PHUOWNGJ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN
KHOA QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN
HỨA THỊ LÍCH Tên đề tài:
ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC BỒI THƯỜNG VÀ GIẢI PHÓNG
MẶT BẰNG CỦA DỰ ÁN XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH
ĐƯỜNG BẢN ĐON – PÒ NHÙNG TẠI XÃ CAO LÂU,
HUYỆN CAO LỘC, TỈNH LẠNG SƠN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Hệ đào tạo
: Chính quy
Chuyên ngành
: Địa Chính Môi Trường
Khoa
: Quản lý tài nguyên
Khóa học
: 2010 - 2014
: 2010 - 2014
Giáo viên hướng dẫn
: PGS.TS. Nguyễn Ngọc Nông
THÁI NGUYÊN, 2014LỜI CẢM ƠN
Thực hiện phương châm “ Học đi đôi với hành, lý luận gắn với thực
tế”. Thực tập tốt nghiệp là thời gian để mỗi sinh viên sau khi thực tập, nghiên
cứu tại trường có điều kiện củng cố và vận dụng kiến thức đã học vào thực tế.
Đây là giai đoạn không thể thiếu được đối với mỗi sinh viên các trường Đại
học nói chung và sinh viên trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên.
Với lòng kính trọng và biết ơn, em xin cảm ơn thầy giáo PGS.TS
Nguyễn Ngọc Nông phó hiệu trưởng nhà trường đã tận tình hướng dẫn và
giúp đỡ em trong suốt thời gian thực hiện chuyên đề này.
Em xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm
khoa Quản lý tài nguyên, các thầy giáo, cô giáo, cán bộ trong khoa đã truyền
đạt cho em những kiến thức, kinh nghiệm quý báu trong quá trình học tập và
rèn luyện tại trường.
Em xin gửi lời cảm ơn tới lãnh đạo Trung tâm phát triển quỹ đất huyện
Cao Lộc, các cán bộ, nhân viên đang công tác tại Trung tâm phát triển quỹ
đất huyện đã giúp đỡ em trong suốt thời gian thực tập tốt nghiệp.
Trong quá trình học tập và làm chuyên đề, em đã cố gắng hết mình
nhưng do kinh nghiệm còn thiếu và kiến thức còn hạn chế nên chuyên đề tốt
nghiệp này chắc chắn không tránh khỏi thiếu sót. Em rất mong nhận được sự
đóng góp ý kiến của các thầy cô và bạn bè để chuyên đề được hoàn thiện hơn.
huyện Cao Lộc 58
DANH MỤC HÌNH
Hình 4.1. Biểu đồ thể hiện tỷ lệ diện tích đất đã thu hồi của dự án 39
Hình 4.2. Tuyến đường đang thi công của dự án 39
Hình 4.3. Biểu đồ thể hiện số tiền bồi thường của từng loại đất 45
Hình 4.4. Biểu đồ thể hiện tỷ lệ chi phí các hạng mục bồi thường của dự án 54
DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT
GPMB : Giải phóng mặt bằng
TP : Thành phố
UNBD : Ủy ban nhân dân
TĐC : Tái định cư
BT : Bồi thường
GCN : Giấy chứng nhận
NĐ - CP : Nghị định - Chính phủ
TT - BTC : Thông tư - Bộ tài chính
BTNMT : Bộ Tài nguyên Môi trường
QĐ : Quyết định
QĐ - UBND : Quyết định Ủy ban nhân dân
NĐ : Nghị định
2.2. Cơ sở pháp lý của đề tài 6
2.2.1. Các văn bản pháp quy của Nhà nước có liên quan đến công tác bồi
thường và GPMB. 6
2.2.2. Những văn bản pháp quy của tỉnh Lạng Sơn liên quan đến công tác bồi
thường và GPMB 7
2.3. Cơ sở thực tiễn của đề tài 8
2.3.1. Tình hình giải phóng mặt bằng ở một số nước trên thế giới 8
2.3.3. Tình hình giải phóng mặt bằng huyện Cao Lộc trong những năm gần đây 19
2.4. Quy trình tiến hành bồi thường thiệt hại của dự án xây dựng Đường Bản
Đon – Pò Nhùng tại xã Cao Lâu, huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn 20
PHẦN 3. ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22
