ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
LÊ THỊ QUYÊN Tên đề tài:
NGHIÊN CỨU BỆNH ĐƠN BÀO ĐƯỜNG MÁU TẠI TRẠI GÀ
KHOA CHĂN NUÔI THÚ Y TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
THÁI NGUYÊN VÀ HUYỆN ĐỒNG HỶ - TỈNH THÁI NGUYÊN,
SỬ DỤNG THUỐC ĐIỀU TRỊ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo :
Chính quy
Chuyên ngành
:
Thú y
Khoa :
Hệ đào tạo :
Chính quy
Chuyên ngành :
Thú y
Khoa :
Chăn nuôi Thú y
Khóa học :
2010 - 2014
Giảng viên hướng dẫn :
TS. Trần Thị Hoan
Thái Nguyên – 2014i
LỜI CẢM ƠN
Bốn năm học ngồi trên ghế giảng đường của ngôi trường Đại học
Nông Lâm Thái Nguyên và vừa trải qua gần 6 tháng thực tập tốt nghiệp, để
có được kết quả học tập ngày hôm nay ngoài sự nổ lực cố gắng của bản
Bảng 4.2: Tỷ lệ và cường độ nhiễm Leucocytozoon ở gà theo tuổi 35
Bảng 4.3: Tỷ lệ và cường độ nhiễm Leucocytozoon ở gà theo phương
thức chăn nuôi 38
Bảng 4.4: Tỷ lệ nhiễm Leucocytozoon theo tính biệt gà 40
Bảng 4.5: Tỷ lệ và cường độ nhiễm Leucocytozoon ở gà theo tình
trạng VSTY 41
Bảng 4.6: Tỷ lệ và cường độ nhiễm Leucocytozoon theo loại gà 43
Bảng 4.7: Tỷ lệ và các triệu chứng lâm sàng của gà mắc bệnh
Leucocytozoon 44
Bảng 4.8: Hiệu lực và độ an toàn của 2 phác đồ điều trị bệnh
Leucocytozoon cho gà 46
iii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Cs : cộng sự
C : Culicoides
ĐH : đại học
H : Huyện
L : leucocytozoon
3.3. Địa điểm và thời gian nghiên cứu 24
3.3.1. Địa điểm nghiên cứu 24
3.3.2. Thời gian nghiên cứu: 24
3.4. Nội dung nghiên cứu 25
3.4.1. Đặc điểm dịch tễ bệnh Leucocytozoon ở gà tại xã Hóa Trung thuộc
huyện Đồng Hỷ - tỉnh Thái Nguyên và trại gia cầm khoa Chăn nuôi Thú y-
trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên. 25
3.4.1. Nghiên cứu đặc điểm bệnh lý và lâm sàng bệnh Leucocytozoon ở gà 25 i
LỜI CẢM ƠN
Bốn năm học ngồi trên ghế giảng đường của ngôi trường Đại học
Nông Lâm Thái Nguyên và vừa trải qua gần 6 tháng thực tập tốt nghiệp, để
có được kết quả học tập ngày hôm nay ngoài sự nổ lực cố gắng của bản
thân, em đã luôn nhận được sự giúp đỡ tận tình của nhà trường, các cơ
quan, thầy cô, gia đình và bạn bè. Nhân dịp này em xin phép bày tỏ lòng
biết ơn và cảm ơn chân thành tới:
Cô giáo hướng dẫn TS. Trần Thị Hoan và các thầy cô trong khoa Chăn
nuôi Thú y đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn em trong suốt quá trình thực tập và
hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này.
Em xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ to lớn về cơ sở vật chất của khoa
Chăn nuôi Thú y trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên.
Ban giám hiệu trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, Ban chủ nhiệm
khoa Chăn nuôi Thú y – Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, đã tận tình
dạy dỗ và dìu dắt em trong suốt thời gian học tập tại trường cũng như thời
gian thực tập tốt nghiêp.
Đồng thời em cũng xin gửi lời cảm ơn tới Trạm Thú y huyện Đồng Hỷ đã
Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Thế giới ngày càng phát triển, đuổi theo xu hướng của thế giới là sự phát
triển công nghiệp hóa hiện đại hóa của Việt Nam. Với ¾ diện tích đất nước là
đồi núi và cao nguyên, là tiềm năng cho sự phát triển thay da đổi thịt từng ngày
từng giờ của đất nước. Đặc biệt là sự phát triển nhảy vọt của ngành chăn nuôi
trong những năm gần đây và đã trở thành một ngành sản xuất chính góp phần
quan trọng vào sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, trong đó có chăn nuôi
gia cầm. Chăn nuôi gia cầm có xu hướng phát triển theo hướng thâm canh công
nghiệp, chăn nuôi gà được quan tâm hàng đầu vì có khả năng đáp ứng nhanh về
thịt và trứng phục vụ cho nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng.
