ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM PHẠM THỊ ÁNH
Tên đề tài:
“ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG SỬ DỤNG HẦM KHÍ BIOGAS
TẠI THỊ XÃ QUẢNG YÊN– TỈNH QUẢNG NINH
GIAI ĐOẠN 2011- 2013’’
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Khoa học môi trường
Khoa : Môi trường
Khóa học: : 2010 - 2014
2.4. Nguồn gốc lịch sử phát triển 10
2.5. Công nghệ khí sinh học biogas trong nước và thế giới 10
2.5.1. Công nghệ khí sinh học trên thế giới 11
2.5.2. Tình hình nghiên cứu trong nước về biogas 12
PHẦN 3. ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU 17
3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 17
3.2. Địa điểm và thời gian tiến hành 17
3.3. Nội dung và phương pháp nghiên cứu 17
3.3.1. Nội dung nghiên cứu 17
3.3.2. Phương pháp nghiên cứu 17
PHẦN 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 19
4.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội thị xã Quảng Yên – Quảng Ninh 19
4.1.1. Điều kiện tự nhiên 19
4.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội 22
Bảng 4.5. Giá trị sản xuất ngành chăn nuôi 25
5.2. Đề nghị 44
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1. : Xác định hệ số n và liều lượng chất nạp d. 5
Bảng 2.2. Lượng chất thải của vật nuôi bình quân/ngày 14
Bảng 4.1. Một số yếu tố khí hậu của thị xã Quảng Yên từ năm 1980 - 2012 20
Bảng 4.2. Cơ cấu các loại đất chính tại Quảng Yên năm 2013 21
Bảng 4.3. Hiện trạng và dự báo dân số thị xã Quảng Yên đến năm 2030 23
Bảng 4.4. Diện tích , giá trị sản xuất của ngành trồng trọt 24
Bảng 4.6.Số lượng hầm ủ biogas theo năm và theo khu dân cư năm 29
2010- 2013 29
Biểu đồ 4.1. Số hầm ủ hàng năm xây dựng ở thị xã Quảng Yên 30
Hình 2.2. Hoạt động của hầm ủ biogas ở giai đoạn xả khí 8
Biểu đồ 4.2. Quy mô hầm ủ tính theo thể tích 33
Biểu đồ 4.3. Hình thức sử dụng khí Biogas của người dân 36
Biểu đồ 4.4. Hình thức sử dụng chất thải của hầm Biogas 39
1
PHẦN 1
MỞ ĐẦU
1.1.Đặt vấn đề
Hiện nay, cùng với xu thế phát triển chung của thế giới, Việt Nam đã
và đang đẩy mạnh công tác hội nhập quốc tế, quá trình công nghiệp hoá và đô
thị hoá đất nước. Nhưng song song với quá trình phát triển đó chúng ta phải
đối mặt với những vấn về sự thiếu hụt về năng lượng, nhiên liệu và vấn đề ô
nhiễm môi trường. Để giải quyết những vấn đề đó chúng ta đã nỗ lực để tìm
ra những nguồn năng lượng thay thế cho nguồn năng lượng sắp cạn kiệt nhằm
phát triển một thế giới bền vững và trong sạch hơn. Một trong những giải
pháp đó là tìm và sử dụng các loại nhiên liệu sạch thân thiện với môi trường
thay thế cho loại nhiên liệu cũ (than, dầu, xăng ), trong đó khí sinh học
(biogas) đã và đang được các nước trên thế giới cũng như ở Việt Nam xử
dụng và phát triển rộng rãi.
Nước ta với ưu thế là một nước nông nghiệp (hơn 70 % dân số là sản
xuất nông nghiệp), tập trung chủ yếu vào 2 ngành trồng trọt và chăn nuôi. Với
khối lượng khổng lồ chất thải chăn nuôi vẫn chưa được sử lý dẫn tới lãng phí
nguồn phân bón hữu cơ mà còn gây ô nhiễm môi trường đặc biệt là các vùng
nông thôn. Giải quyết môi trường nông thôn là vấn đề bức bách.