3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 22
3.1.1. Đối tượng nghiên cứu 22
3.1.2. Phạm vi nghiên cứu 22
3.2. Địa điểm và thời gian thực tập 22
3.2.1. Địa điểm 22
4.2. Kết quả bồi thường và giải phóng mặt bằng của dự án đường Bản Đon –
Pò Nhùng tại xã Cao Lâu 36
4.2.1. Khái quát về dự án xây dựng Đường Bản Đon – Pò Nhùng trên địa phận
xã Cao Lâu, huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn 36
4.2.2. Đánh giá kết quả thống kê về đất, tài sản, cây cối, hoa màu đã được bồi
thường trong dự án 38
4.2.3. Kết quả bồi thường về đất, tài sản, cây cối hoa màu trong dự án 43
4.2.4. Kết quả về hỗ trợ 51
4.2.5. Tổng hợp nguồn kinh phí thực hiện bồi thường và GPMB 52
4.3. Đánh giá kết quả công tác BT&GPMB của dự án công trình đường Bản
Đon – Pò Nhùng qua ý kiến của người dân 54
4.3.1. Kết quả điều tra lấy ý kiến của hộ gia đình, cá nhân về công tác thu hồi,
bồi thường và giải phóng mặt bằng của dự án 54
4.3.2. Kết quả điều tra cán bộ trong ban bồi thường và GPMB của huyện Cao
Lộc 57
4.4. Đánh giá những thuận lợi, khó khăn trong công tác GPMB của dự án 60
4.4.1. Đánh giá những thuận lợi, khó khăn trong công tác bồi thường GPMB 60
4.4.2. Nguyên nhân 61
nước ta có đủ sức mạnh để có thể tham gia vào thị trường rộng lớn này.
Ngày nay, các dự án đầu tư vào đất ngày càng nhiều, cùng với quá trình
công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước là tốc độ đô thị hóa ngày càng mạnh
mẽ trên cả nước. Với tốc độ phát triển kinh tế - xã hội như hiện nay, làm cho
nhu cầu về thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất ngày càng lớn. Để cho các
dự án đầu tư vào các công trình phục vụ cho mục đích Quốc phòng – An ninh,
lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, mục đích phát triển kinh tế có tính khả thi
và đúng tiến độ thì công tác bồi thường và giải phóng mặt bằng (BT&GPMB)
đóng một vai trò hết sức quan trọng. Vì nó là điều kiện ban đầu để triển khai
dự án đầu tư: Nó có thể là động lực thúc đẩy các dự án được triển khai nhanh,
đúng tiến độ nhưng ngược lại nó cũng có thể trở thành rào cản và luôn tiềm
ẩn nhiều nguy cơ gây khiếu kiện, mất ổn định an ninh vì khi thực hiện công
tác này ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của tổ chức, cá nhân và hộ gia đình.
Cùng với sự phát triển của tỉnh Lạng Sơn nói chung và huyện Cao Lộc
nói riêng trong những năm gần đây có nhiều công trình, dự án được triển khai
nhằm mục đích đẩy mạnh nền kinh tế của tỉnh, nâng cao chất lượng cuộc sống
của người dân và góp phần không nhỏ vào sự nghiệp phát triển chung của
toàn tỉnh như: dự án Bệnh viện Đa khoa tỉnh, các dự án trong khu vực cửa
khẩu Hữu Nghị, dự án cải tạo nâng cấp Quốc lộ 4B…. Tuy nhiên, có những
dự án đã hoàn thành, các công trình đã đưa vào sử dụng nhưng vẫn còn những
đơn thư khiếu nại và các vấn đề liên quan đến đất đai của người dân yêu cầu
cơ quan có thẩm quyền giải quyết, nguyên nhân chính là do đâu có phải là do
mức bồi thường chưa thỏa đáng hay do một nguyên nhân khác? Công tác
GPMB không chỉ là di dời dân ra khỏi khu vực giải tỏa mà còn phải có kế
hoạch cụ thể trong công tác tái định cư và hỗ trợ phát triển kinh tế để ổn định
đời sống của người dân sau tái định cư.