Thái Nguyên cũng là một tỉnh trung du, miền núi, nhưng địa hình Thái
Nguyên không phức tạp lắm so với các tỉnh trung du, miền núi khác. Đây là
một điều kiện thuận lợi cho tỉnh trong canh tác nông – lâm nghiệp và phát
triển kinh tế - xã hội nói chung. Có địa hình đồi núi phát triển khá mạnh, trong
đó chăn nuôi gà thả vườn chiếm một số lượng lớn. Nhiều đàn gà có triệu chứng
ỉa phân xanh, thiếu máu và gầy yếu. Việc phòng bệnh truyền nhiễm bằng các
loại vacxin không mang lại hiệu quả mong muốn. Một câu hỏi đặt ra là: những
triệu chứng trên ở gà của Thái Nguyên có phải do đơn bào Leucocytozoon gây ra
hay không? Tuy nhiên, cho đến nay câu hỏi trên vẫn chưa được trả lời, và bệnh
do đơn bào Leucocytozoon và biện pháp phòng trị vẫn chưa được nghiên cứu ở
khu vực phía Bắc nói chung và ở tỉnh Thái Nguyên nói riêng. Vì vậy, việc
nghiên cứu xác định sự tồn tại và gây bệnh của đơn bào Leucocytozoon trên đàn
gà để có biện pháp phòng trị có hiệu quả là rất cần thiết. 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Cơ sở khoa học của đề tài
Ký sinh trùng là những sinh vật sinh trưởng và phát triển trong hoặc
trên cơ thể một sinh vật khác – gọi là ký chủ, chiếm đoạt chất dinh dưỡng của
ký chủ mà nó ký sinh. Trong phân loại học, dựa theo cấu trúc cơ thể của ký
sinh trùng mà người ta chia những ký sinh trùng động vật ra làm 3 ngành:
nguyên trùng, giun sán và tiết túc. Trong đó, nguyên trùng là ký sinh trùng
đơn bào (protozoa), cơ thể chỉ gồm một tế bào, thường ký sinh trong máu
(Trypanosoma, Histomonas, Leucocytozoon…) hoặc trong ruột ký chủ (cầu
trùng) (Dương Công Thuận, 1995 [26]).
Leucocytozoon ký sinh trong hồng cầu gà (đôi khi ký sinh trong bạch
cầu, tùy theo loài), làm tan vỡ hồng cầu, gây bần huyết và gây chết gà với tỷ
lệ cao, ảnh hưởng đến thu nhập của người chăn nuôi gà. Bệnh cũng được phát
hiện ở nhiều loài chim hoang dã.
2.1.1. Đặc điểm của đơn bào Leucocytozoon ký sinh ở gà
2.1.1.1. Vị trí của đơn bào Leucocytozoon trong hệ thống phân loại động vật
Đơn bào nói chung là những nguyên sinh động vật không có khí quan
di động, thân thể khi thì trần và có thể biến dạng được, khi thì có màng bọc và
có hình dạng nhất định. Đơn bào sống ký sinh ở các tế bào, các mô hay dịch
thể, có thể suốt đời hoặc những giai đoạn đầu của nó. Chúng tự nuôi dưỡng
bằng cách thẩm thấu dinh dưỡng chiếm đoạt của ký chủ qua bề mặt cơ thể.
Các loài đơn bào thuộc giống Leucocytozoon ký sinh trong máu của
nhiều loài gia cầm, thủy cầm, chim và nhiều loài chim hoang dã. Gà là vật
chủ cảm thụ đơn bào Leucocytozoon mạnh nhất. Bệnh được Ziemann phát
hiện lần đầu tiên vào năm 1898. Từ đó đến nay, trên thế giới đã có nhiều công
trình nghiên cứu về bệnh. 4
5
- Dạng tiểu phối tử (Microgametocyte): hình thuẫn, hình trứng, kích
thước 20 - 25 µm.
Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [9]: cơ thể đơn bào thường do
một tế bào rất nhỏ cấu thành, tổ chức của đơn bào gồm màng tế bào, chất
nguyên sinh, hạt hoặc nhân tế bào.