Có nhiều tổ chức phi chính phủ cũng như các đề án chương trình quốc
gia về vệ sinh môi trường nông thôn được xây dựng phát triển. Trong đó
chương trình khí sinh học cũng là đề án thường niên và phổ biến triển khai
rộng khắp trên mọi vùng miền. Các trương trình dự án khí sinh học khi đưa
vào thực tế được người dân hoàn toàn ủng hộ và tham gia nhiệt tình. Sử dụng
khí sinh học làm nhiên liệu cho phép ta giải quyết đồng thời các vấn đề tồn tại
trong xã hội hiên nay: Ô nhiễm môi trường, khủng hoảng năng lượng, sức
khoẻ con người, phát triển kinh tế.
Nhận thức được tầm quan trọng của dự án đối với đời sống người dân
3
PHẦN 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Cơ sở lý luận
Công nghệ khí sinh học ngày càng được sử dụng phổ biến và rộng rãi
không những ở nước ta mà còn ở nhiều nước trên thế giới. Công nghệ hầm
khí sinh học (hầm khí biogas) được dùng để xử lý chất thải chăn nuôi và tạo
ra khí gas phục vụ cho hoạt động sản xuất và sinh hoạt. Đây mô hình vừa có
thể xử lý ô nhiễm môi trường do nguồn chất thải trong chăn nuôi, vừa đem lại
hiệu quả kinh tế thiết thực đặc biệt cho cuộc sống. Đối với những hộ chăn
nuôi gia súc, gia cầm, thì công nghệ khí sinh học đã tận dụng nguồn chất thải
của vật nuôi và triệt tiêu mùi khó chịu. Nước thải của hệ thống hầm khí
biogas đã diệt hết 99% trứng giun sán, tận dụng làm phân vi sinh hoặc tưới
rau sạch, mang lại nguồn phân bón an toàn cho canh tác, hạn chế côn trùng
phát triển qua đó giúp giảm dịch hại từ 70-80% bảo vệ sức khoẻ của người
dân. Công nghệ khí sinh học đem lại lợi ích cho kinh tế, xã hội cho người dân,
đó là việc sử dụng hầm khí biogas giúp cho mỗi hộ gia đình tiết kiệm được từ
1.000.000-1.500.000 đồng/năm cho chi phí chất đốt (thắp sáng, đun nấu, sưởi
ấm ). Hầm khí sinh học ngoài tác dụng xử lý phân, rác thải, vệ sinh môi
trường, hạn chế chặt phá rừng lấy củi đun nấu mà còn góp phần cải thiện tích
cực trong việc cải thiện điều kiện lao động và tạo ra nếp sống văn minh. Do
đó mô hình hầm khí biogas ngày càng nhân rộng khắp trên mọi vùng miền
của tổ quốc.
Quảng Ninh là tỉnh có điều kiện khí hậu thuận lợi cho VSV phát triển
quanh năm đó là cơ sở và tiền năng, cho việc xây dựng và xử dụng hầm khí
biogas. Hàng năm các dự án xây dựng mới hầm khí biogas do tổ chức trong
và ngoài tỉnh vẫn luôn được tiến hành triển khai đến các quận huyện trên địa
trình chuyển hoá sinh học các chất hữu cơ trong điều kiện không có Oxi (O
2
)
với sự tham gia tích cực của các vi sinh vật kỵ khí. Sản phẩm chính của quá
trình này là khí Mêtan (CH
4
), hay có thể gọi là khí sinh học (KSH), một phần
nhỏ còn lại là các khí khác như Cacbonic (CO
2
) và sulfure hydro (H
2
S) có
mùi trứng thối. Trong thiên nhiên khí sinh học được sinh ra tại các vùng đầm
lầy,đáy ao hồ tù đọng, trong bộ máy tiêu hoá của động vật.
2.2.2. Khí sinh học và sự phát triển bền vững
Công nghệ sản xuất khí sinh học góp phần rất lớn giảm thải, pháp thải
khí nhà kính, là nguồn nhiên liệu sạch và cơ bản cho thế hệ hiện tại và tương
lai. Hiệu ứng nhà kính đang là một thách thức lớn của toàn nhân loại nó gây
ra biến đổi khí hậu toàn cầu theo chiều hướng sâu và ngày càng phức tạp.
5
trong đó khí mêtan là một khí gây hiệu ứng nhà kính lớn gấp 21 lần khí CO
2
.
Do đó nếu các chất thải hữu cơ được phân huỷ trong các công trình khí sinh
học thì mêtan sẽ được thu lại làm nhiên liệu góp phần lớn trong việc giải
quyết môi trường hiện nay. Khi đốt cháy 1 tấn mêtan tạo ra 2,75 tấn CO
2
.