Xuất phát từ thực tế đó, được sự đồng ý và giúp đỡ Ban giám hiệu nhà
trường, Ban chủ nhiệm Khoa Quản lý tài nguyên – Trường Đại học Nông
lâm, dưới sự hướng dẫn trực tiếp của thầy giáo PGS.TS Nguyễn Ngọc Nông –
thức đã học, đồng thời là cơ sở để sinh viên bước đầu tiếp cận với công tác
đền bù GPMB.
1.4.2. Ý nghĩa thực tiễn
- Thông qua quá trình nghiên cứu giúp sinh viên nắm được những thuận
lợi và khó khăn để từ đó ra các giải pháp góp phần thúc đẩy nhanh tiến độ bồi
thường GPMB.
- Nhằm giúp sinh viên khi ra trường thực hiện tốt công tác chuyên môn
về bồi thường GPMB khi nhà nước thu hồi đất. PHẦN 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Cơ sở khoa học của đề tài
Trong công cuộc CNH - HĐH, việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài và
phát triển cơ sở hạ tầng là yếu tố quan trọng trong chiến lược đưa đất nước ta
đến năm 2020 cơ bản trở thành nước công nghiệp theo đúng lộ trình. Có thể
nói công tác thu hồi đất, giải phóng mặt bằng có vai trò không thể thiếu trong
quá trình phát triển kinh tế, đẩy nhanh tốc độ xây dựng cơ sở hạ tầng, đưa đất
nước lên tầm cao mới.
Hiện nay, cơ sở hạ tầng của đất nước ta còn hạn chế nên việc thu hút
vốn và tạo niềm tin cho các nhà đầu tư trong nước cũng như nước ngoài còn
gặp nhiều khó khăn. Công tác giải phóng mặt bằng nhanh chóng sẽ giúp ta có
lợi thế trong cạnh tranh và thu hút vốn của các nhà đầu tư.
Công tác giải phóng mặt bằng kéo dài sẽ làm chậm tiến độ của các dự
án, làm ảnh hưởng đến cuộc sống của người dân trong khu vực dự án cũng
như đánh mất niềm tin cho các nhà đầu tư. Chính vì vậy công tác giải phóng
Bồi thường khi nhà nước thu hồi đất là việc nhà nước trả lại giá trị
quyền sử dụng đất đối với diện tích đất bị thu hồi cho người bị thu hồi (theo
khoản 6, Điều 4, Luật Đất đai năm 2003).
Ngoài các khoản hỗ trợ còn một hình thức bồi thường nữa là tái định cư
2.1.2. Hỗ trợ
Hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất là việc nhà nước giúp đỡ người bị thu
hồi đất thông qua đào tạo nghề mới, bố trí việc làm mới, cấp kinh phí để di
dời đến địa điểm mới (theo khoản 7, Điều 4, Luật Đất đai năm 2003).
2.1.3. Tái định cư
Tái định cư (TĐC) là việc di chuyển đến một nơi ở mới để sinh sống và
làm ăn. Tái định cư bắt buộc là sự di chuyển không thể tránh khỏi khi nhà
nước thu hồi đất hoặc trưng dụng đất để thực hiện các dự án phát triển.
TĐC được hiểu là một quá trình từ bồi thường thiệt hại về đất, tài sản,
di chuyển đến nơi ở mới và các hoạt động hỗ trợ để xây dựng lại cuộc sống,
thu thập, cơ sở vật chất, tinh thần ai đó. Tái định cư là hoạt động nhằm giảm
nhẹ các tác động xấu về kinh tế - xã hội đối với bộ phận dân cư đã gánh chịu
vì sự phát triển chung của đất nước.
Hiện nay nước ta, khi Nhà nước thu hồi đất mà phải di chuyển chỗ ở thì
người sử dụng đất được bố trí tái định cư bằng hình thức sau:
- Bồi thường bằng nhà ở.
