các đối tượng đồ hoạ khác vào một trang
in từ đó có thể gửi kết quả ra máy in hoặc máy vẽ (Ngô Công Châu, 2008)[2].
2.4. Khái quát mô hình số độ cao Digital Elevation Model - DEM
Mô hình DEM (Digital Elevation Model) là sự biểu thị bằng số sự thay
đổi liên tục của độ cao trong không gian, nó có thể là độ cao tuyệt đối của các
điểm trên bề mặt quả đất, độ cao của các tầng đất hoặc của mực nước ngầm
(Tăng Quốc Cương,2004)[3].
DEM mô hình số độ cao có nhiều ứng dựng trong thực tiễn, đặc biệt phổ
biến là những ứng dụng sau:
- Lưu trữ dữ liệu bản đồ số địa hình trong các cơ sở dữ liệu (CSDL) quốc gia.
- Giải quyết tính toán đào đắp đất trong thiết kế đường và các dự án kỹ
thuật công trình khác.
- Biểu thị ba chiều trực quan điều kiện địa hình có mục đích quân sự
(thiết kế hệ thống đạn đạo, huấn luyện phi công) và cho mục đích thiết kế và
quy hoạch cảnh quan (kiến trúc cảnh quan).
- Thiết kế xác định vị trí cho đường giao thông và cho đập nước.
- Tính toán và thành lập bản đồ độ dốc, bản đồ hướng dốc, bản đồ hình
dạng mái dốc để từ đó thành lập ảnh địa hình trực quan có hình bóng
(ứng dụng trong nghiên cứu tầng địa chất hay dự báo khả năng xói mòn đất và
dòng chảy mặt)… (Tăng Quốc Cương, 2004)[3].
2.5. Module Vertical Mapper
Vertical Mapper là module nghiên cứu thành lập các mô hình số địa
hình và các nhiệm vụ khác có liên quan. Có thể tạo ra một mô hình 3D về bề
một phạm vi nghiên cứu. Người sử dụng có thể xác định từ những tính toán
sau: Tổng giá trị, giá trị nhỏ nhất, giá trị lớn nhất, giá trị trung bình và đếm
các điểm dữ liệu.
- Vùng đệm Grid
Tạo ra một Grid trong đó giá trị của mỗi ô là khoảng cách tới đối tượng
đầu vào gần nhất. Các đối tượng đầu vào gồm các điểm, đường, hình đa giác.
- Kiểm tra đối tượng đường
Dùng bảng về các đường thẳng, các hình đa giác và cập nhật cơ sở dữ
liệu với những thông tin từ các vùng Grid được lựa chọn. Các vùng Grid được
truy vấn là các vùng linh hoạt trong Grid Manager. Các thông tin trong mỗi
9 Grid là các giá trị nhỏ nhất, giá trị lớn nhất, giá trị trung bình, phạm vi giá trị,
giá trị đầu, giá trị giữa và giá trị cuối (pb.com/, svquanlydat.com/)[19,20].
2.6. Phần mềm ARCView
ARCView là sản phẩm của hãng ESRI, đây là một trong những phần
mềm đứng đầu trong thế hệ GIS để bàn (Desktop) và thành lập bản đồ, nó có
thể chạy trong môi trường Window 9X, Window NT, XP… ARCView đưa đến
cho người học khả năng hình dung, khám phá, hỏi đáp và phân tích dữ liệu.
Cũng như một số phần mềm GIS, ARCView có khả năng chồng ghép
bản đồ, xử lý dữ liệu không gian, có thể ứng dụng trong một số lĩnh vực trong
ngành quản lý đất đai như đánh giá phục vụ quy hoạch, xử lý dữ liệu ảnh,
quản lý tài nguyên đất, nước…
Hiện tại ở nước ta, ARCView đã được đưa vào sử dụng trong nhiều
lĩnh vực, các cơ quan quản lý tài nguyên, các dự án phát triển và quản lý tài
nguyên.
Phần mềm ArcView GIS là phần mềm ứng dụng công nghệ hệ thống
thông tin địa lý (GIS) của Viện nghiên cứu hệ thống môi trường (ESRI),
ArcView cho phép:
ArcView là một phần mềm đuợc sử dụng phổ biến nhất trên thế giới bởi
vì nó cung cấp cho nguời dùng một cách dễ dàng nhất để sử dụng thông tin
địa lý. Với một thư viện khổng lồ về symbol, linestyle bạn có thể dễ dàng
tạo ra các bản đồ có chất luợng cao. ArcView biến công việc quản trị và cập
nhật số liệu trở nên dễ dàng hơn. ArcView có thể sử dụng rất nhiều định dạng
dữ liệu khác nhau thậm chí có thể lấy đuợc dữ liệu từ Internet.
Với công cụ mô hình hóa các thao tác xử lý dữ liệu, ArcView cho phép
bạn quản lý và thay đổi dây chuyền xử lý dữ liệu một cách dễ dàng. ArcView
có thể đuợc sử dụng bởi những nguời không chuyên về GIS hay về kỹ thuật.