Như vậy tác dụng về hiệu ứng nhà kính giảm: 21/2,75 = 7,6 lần.[ 2 ]
2.2.3. Quá trình sản sinh khí sinh học
93
94
95 96 97
33 1,05/7 0,89/8 0,72/9 0.59/10 0,4/11
53 0,455/14 0,385/16 0,31/18 0,24/20 0,7/22
(Ghi chú: Giá trị n: tử số ; d: mẫu số).[1].
6
Tuy nhiên, lượng Biogas nhiều hay ít còn tuỳ thuộc rất lớn đến kết cấu
và nhiệt độ của bể phân huỷ.
Quy trình phân huỷ kỵ khí của chất hữu cơ diễn ra theo 3 giai đoạn sau :
- Giai đoạn thuỷ phân (Hydrolysis)
- Giai đoạn axit hoá (Acidgensis)
- Giai đoạn Metan hoá (Methanogenesis)
Ba giai đoạn này không hoàn toàn tách bạch nhau mà đan xen lẫn nhau.
* Giai đoạn thủy phân: một nhóm vi khuẩn biến đổi các chất hữu cơ
phức tạp không tan trong nước như xenlulozo, hemixenlulozo, hicnin thành
các chất hữu cơ đơn giản và tan được như gluczo. Các vi khuẩn tham gia
trong giai đoạn này được gọi là vi khuẩn thủy phân.
* Giai đoạn sinh axít : Các chất đơn giản được sinh ra ở giai đoạn đầu
tiếp tục được phân giải thành các axit hữu cơ có phân tử lượng nhỏ hơn như
axit axetic, axit propionic…các andehyl, rượu và một số khí như nito,
hidro…. Các vi khuẩn tham gia gọi là vi khuẩn sinh axit. Tiếp đến là quá trình
sinh axeton để tạo ra H
2
, axit axetic và CO
2
. Ở giai đoạn này do sinh nhiều
axit nên PH của môi trường giảm mạnh.
0
- L
T
: Tương ứng với BOD
20
của nước thải trước và sau sử lý.
A: Tải trọng chất bẩn trong 1m
3
dung tích bể trong 1 ngày (kg/m
3
/ngày)
[1]
2.2.3.2. Các nguyên liệu để sản xuất khí sinh học
* Nguyên liệu có nguồn gốc động vật
Trong lọai này bao gồm: Phân gia súc, gia cầm, phân bắc, các bộ phận
cơ thể của động vật, xác động vật chết, rác và nước thải của lò mổ, cơ sở chế
biến thuỷ, hải sản.
Phân trâu, bò, lợn phân huỷ nhanh hơn phân gia cầm, phân bắc nhưng
sản lượng khí của phân gia cầm, phân bắc lại cao hơn.
* Nguyên liệu có nguồn gốc thực vật
Bao gồm lá và thân cây như: Phụ phẩm cây trồng rơm, rạ, thân lá ngô,
khoai, rác sinh hoạt hữu cơ, rau, củ, quả, lương thực, cỏ và các loại cây xanh
hoang dại: rong, bèo, cây phân xanh.
2.2.3.3. Chu trình hoạt động của hầm ủ biogas
Hầm ủ biogas là loại thiết bị khí sinh học nắp cố định. Nó hoạt động
theo 1 chu trình gồm 2 giai đoạn sau:
* Giai đoạn 1: Giai đoạn tích khí
- Sản sinh năng lượng phục vụ sản xuất ở các vùng nông thôn:
+ Đun nấu: cần từ 10-15 kg phân lợn hàng ngày có thể sản xuất khí gas,
đủ cung cấp nhiên liệu đun nấu cho gia đình 3- 4 người.
+ Thắp sáng.
+ Chạy động cơ đốt trong: Số liệu các nước cho thấy lượng khí tiêu thụ
khoảng 0,45 – 0,54 m
3
/mã lực x giờ hay 0,6 – 0,75 m
3
/KWh điện [2].
+ Các ứng dụng khác: sưởi ấm, ấp trứng, sưởi gà con, chạy tủ lạnh, bảo
quản nông sản.
2.2.4.1.2. Lợi ích về sử dụng bã thải
- Xử lý chất thải trong chăn nuôi, tạo nguồn phân hữu cơ, giảm sử dụng
phân hoá học.