- Bồi thường bằng đất ở mới.
- Bồi thường bằng tiền để xây dựng nơi ở mới.
Tái định cư là việc không thể tách rời và giữ vị trí rất quan trọng trong
chính sách giải phóng mặt bằng.
2.2. Cơ sở pháp lý của đề tài
2.2.1. Các văn bản pháp quy của Nhà nước có liên quan đến công tác bồi
thường và GPMB.
- Luật Đất đai năm 2003.
- Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về thi
Lạng Sơn về việc ban hành giá các loại đất năm 2012 trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn.
- Quyết định số 36/QĐ-STC ngày 12/03/2008 của Sở Tài Chính ban
hành quy định thủ tục, trình tự thực hiện cơ chế một cửa đối với lĩnh vực
thẩm định phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư ki Nhà nước thu hồi
đất trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn.
- Quyết định số 04/2012/QĐ-UBND ngày 24/02/2012 của UBND tỉnh
Lạng Sơn ban hành quy định đơn giá cây trồng, vật nuôi áp dụng trong công
tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn
tỉnh Lạng Sơn.
- Quyết định số 12/2011/QĐ-UBND ngày 26/08/2011 của UBND tỉnh
Lạng Sơn ban hành đơn giá xây dựng nhà mới, công trình và vật kiến trúc áp
dụng trong công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi
đất trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn.
- Căn cứ Quyết định số 1637/QĐ-UBND ngày 28/8/2009 của UBND
huyện Cao Lộc về việc phê duyệt dự án đầu tư xây dựng công trình: Đường
Bản Đon – Pò Nhùng, xã Cao Lâu, huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn.
- Căn cứ Quyết định số 703/QĐ-UBND ngày 11/06/2012 của UBND
huyện Cao Lộc về việc phê duyệt điều chỉnh dự án đầu tư xây dựng Công trình:
Đường Bản Đon – Pò Nhùng, xã Cao Lâu, huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn.
- Căn cứ Thông báo số 77/TB-UBND ngày 22/06/2012 của UBND
huyện Cao Lộc về việc thu hồi đất để thực hiện xây dựng Công trình: Đường
Bản Đon – Pò Nhùng, xã Cao Lâu, huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn.
- Căn cứ Quyết định số 1267/QĐ-UBND ngày 22/06/2012 của UBND
huyện Cao Lộc về việc thành lập Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư
Công trình: Đường Bản Đon – Pò Nhùng, xã Cao Lâu, huyện Cao Lộc, tỉnh
Lạng Sơn.
- Tờ trình số 361/TTr-TTPTQĐ ngày 28/11/2012 của TTPTQĐ đề nghị
thẩm định phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư Công trình: Đường
Bản Đon- Pò Nhùng, xã Cao Lâu, huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn.
Về pháp luật đất đai có nhiều nét tương đồng với pháp luật đất đai ở
Việt Nam. Trung Quốc, đất đai thuộc chế độ công hữu, gồm sở hữu toàn dân
và sở hữu tập thể. Đất đai ở khu vực thành thị và đất xây dựng thuộc sở hữu
Nhà nước. Đất ở khu vực nông thôn và đất nông nghiệp thuộc sở hữu tập thể,
nông dân lao động. Theo quy định của Luật đất đai Trung Quốc năm 1998,
đất đai thuộc sở hữu nhà nước được giao cho các tổ chức, cá nhân sử dụng
theo các hình thức giao đất không thu tiền sử dụng đất (cấp giấy), giao đất có
thu tiền sử dụng đất và cho thuê đất.
Đất thuộc diện được cấp bao gồm đất được sử dụng cho cơ quan nhà
nước, phục vụ mục đích công cộng, xây dựng cơ sở hạ tầng và phục vụ cho
mục đích quốc phòng, an ninh. Đất sử dụng vào mục đích sản xuất kinh
doanh thì được Nhà nước giao đất theo hình thức giao đất có thu tiền sử dụng
đất hoặc là cho thuê đất.