Đơn bào Leucocytozoon ký sinh ở hồng cầu, bạch cầu, các nội tạng của
gà và các loài chim ở hai dạng: dạng tiểu thể hình dùi trống, hoặc hình thoi
nhọn hai đầu với kích thước từ 15 - 20 µm, dạng bào tử hình trứng với kích
thước từ 20 - 25 µm.
Theo Phạm Sỹ Lăng và Tô Long Thành (2006) [14]; Phạm Sỹ Lăng và cs
(2008) [15], hai loài L. caullergyi và L. sabrazeis có hình dạng gần giống nhau,
chỉ khác về tính chất gây bệnh. Chúng có dạng hình cầu, hình bầu dục, hình lưỡi
liềm; kích thước 20 x 5 µm, không có sắc tố khi nhuộm Giemsa, ký sinh ở hồng
cầu của gà, gà rừng.
2.1.1.3. Vòng đời của Leucocytozoon ở gà
Saif Y. M. (2003) [45] cho rằng: giai đoạn sinh bào tử diễn ra trên vật
chủ trung gian và có thể được hoàn thành sau 3 – 4 ngày. Noãn nang phát
triển và có thể tìm thấy trong đường tiêu hóa của dĩn trong vòng 12 giờ sau
khi dĩn hút máu. Sau đó các noãn nang này di chuyển đến tuyến nước bọt của
dĩn, có thể tìm thấy noãn nang ở tuyến nước bọt dĩn sớm nhất sau khi dĩn hút
máu gà bệnh 18 ngày.
Phạm Sỹ Lăng và cs (2005) [13] cho biết: các loài Leucocytozoon có
vòng đời rất phức tạp, cần vật chủ trung gian là các loài dĩn thuộc giống
Simulium spp. và Culiloides spp. Tuỳ đặc điểm thời tiết khí hậu của các vùng
sinh thái khác nhau mà thành phần loài dĩn cũng thay đổi.
Sau khi xâm nhập vào dĩn do dĩn hút máu gà bệnh, các tiểu thể
(Merozoite) phát triển qua một số giai đoạn ở vách dạ dày thành noãn nang để
7
- Nhận diện và gắn bám
- Hình thành điểm tiếp giáp
- Tạo nên màng không bào liên tiếp màng hồng cầu
- Lọt vào màng không bào qua điểm tiếp nối chuyển động
- Hồng cầu hàn kín sau khi Merozoite lọt vào
Sau khi lọt vào trong hồng cầu, Merozoite hình thành không bào và
phát triển trong hồng cầu theo kiểu có chu kỳ, qua các thể:
Thể tự dưỡng (Trophozoite): gồm thể Trophozoite non (thể nhẫn), thể
Trophozoite phát triển (thể amip) và thể Trophozoite già.
Thể phân liệt (Schizont) gồm: Schizont non và Schizont già.
Sau khi kết thúc 1 chu kỳ phát triển, các Merozoite trong Schizont phá
vỡ hồng cầu vào máu, một số bị thực bào hoặc chết, một số xâm nhiễm vào
hồng cầu khác và tiếp tục phát triển theo chu kỳ tương tự.
Sau một số chu kỳ, có những Merozoite tiếp tục xâm nhập vào hồng
cầu, nhưng không tạo thành các thể Merozoite nữa mà phát triển thành thể có
giới tính: Gametocyte (Macrogametocyte – giao tử cái và Microgametocyte –
giao tử đực). Sau đó giao tử dực và giao tử cái kết hợp với nhau tạo thành hợp
tử (Zygote), gây phá vỡ hồng cầu và di chuyển trong máu.
Khi ký chủ trung gian là dĩn hút máu gia cầm, mầm bệnh sẽ vào ký chủ
trung gian và tiếp tục vòng đời.
Trong ký chủ trung gian, hợp tử nở ra và phát triển thành dạng trưởng
thành (thoi trùng). Chúng di chuyển lên tuyến nước bọt của dĩn và cư trú ở đó.
Khi dĩn hút máu gia cầm, các thoi trùng theo tuyến nước bọt vào máu
của gia cầm và bắt đầu vòng đời mới.