Và tất nhiên đối với những chuyên gia GIS thì ArcView là một công cụ thật
sự mạng trong việc thành lập bản đồ chuyên nghiệp, tập hợp phân tích dữ
liệu Các nhà phát triển ứng dụng cũng có thể dùng ArcView như một môi
truờng phát triển. (http://www.vidagis.com.vn/)[21].
2.7. Tổng quan về đất dốc
2.7.1. Đất dốc
Trong đất đai, đất dốc là đất có bề mặt nằm nghiêng, thường gồ ghề hoặc
lượn sóng, nằm nghiêng là mặt dốc hoặc sườn dốc, góc tạo bởi sườn dốc hoặc
mặt nằm ngang là độ dốc của mặt đất .
Đất dốc xác định là loại đất có độ dốc từ 1
0
trở lên. Do đó, đất dốc
thường chịu tác động của các hiện tượng xói mòn rửa trôi, dẫn đến sự thoái
hóa đất, làm đất nghèo kiệt về dinh dưỡng, về cấu trúc, giảm độ pH, làm
tăng lượng các chất gây độc hại cho đất và làm cho đất bị chết về sinh học.
11 Hầu hết diện tích đất dốc bị thoái hóa và bị chua, nhiều diện tích bị bỏ
hoang hóa vì mất khả năng sản xuất nông lâm nghiệp. Đây thực sự là điều
Mặc dù còn gặp nhiều khó khăn trở ngại, vùng cao Việt Nam, mà
chủ yếu là đất dốc có rất nhiều tiềm năng phục vụ sự nghiệp phát triển kinh
tế xã hội của cộng đồng các dân tộc. Vùng đất dốc ngày càng có vai trò
quan trọng khi ảnh hưởng của hiệu ứng nhà kính rõ rệt, đặc biệt là khi mức
bước biển dâng cao ảnh hưởng nhiều đến vùng châu thổ rộng lớn. Lúc đó,
miền núi không chỉ là địa bàn cư trú chính của người dân mà còn là nơi
duy nhất có thể sản xuất lương thực. Hiện tại miền núi đang cung cấp hầu
như tất cả những vật dụng cần thiết phục vụ nhu cầu cuộc sống con người:
12 nguồn nước, đất sản xuất nông lâm nghiệp; nguyên liệu cho công nghiệp,
tiểu thủ công nghiệp; thủy điện; dược liệu, vật liệu xây dựng, đồ dùng gia
đình… Ngoài ra miền núi với những cánh rừng rộng lớn, còn là một máy
điều hòa khổng lồ chi phối sự an toàn sinh thái và môi trường cho sự sống
(Lê Văn Khoa, Trần Thị Lành)[12].
Tiềm năng mở rộng đất canh tác: Đất dốc là một bộ phận quan trọng
trong sản xuất nông nghiệp. Ở nước ta đất dốc chiếm khoảng 74% diện tích.
Trong diện tích 9.4 triệu ha đất nông nghiệp chỉ có 4.06 ha là đất lúa còn trên 5
triệu ha chủ yếu là đất dốc, trong đó đất nương rẫy trồng lúa khoảng 640 ngàn
ha, diện tích còn lại là đất rừng và đất chưa sử dụng (Lê Quốc Doanh và cs
(2006)[7]. Mật độ dân số vùng đất dốc thấp hơn nhiều so với vùng đồng bằng,
đất vùng đồng bằng thích hợp cho cây hoa màu, lương thực ngắn ngày, chủ yếu
phục vụ cho an toàn lương thực, thực phẩm quốc gia trên thực tế đã được khai
thác tới hạn. Do vậy, việc phát triển nông lâm nghiệp trong những thập kỷ tiếp
theo phụ thuộc phần lớn vào việc mở rộng diện tích canh tác, việc quản lý sử
dụng hiệu quả diện tích đất dốc vùng đồi núi
Tiềm năng lâm nghiệp: Rừng không chỉ là nguồn lợi tự nhiên quý giá về
kinh tế mà còn có giá trị cao trong bảo về nguồn nước, lưu trữ nguồn nước,
cung cấp điều hòa ôxi và cacbonic. Ở Việt Nam, rừng chỉ tồn tại chủ yếu ở
tích đất nông nghiệp, các hồ chứa nước vừa phục vụ thủy điện vừa là nguồn
nước tưới trong mùa khô và điều hòa lũ lụt trong mùa mưa, nguồn nguyên
liệu phục vụ cho xây dựng công trình tại chỗ.