Trong trường hợp Nhà nước có thu hồi đất của người đang sử dụng để
sử dụng vào mục đích công cộng, lợi ích quốc gia… thì Nhà nước có chính
sách bồi thường và tổ chức TĐC cho người bị thu hồi đất.
Về vấn đề bồi thường cho người có đất bị thu hồi được pháp luật đất
đai Trung Quốc quy định như sau:
Về thẩm quyền thu hồi đất: Chỉ có Chính phủ (Quốc vụ viện) và chính
quyền tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương mới có quyền thu hồi đất. Quốc vụ
viện có thẩm quyền thu hồi đất nông nghiệp từ 35 ha trở lên và 70 ha trở lên đối
với các loại đất khác. Dưới hạn mức này thì do chính quyền tỉnh, thành phố trực
thuộc Trung ương ra quyết định thu hồi đất. Đất nông nghiệp sau khi thu hồi sẽ
chuyển từ đất thuộc sở hữu tập thể thành đất thuộc sở hữu nhà nước.
Về trách nhiệm bồi thường: Pháp luật đất đai Trung Quốc quy định,
người nào sử dụng đất thì người có trách nhiệm bồi thường. Phần lớn tiền bồi
thường do người sử dung đất trả. Tiền bồi thường bao gồm các khoản như lệ
phí sử dụng đất phải nộp cho Nhà nước và các khoản tiền trả cho người có đất
bị thu hồi. Ngoài ra, pháp luật đất đai Trung Quốc còn quy định mức nộp lệ
2.3.1.3. Công tác bồi thường và giải phóng mặt bằng ở Indonesia
Từ những năm 60 của thế kỷ XX ở Indonesia đã có luật về thu hồi đất
và các đối tượng có liên quan tới đất,đó là luật số 20 năm 1961 phản ánh thực
thi quyền lực thống trị của chính quyền. Mà đến những năm đầu của thập niên
70, theo luật cơ bản về đất đai của Chính phủ có thể thu hồi đất phục vụ lợi
ích chung nếu bồi thường thoả đáng theo thủ tục do luật này qui định. Khả
năng tái định cư đối với những người bị mất nhà cửa,thu nhập, phương tiện
sống do luật số 20 qui định và từ đó đến nay chính phủ Inđonesia đã ban hành
rất nhiều Nghị định về việc bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất và
chế độ tái định cư cho những người bị mất đất.
Di dân tái định cư, bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất vì
mục đích phát triển của xã hội từ trước đến nay vẫn bị coi là sự hy sinh mà
một số người phải chấp nhận vì lợi ích của số đông và lơi ích của cộng đồng.
Việc xây dựng và lập kế hoạch thực hiện các phương án bồi thường,tái định
cư sao cho các dự án luôn luôn hướng tới sự phát triển về kinh tế, ổn định xã
hội và bền vững về môi trường. Vì vậy, khi Nhà nước bồi thường và tái định
cư cần phải có phương châm thực hiện để áp dụng khi nhà nước thu hồi đất:
- Bồi thường tài sản thiệt hại, nghề nghiệp và thu nhập của người dân bị mất đất.
- Hỗ trợ di chuyển trong đó có cấp và bố trí nơi ở mới với các dịch vụ
và phương tiện phù hợp.
- Trợ cấp, khôi phục để ít nhất người bị ảnh hưởng đạt hoặc gần đạt so
với mức sống trước đó.
- Đối với các dự án có di dân tái định cư, việc lập kế hoạch, thiết kế nội
dung di dân là yếu tố không thể thể thiếu được ngay từ chu kỳ đầu tiên của
việc lập dự án đầu tư. Những nguyên tắc thực hiện là:
+ Nghiên cứu kỹ phương án của các dự án mang tính khả thi để giảm
tới mức tối đa việc di dân bắt buộc khi triển khai dự án.