Tuy nhiên Lê Văn Năm (2011) [19] lại cho rằng: chu kỳ phát triển sinh
học của Leucocytozoon gồm 2 giai đoạn chính. Giai đoạn thứ nhất là giai
9
Hướng thứ nhất: Chúng chui vào và ký sinh trong các tế bào máu, sinh
trưởng và phát triển theo phương thức tự nhân đôi để tạo ra các thể phân lập
thế hệ 1 (Schizont - 1). Các Schizont thế hệ 1 này lớn lên nhanh chóng và tiết
ra một chất làm tan hồng cầu, chất đó được gọi là chất kháng hồng cầu (anti-
erythrocyte). Dưới tác động cơ học của nhiều thể phân lập đã sinh ra trong
mỗi hồng cầu dưới tác động của chất kháng hồng cầu, một số lượng lớn hồng
cầu bị phá vỡ và giải phóng ra nhiều thể phân lập thế hệ 1, đây là nguyên
nhân chính dẫn đến thiếu máu, tăng hemobilirubin, máu trở nên loãng, nhớt
và khó đông. Các thể phân lập thế hệ 1 lập tức tấn công và ký sinh tiếp vào
các tế bào hồng cầu mới, chúng lớn lên và lại nhân đôi để hình thành thể phân
lập thế hệ 2 (Schizont - 2), cứ tiếp tục như vậy chúng hình thành thể phân lập
thế hệ 3 (Schizont - 3) thì dừng lại và bắt đầu hình thành các giao tử
(Gametocyte). Giao tử đực có kích thước nhỏ gọi là Microgametocyte và giao
tử cái có kích thước lớn hơn gọi là Macrogametocyte. Kết thúc giai đoạn sinh
sản vô tính và bắt đầu giai đoạn sinh sản hữu tính.
Giai đoạn sinh sản hữu tính xảy ra trong các tế bào hồng cầu. Giao tử
đực chui vào giao tử cái để thụ tinh và hình thành nên hợp tử. Hợp tử được
bọc bởi một màng và được gọi là bào tử, có kích thước trung bình 14,5 – 5,5
µm. Sau đó, chúng phát triển thành các bào tử hình thoi, có kích thước lên đến
45 µm. Chỉ có các thoi trùng này mới có khả năng lây truyền thông qua côn
trùng hút máu gia cầm bệnh và truyền thoi trùng gây bệnh cho gia cầm khỏe.
Hướng thứ hai: Sau khi các thoi trùng theo máu di hành khắp các nơi
trong cơ thể, một phần chúng cư trú tại các cơ quan như lách, thận, phổi, gan,
dạ dày tuyến, dạ dày cơ, ruột non, buồng trứng, ống dẫn trứng và não. Tại đây,
chúng lột xác và chui vào ký sinh trong các tế bào nội mô, tế bào lưới và đại
thực bào của các cơ quan kể trên của gia cầm thụ cảm. Trong các tế bào đó
ii
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 4.1: Tỷ lệ và cường độ nhiễm Lecocytozoon ở gà tại huyện Đồng
Hỷ- tỉnh Thái Nguyên và trại gia cầm khoa Chăn nuôi Thú y
tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên 31
Bảng 4.2: Tỷ lệ và cường độ nhiễm Leucocytozoon ở gà theo tuổi 35
Bảng 4.3: Tỷ lệ và cường độ nhiễm Leucocytozoon ở gà theo phương
thức chăn nuôi 38
Bảng 4.4: Tỷ lệ nhiễm Leucocytozoon theo tính biệt gà 40
Bảng 4.5: Tỷ lệ và cường độ nhiễm Leucocytozoon ở gà theo tình
trạng VSTY 41
Bảng 4.6: Tỷ lệ và cường độ nhiễm Leucocytozoon theo loại gà 43
Bảng 4.7: Tỷ lệ và các triệu chứng lâm sàng của gà mắc bệnh
Leucocytozoon 44
Bảng 4.8: Hiệu lực và độ an toàn của 2 phác đồ điều trị bệnh
Leucocytozoon cho gà 46
12
caullergyi có đặc điểm như sau: cơ thể đơn bào hơi tròn, kích thước 15,0 -
15,5 µm. Tế bào vật chủ cũng tròn, kích thước 20 µm. Ở trong cơ thể dĩn –
KCTG, Zygote có dạng tròn đường kính 14 µm, sau đó kéo dài, kích thước 21
µm, chúng xuyên qua vách ruột tạo thành Oocyst hình gần tròn, kích thước 4 -
14 x 5-14 µm. Oocyst phát triển thành thoi trùng (Sporozoite). Các thoi trùng
đến tuyến nước bọt của dĩn có kích thước 7 - 11 x 1 - 2 µm.
Mùa vụ: Gà mắc bệnh ở tất cả các mùa trong năm, nhưng nhiễm nhiều
và nặng ở vụ Hè và vụ Xuân.
Tuổi mắc bệnh: Gà ở các lứa tuổi đều bị bệnh. Tuổi gà càng cao tỷ lệ
và cường độ nhiễm bệnh càng tăng.