- Lợi ích về trồng trọt: bã thải trong hầm khí sinh học sau khi được xử
lý có hàm lượng đạm và nitơ lớn rất tốt dùng làm phân bón trong sản xuất
nông nghiệp.
9
+ Tăng năng suất cây trồng: ở Trung Quốc dùng bã thải bón cho lúa
trong 5 vụ liền từ 1980 tới 1982 năng suất tăng 6,1 – 19,2% so với dùng phân
và cùng nguyên liệu.
+ Hạn chế sâu bệnh và cỏ dại: Theo kinh nghiệm của một số kĩ thuật
viện khí sinh học của dự án (Chương trình khí sinh học cho ngành chăn nuôi
Việt Nam thì phân khí sinh học có thể ức chế bệnh khô vằn, hạn chế sâu đục
thân, bọ rầy xanh, rày nâu).
+ Cải tạo đất: ở Trung Quốc sau 3 năm bón phân khí sinh học cho 106
ha (1982 – 1986) hàm lượng chất hữu cơ trong đất tăng từ 1,3% - 1,7%, năng
suất tăng gấp đôi đạt 18,7 tấn/ha giảm lượng phân bón hoá học sử dụng cho
mỗi vụ.
Từ những năm 1890 ở Peterburg (Nga), ông Omelevski đã phát hiện
khí mêtan CH
4
(khí sinh học) sinh ra từ bể lắng 2 vỏ. Quá trình sinh ra khí
sinh học là do trong bể lắng 2 vỏ đã xảy ra sự phân huỷ các cặn chất thải lắng
xuống từ nước thải sinh hoạt ở nhiệt độ > 25
0
C trong điều kiện kỵ khí.
Năm 1905 bể foss Imhoff phát triển cũng sinh ra khí mêtan, nhưng do
điều kiện nhiệt độ ở Châu Âu về mùa đông thấp nên loại này ít hoạt động.
Sau đó, trong dây chuyền công nghệ xử lý nước thải, người ta cũng đã
dùng bể Metantank (bể sinh khí mêtan) để xử lý cặn áp dụng nguyên lý thuỷ
lực có tác dụng đối lưu tốt.
Bể Metantank sau nhiều năm cải tiến cho phù hợp đến nay công trình
xử lý nước thải tập trung của các đô thị gần như hoàn thiện.
Bể Biogas là một loại bể “Metantank” đã được đơn giản hóa để xử lý
phân, rác ở các vùng nông thôn và cho hiệu qua cao.
2.5. Công nghệ khí sinh học biogas trong nước và thế giới
Trong tiến trình phát triển nhanh chóng như hiện nay,năng lượng và rác
thải đang trở thành mối lo ngại toàn cầu, không riêng một quốc gia nào. Các
nguồn nhiên liệu than đá và dầu mỏ sẽ dần cạn kiệt. Dân số càng gia tăng, thì
rác thải cũng tỉ lệ thuận mà tăng theo. Cùng giải quyết hai vấn đề này cùng
một lúc sẽ là một bài toán khó không những thế hệ hôm nay mà cả thế hệ mai
sau cùng cùng chung tay giải đáp để cứu vớt thế giới ngày một tốt đẹp hơn.
Lợi ích từ việc tìm ra nguồn năng lượng sạch sẽ mang lại những thành quả lớn
cho xã hội loài người. Trên con đường đi giải đáp những vướng mắc đó thì
11
khí sinh học - Biogas - chính là một trong những đáp án cho bài toán đang
được giải và công nghệ khí sinh học ngày một hoàn thiện và phát triển. Công
nghệ này phát triển mạnh nhất ở các nước: Trung Quốc, Ân Độ, Thuỵ Điển,
Tại Trung Quốc đã xây dựng khoảng 5 triệu hầm biogas trong đó số hộ
gia đình ở nông thôn với tổng sản lượng khí biogas là 2000 triệu m
3
/năm. Khí
biogas chủ yếu được dùng vào mục đích đun nấu, thắp sáng hay chạy các
12
động cơ phát điện. Cho đến năm 1979, Trung Quốc đã có 301 trạm phát điện
nhỏ sử dụng khí biogas.
Tại Ấn Độ, chương trình năng lượng và nước sạch nông thôn đã được
triển khai từ những năm 90 của thế kỷ trước. Hàng năm có khoảng 200.000
hộ gia đình Ấn Độ chuyển từ năng lượng đốt củi sang sử dụng khí sinh học
sản sinh trong hầm khí biogas. Cho đến nay có hơn 2.000.000 trạm biogas [2].