Tiềm năng phát triển du lịch: Khu vực miền núi tập trung chủ yếu đồng
bào dân tộc thiểu số, có nhiều nét văn hóa đặc sắc phong phú. Địa hình đồi
núi tạo nhiều cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ, hệ sinh thái đa dạng, các khu vực
rừng phù hợp cho việc phát triển du lịch sinh thái, tham quan dã ngoại…
Cuộc sống ngày càng phát triển, mức thu nhập của đại bộ phận người
dân được nâng cao, nhu cầu nghỉ dưỡng ra tăng, đặc biệt trong bối cảnh nước
ta, cuộc sống đô thị ồn ào, chật chội, người dân càng có xu thế tìm đến những
khu vực cách xa đô thị để nghỉ dưỡng. Đây là cơ hội để khai phá, phát triển
du lịch sinh thái tại các khu vực đồi núi nước ta.
2.7.2.2. Hạn chế:
Xói mòn: Xói mòn là những mối đe dọa thường xuyên đối với đất dốc
vùng nhiệt đới ẩm, gây nên sự mất dinh dưỡng và độ phì của lớp đất mặt, dẫn
đến sự axit hóa trong đất. Những tác động này thậm chí còn trở nên tồi tệ hơn
nếu như đất canh tác không có thảm thực vật che phủ hoặc là đất bị đốt cháy
trước mùa mưa. Xói mòn đất ở miền núi phía Bắc nước ta chủ yếu xảy ra
14 trong mùa mưa. Với lượng mưa lớn và tập trung đã làm cho những vùng đất
thiếu che phủ bị xói mòn nghiêm trọng. Theo tính toán cho thấy 7 vùng sinh
thái của Việt Nam thì có tới 4 vùng có đất cao dốc (Thái Phiên, Nguyễn Tử
Siêm, 1998)[13].
Rửa trôi: Khác với xói mòn, rửa trôi có mặt ở hầu khắp mọi nơi trên
đất nước ta, kể cả ở các vùng đất bằng. Rửa trôi xảy ra mạnh mẽ ở nước ta là
do đặc điểm của khí hậu nhiệt đới gió mùa có lượng mưa lớn. Rửa trôi là
nguyên nhân trực tiếp gây ra hàng loạt các quá trình bất lợi như:
- Suy giảm chất dinh dưỡng như: N, P, K, Ca, Mg
trong quá khứ về sử dụng và quản lý đất dốc, dẫn dến xói mòn đất, đất bị
nén chặt mất khả năng giữ nước, dòng chảy bề mặt lớn gây lũ ống, lũ quét ở
miền núi và lụt lội ở miền đồng bằng. Do đất mất khả năng giữ nước nên
hạn hán thường xảy ra khi thiếu mưa và suốt trong mùa khô. Rõ ràng, xói
mòn đất tuy là hiện tượng chính dẫn đến thoái hóa đất, song chỉ là hậu quả
của hoạt động sản xuất trên đất dốc.
Hạn hán vào mùa khô: Đất đai vùng đồi núi có độ dốc lớn nên khả năng
giữ ẩm, giữ nước trên bề mặt đất và trong đất kém. Việc giữ nước trên đất dốc
là một vấn đề thực sự khó khăn nên việc canh tác phải phụ thuộc nhiều vào
lượng mưa. Luôn luôn có những đợt hạn hán nghiêm trọng vào mùa khô. Diễn
biến độ ẩm trong đất thường không thỏa mãn được yêu cầu duy trì lượng nước
thích hợp để nuôi cây do bị chi phối bởi các điều kiện khí hậu (lượng mưa mùa
khô chỉ chiếm 10 - 20% lượng mưa trong năm). Ở nhiều vùng còn không có
đủ nước cho con người cũng như động vật. Hạn hán là khó khăn chính đối với
đất dốc; tình trạng thiếu nước tưới thường xuyên diễn ra làm giảm năng suất và
sản lượng cây trồng. Hạn hán vào mùa khô là do sự mất rừng cũng như do việc
canh tác bừa bãi không thể kiểm soát được trên đất dốc.
Tình trạng bị cách biệt: Ở các vùng núi thường bị địa hình dốc chi phối
nên giao thông đi lại gặp nhiều khó khăn, cơ sở vật chất thiếu thốn, nhiều vùng
đất dốc bị tách biệt với khỏi thị trường nên nhu cầu trao đổi hàng hóa của
người dân bị hạn chế. Điều này đã làm chậm quá trình chuyển đổi cơ cấu cây
trồng (từ việc du canh bằng cách đốt nương dẫy để trồng cây hàng năm đến
trồng cây lâu năm có giá trị kinh tế cao) nhằm bảo vệ đất dốc khỏi bị xói mòn.
Suy giảm chất lượng rừng: Việc chất lượng đất rừng bị giảm và các
phương pháp canh tác lạc hậu đã để lại hậu quả là nhiều vùng đất rộng lớn đã
trở thành đất trống đồi núi trọc. Ở Châu Á, khi rừng đã bị phá để trồng cây
lương thực, đất sẽ trở nên chua và thường bị cỏ tranh xâm chiếm. Nông dân
phải bỏ hóa những khu đất này, tiếp tục phá rừng nơi khác để làm nương mới