+ Người bị thu hồi đất phải được bồi thường và hỗ trợ để khôi phục
cuộc sống kinh tế ở mức cao nhất với thời điểm trước khi có dự án.
chịu thiệt hại toàn bộ hay một phần tài sản vật chất và phi vật chất, bao gồm
nhà cửa, cộng đồng, hệ thống hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội, các phương
tiện sản xuất bao gồm đất đai, nguồn thu nhập, kế sinh nhai do đất đai tạo ra,
đặc trưng văn hóa và tiềm năng về sự hỗ trợ lẫn nhau để đảm bảo đời sống, tài
nguyên cho sự sinh tồn và hệ sinh thái… Kinh nghiệm của WB cho thấy việc
tái định cư không tự nguyện do các dự án phát triển gây nên, trong trường hợp
không thể giảm thiểu được thường dẫn đến những hiểm họa nghiêm trọng về
kinh tế, xã hội và môi trường do các hệ thống sản xuất bị phá vỡ, con người
phải đối mặt với sự bần cùng hóa khi những tài sản, công cụ sản xuất hay
nguồn thu nhập của họ bị mất đi. Tất cả những điều đó nếu giải quyết không
tốt sẽ dẫn đến những khó khăn, căng thẳng về xã hội và dễ dàng dẫn tới sự
bần cùng hóa đời sống dân cư. Chính vì vậy mà chính sách tái định cư của
WB đã đưa ra những nguyên tắc hướng dẫn cơ bản đó là:
- Tái định cư không tự nguyện cần tránh được ở mọi nơi có thể tránh
được hoặc giảm đến mức tối thiểu bằng cách đưa ra mọi phương án có thể lựa
chọn trong quá trình thiết kế kỹ thuật.
- Ở những nơi mà tái định cư không tự nguyện là không thể tránh khỏi,
hoạt động tái định cư cần được nhận thức và thực thi như những chương trình
phát triển bền vững, cần cung cấp đủ nguồn đầu tư để giúp những người bị dự
án ảnh hưởng tiêu cực được chia sẻ lợi ích của dự án, những người bị ảnh
hưởng cần được tham khảo ý kiến đầy đủ và cần được tham gia vào quá trình
lập kế hoạch và thực hiện các chương trình tái định cư.
- Những người bị ảnh hưởng cần được trợ giúp nhằm được cải thiện
điều kiện sống của mình hoặc ít nhất là khôi phục được mức sống cũ như
trước khi có dự án.
- Từ tháng 02/1994, Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) đã bắt đầu áp
dụng bản hướng dẫn hoạt động của WB về tái định cư và từ tháng 11/1995
Ngân hàng này đã có chính sách riêng của Ngân hàng về tái định cư bắt buộc.
Theo chính sách bồi thường giải phóng mặt bằng và tái định cư của
2.3.2.1. Công tác bồi thường và giải phóng mặt bằng ở Hà Nội
Trên địa bàn thành phố Hà Nội hiện đang có rất nhiều dự án liên quan
đến công tác bồi thường GPMB. Theo ban chỉ đạo GPMB thành phố hiện
đang có 1.047 dự án liên quan đến thu hồi đất, GPMB với tổng diện tích đất
thu hồi là 10.358ha.
Trong đó, 7 tháng đầu năm 2012, đơn vị này đã hoàn thành công
tác GPMB với 110 dự án (gồm 67 dự án hoàn thành xong toàn bộ và 43 dự án
hoàn thành theo phân kỳ đầu tư), với diện tích đất đã GPMB được đạt 749,70
ha đất (70% so với cùng kỳ của năm 2011), chi trả hơn 4965 tỷ đồng tiền bồi
thường, hỗ trợ cho 17.367 tổ chức, hộ gia đình, cá nhân và bố trí tái định cư
cho 564 hộ.
Hiện trên địa bàn các quận, huyện , thị xã, các chủ đầu tư đang tích cực
triển khai hơn 60 dự án trọng điểm theo kế hoạch của Bộ GTVT và theo
Chương trình số 07-CTr/TU của Thành phố (trong đó có 17 dự án chưa xong
thủ tục GPMB và 17 dự án không phải thực hiện GPMB). 17 dự án trọng
điểm của thành phố đang được khẩn trương hoàn thiện các thủ tục pháp lý để
triển khai công tác GPMB, thực hiện dự án.