2.5.2. Tình hình nghiên cứu trong nước về biogas
Công nghệ khí sinh học đã được nghiên cứu và ứng dụng ở Việt Nam
từ những năm 1960. Lịch sử phát triển khí sinh học ở Việt Nam có thể chia
làm 2 thời kì sau:
Thời kì 1960 - 1990: Trong thời kì này được chia làm ba giai đoạn.
Giai đoạn 1960 - 1975: Nhận thấy thành quả to lớn của công nghệ khí
sinh học của nhiều nước, nhất là Trung Quốc, là nước xây dựng một số công
trình khí sinh học mang tính chất thử nghiệm và nghiên cứu. Ví dụ: Năm
1964 tỉnh Bắc Thái đã xây dựng "xưởng phát điện mê tan" đầu tiên của
Việt Nam. Tuy nhiên chỉ sau một thời gian ngắn công trình này đã bị
ngưng sử dụng.
Giai đoạn 2: 1976 - 1980 từ thành tựu nghiên cứu và kinh nghiệm của
giai đoạn trước mà giai đoạn này đã xây dựng thành công một số công trình
khí sinh học. Ví dụ: Công trình ở nông trường Sao Đỏ (Mộc Châu, Sơn La) đã
hoạt động tốt. Đây là nguồn khích lệ lớn với cán bộ nghiên cứu và đặt cơ sở
cho việc triển khai tiếp tục sau đây.
Giai đoạn: 1981 - 1990 công nghệ khí sinh học trở thành một trong
những lĩnh vực ưu tiên trong chương trình nghiên cứu nhà nước về năng
do áp xuất khí ga không đủ nên không thể nạp thêm các thiết và bị phụ kiện
trong khung bếp. Đặc biệt việc xây một hầm khí biogas bằng gạch hay bằng
bê tông thời gian kéo dài
Để khắc phục những nhược điểm trên, sau một thời gian nghiên cứu
công ty TNHH Quang Huy (Hà Đông, Tỉnh Hà Tây cũ) đã sản xuất thành
công một loại hầm biogas bằng chất liệu nhựa composite siêu bền. Một cán
bộ của công ty cho biết, với loại hầm biogas mới này, những nhược điểm của
hầm khí được xây dung bằng gạch, bê tông về cơ bản được khắc phục: hầm
không bị rò rỉ khí ga, không bị axit ăn mòn, có khả năng tự đẩy bã phân ra
khỏi bể mà không cần phải bật nắp hầm. Hầm composite có khả năng chịu
được áp suất cao nên hiệu suất khí của hầm nhựa là rất lớn, có khả năng tự
14
phá váng để chuyển hoá lên men kỵ khí 100%, áp lực khí ga của hầm là rất
lớn đạt tới 1,6 m cột nước so với áp lực 5 cm cột nước của hầm bằng bê tông,
hầm gạch. Nhờ áp suất khí ga cao, hầm mới có khả năng tự điều áp mà không
cần van an toàn. Với cùng một dung tích giống hầm gạch, hầm bê tông nhưng
hầm nhựa có thể lắp thêm một số thiết bị trong khung bếp như đèn thắp sáng,
bình nóng lạnh đun bằng ga, mô tơ phát điện nhỏ Đặc biệt hầm composite xây
dựng nhanh.
* Tại Hà Nội:
Sơ bộ tính toán lượng chất thải chăn nuôi thải ra bình quân hàng ngày
của các năm như sau:
Bảng 2.2. Lượng chất thải của vật nuôi bình quân/ngày
Năm
Lượng chất thải
bình quân/ngày
của chăn nuôi
lợn(kg)
Lượng chất thải
bình quân/ngày
15
năm 2004 và 2005 tổng số kinh phí là 1.8 tỷ đồng. Trong đó kinh phí hỗ trợ của
dự án KSH quốc gia là 1.3 tỷ, kinh phí đối ứng của Hà Nội là 600 triệu đồng.
* Tại Hải Dương:
Được sự giúp đỡ của cục nông nghiệp (Bộ Nông nghiệp và phát triển
Nông thôn); Tổ chức SNV (Tổ chức phát triển Hà Lan). Với mục tiêu : Từ
2003- 2005 xây dựng 1000 công trình khí sinh học cỡ 7 – 30 m
3
quy mô từ
hộ gia đình có chăn nuôi từ 10 đầu lợn trở lên; Xử lý chất thải trong chăn nuôi
để làm giảm ô nhiễm môi trường, sử dụng khí sinh học làm nguồn năng lượng
cho sinh hoạt; Tạo nguồn phân bón sạch, thức ăn cho nuôi trồng thủy sản.