Yếu tố stress: các yếu tố strees như chuồng trại chật chội, khí hậu ẩm,
thấp, thức ăn kém dinh dưỡng đóng vai trò thúc đẩy mức độ và tốc độ lây
lan bệnh Leucocytozoon ở gà.
Điều kiện vệ sinh thú y: điều kiện vệ sinh thú y đối với chuồng trại và
khu vực xung quanh chuồng trại, dụng cụ và môi trường chăn nuôi là một
trong những yếu tố có ảnh hưởng lớn tới khả năng nhiễm bệnh Leucocytozoon
của gà. Điều này có liên quan mật thiết với sự tồn tại và phát triển của các loài
dĩn hút máu – KCTG truyền bệnh.
2.1.2.3. Cơ chế sinh bệnh của bệnh Leucocytozoon
Bệnh lây truyền từ gà bệnh sang gà khoẻ qua đường máu nhờ vật chủ
trung gian là các loài dĩn thuộc họ Culicoides spp. và Simulium spp Dĩn hút
máu của gà bệnh có đơn bào ký sinh trong máu. Vào cơ thể dĩn, đơn bào phát
triển qua 3 giai đoạn, cuối cùng thành bào tử nằm ở tuyến nước bọt của dĩn.
Khi dĩn mang mầm bệnh hút máu gà khoẻ, bào tử sẽ được truyền cho gà khoẻ
và gây bệnh cho gà. 14
Các bào tử xâm nhập vào các tế bào nội quan như: gan, lách, phổi, thận,
tổ chức cơ để trở thành bào tử (Schizont); các bào tử vào hồng cầu phát triển
gồm các thể như sau:
- Thể quá cấp:
Trong suốt thời gian ủ bệnh, gà bị sốt cao nhưng có thể vẫn ăn uống
bình thường nên người chăn nuôi hầu như không để ý, hoặc không quan sát
thấy những biểu hiện bất thường của đàn gà. Bệnh bỗng dưng bùng phát lẻ tẻ
khi gặp các yếu tố stress bất lợi, với các triệu chứng điển hình như: đột nhiên
ho hoặc hắt hơi, mào, tích tái nhợt, ộc máu ra miệng, mũi, đôi khi ở cả hậu
môn rồi chết. Một số khác lại có triệu chứng lừ đừ hoặc có triệu chứng thần
kinh, nhảy sốc lên rồi rơi xuống nền dãy dụa và chết. Cả hai trường hợp trên
đều do dập vỡ gan, hoặc xuất huyết não bởi sự phát triển quá mạnh của các
Leucocytozoon trong các cơ quan đó.
Số gà chết như mô tả trên không sảy ra ồ ạt, nhưng tăng dần qua
mỗi ngày. Nếu không được chẩn đoán đúng và điều trị kịp thời, tỷ lệ chết
sẽ rất cao.
- Thể cấp tính:
Đây là thể bệnh phổ biến nhất và gắn liền với thời tiết ẩm ướt do mưa
phùn kéo dài. Khí hậu ẩm thấp tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển, sinh
sôi, nảy nở của ký chủ trung gian truyền bệnh.
Trong những đàn gà mắc bệnh ở thể này, lúc đầu chỉ thấy một số ít gà
có biểu hiện sốt cao, mào thâm tái, sau vài ngày trở nên trắng bệch. Khi cắt
tiết gà thấy máu rất loãng, khó đông.
Gà bị bệnh giảm ăn, ít vận động, đi lại không vững. Gà bị tiêu chảy,
phân có màu xanh đậm. iii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Cs : cộng sự
C : Culicoides
tạng. Sự nhiễm Leucocytozoon thường gặp nhiều nhất ở các cơ quan như
phổi, gan, thận, mô cơ.
Lê Văn Năm (2011) [19] cho biết: bệnh tích đại thể của bệnh do đơn
bào Leucocytozoon gây ra ở gà rất điển hình, được quan sát thấy trong nhiều
cơ quan nội tạng như: gan, lách, thận, tim, phổi, ruột non, não, buồng trứng và
ống dẫn trứng Những biến đổi đại thể ở các cơ quan nội tạng như sau:
Gan: sưng to, mềm nhũn và dễ vỡ, trên bề mặt gan thấy nhiều điểm
trắng. Đây là kết quả của các thể phân lập của Leucocytozoon ở gan tạo nên,
làm ròn, xốp và tắc nghẽn các mao mạch, dẫn đến xuất huyết tràn lan, thậm
chí vỡ mao mạch, dẫn đến vỡ gan, chảy máu vào xoang bụng.