* Tại Bắc Ninh:
Thực hiện nghị quyết số 06 của tỉnh Bắc Ninh về chuyển đổi cơ cấu
kinh tế phấn đấu đến năm 2015 trở thành tỉnh công nghiệp. Trong đó nông
nghiệp tăng giảm về tỷ trọng song sản phẩm sản xuất tăng lên với giá trị tuyệt
đối. Đặc biệt chăn nuôi đạt 50-55% tỷ trọng trong nông nghiệp. Trong những
năm gần đây ngành chăn nuôi của tỉnh đã có bước phát triển khá tốt. Số lượng
con và sản lượng thịt, trứng, sữa tăng nhanh qua các năm với nhiều chủng loại
và giống mới. Chăn nuôi đã trở thành ngành chính chiếm tỷ trọng 38% góp
phần chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp, phát triển kinh tế nông thôn cải
thiện đời sống nông dân. Tuy nhiên do chăn nuôi phát triển với tốc độ nhanh
nhưng hầu hết chăn nuôi tập trung chủ yếu xen kẽ lẫn trong địa bàn dân
cư…dẫn đến ô nhiễm môi trường nặng. Tỉnh Bắc Ninh có số hộ chăn nuôi
lớn quy mô từ 10 con lợn/hộ khoảng 12.000 hộ(xấp xỉ 5,1% tổng số hộ) với
hơn 3000 hộ nuôi gia cầm lớn quy mô hơn 100 con/ hộ (chiếm 1,16% số hộ
và 31,4% tổng đàn gia cầm). Là địa phương có mật độ dân số cao, chuyển
dịch cơ cấu kinh tế mạnh, ngành chăn nuôi phát triển nhanh, số lượng đàn gia
súc gia cầm ngày càng tăng. Lượng chất thải trong chăn nuôi và phân gia súc
gia cầm là rất lớn (khoảng 965.000 tấn). Tính bình quân lượng chất thải phân
trong thời gian tới. Dự án Biogas của Việt Nam nằm trong số những dự án
tiêu biểu nhất được bình chọn từ 700 dự án của các quốc gia trên thế giới,
được đánh giá là hiệu quả trong việc tạo nguồn năng lượng rẻ và tiện lợi, góp
phần hạn chế việc sử dụng nhiên liệu hóa thạch và bảo vệ môi trường.
(Nguồn: Bộ Nông Nghiệp và PTNT)
17
PHẦN 3
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Các công trình hầm khí sinh học trên địa bàn thị xã Quảng Yên –
Quảng Ninh.
3.2. Địa điểm và thời gian tiến hành
- Địa điểm: Phòng Tài nguyên và Môi trường thị xã Quảng Yên –
Quảng Ninh.
- Thời gian: 20/ 1/ 2014- 30/4/2014
3.3. Nội dung và phương pháp nghiên cứu
3.3.1. Nội dung nghiên cứu
- Điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế xã hội tại thị xã Quảng Yên-
Quảng Ninh
- Tình hình sử dụng công trình khí sinh học ở thị xã Quảng Yên-
Quảng Ninh
+ Số lượng xây dựng hầm khí tính theo năm và theo khu dân cư.
+ Dung tích bể chứa và quy mô sử dụng.
+ Tỷ lệ thành phần nguyên liệu cung cấp cho sản xuất Biogas.
+ Hiện trạng sử dụng, chất lượng khí và sản phẩm chất thải trong hầm chứa.
+ Hiệu quả về kinh tế, xã hội và lợi ích bảo vệ môi trường của các
19
PHẦN 4
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội thị xã Quảng Yên – Quảng Ninh
4.1.1. Điều kiện tự nhiên
4.1.1.1. Vị trí địa lí
Quảng Yên là đơn vị hành chính ven biển nằm ở Tây Nam của tỉnh
Quảng Ninh, có diện tích tự nhiên 314,2km
2
, được giới hạn từ 20
0
45
’
đến
20
0
02
’
vĩ Bắc, từ 106
0
45
’
đến 106
0
0
’