ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
PHẠM MINH ĐỨC Tên đề tài:
“
NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG QUY HOẠCH CÂY XANH ĐÔ THỊ
TẠI MỘT SỐ TUYẾN ĐƯỜNG CHÍNH CỦA THÀNH PHỐ HẠ
LONG, TỈNH QUẢNG NINH ĐẾN NĂM 2020”
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Khoa học Môi trường
Khoa : Môi Trường
Khoá học : 2010 – 2014
Giảng viên hướng dẫn: TS. Nguyễn Thanh Hải
Khoa Môi trường – Trường Đại học Nông Lâm
Bảng 4.1.Hiện trạng cây xanh trên đường Lê Thánh Tông 28
Bảng 4.2.Hiện trạng cây xanh trên đường Bến Đoan 29
Bảng 4.3.Hiện trạng cây xanh trên đường Trần Hưng Đạo 30
Bảng 4.4.Hiện trạng cây xanh trên đường Cao Thắng 31
Bảng 4.5.Hiện trạng cây xanh trên đường Bãi Cháy 32
Bảng 4.6.Hiện trạng cây xanh tại một số công trình và khu chức năng 33
Bảng 4.7.Đặc điểm một số loài cây xanh 34
Bảng 4.8.Quy hoạch cây xanh tại một số công trình và khu chức năng 44MỤC LỤC
Trang
PHẦN 1. MỞ ĐẦU 1
1.1. Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.2.1 Mục tiêu tổng quát 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2
1.2.3 Ý nghĩa của đề tài 2
PHẦN 2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Quy hoạch môi trường 3
2.1.1. Khái niệm quy hoạch môi trường 3
2.1.2.Cơ sở pháp lý trong Quy hoạch môi trường ở Việt Nam 4
3.4.2. Phương pháp khảo sát thực địa 23
3.4.3. Phương pháp phân tích, tổng hợp số liệu 23
3.4.4. Phương pháp phân tích hệ thống 23
3.4.5.Phương pháp chuyên gia 23
PHẦN 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 24
4.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của thành phố Hạ Long. 24
4.1.1. Điều kiện tự nhiên, tài nguyên và môi trường 24
4.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội 27
4.2 Hiện trạng cây xanh đô thị trên một số tuyến đường chính và các công
trình của thành phố Hạ Long 28
4.2.1.Hiện trạng cây xanh trên một số tuyến đường chính của thành phố Hạ
Long 28
4.2.2.Hiện trạng cây xanh tại một số công trình và khu chức năng nằm trên
các tuyến đường chính của thành phố Hạ Long 33
4.2.3.Đặc điểm một số loài cây xanh đô thị được trồng tại một số tuyến đường
và công trình tại thành phố Hạ Long 34
4.3.Nguyên tắc và quy định chọn cây xanh đường phố 36
1
PHẦN 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Ngày nay, quá trình phát triển kinh tế xã hội một cách nhanh chóng đã
kéo theo sự gia tăng ô nhiễm môi trường và sự cạn kiệt tài nguyên thiên
nhiên. Bảo vệ môi trường và phát triển bền vững trở thành vấn đề vừa mang
tính toàn cầu vừa có tính riêng của từng quốc gia. Tuỳ thuộc vào điều kiện địa
lý tự nhiên và kinh tế phát triển, mỗi khu vực có hướng đi riêng nhưng đều
nhằm mục đích bảo vệ "ngôi nhà chung". Bảo vệ môi trường vừa là mục tiêu
vừa là một trong những nội dung cơ bản của phát triển bền vững phải được
thể hiện trong các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, dự án phát triển kinh tế xã
hội của từng ngành và từng địa phương. Có quy hoạch môi trường mới quản
lý tốt môi trường, mới thực hiện được chiến lược phát triển bền vững. Như
vậy có thể nói quy hoạch môi trường là một công cụ hỗ trợ đắc lực cho công
tác quản lý, bảo vệ môi trường và ngăn ngừa ô nhiễm. Quy hoạch cây xanh đô
thị là quy hoạch một thành phần của môi trường, từng thành phần của môi
trường được quy hoạch hợp lý sẽ mang lại một bản quy hoạch môi trường
thích hợp. Quy hoạch phát triển cây xanh, một trong các nội dung của quy
hoạch và quản lý môi trường đô thị sẽ góp phần vào việc phòng ngừa ô
nhiễm, suy thoái môi trường, cải thiện chất lượng môi trường sống, hướng
đến mục tiêu phát triển bền vững của thành phố trong tương lai.
Cây xanh đô thị là một thành phần không thể thiếu của các đô thị, có
tác dụng bảo vệ môi trường, tạo cảnh quan đô thị, nâng cao chất lượng môi
trường sống, chất lượng bóng mát, góp phần khắc phục và ngăn chặn suy
thoái môi trường do con người và thiên nhiên tạo ra. Các tiêu chí về cây xanh
đô thị như: diện tích cây xanh/người, đất cây xanh công cộng/người… là một
trong những tiêu chí quan trọng. Càng đặc biệt quan trọng đối với thành phố
Hạ Long, đô thị ngày càng phát triển về mọi mặt đem lại lợi ích cho người
dân, xứng đáng với thành phố “Sáng – Xanh – Sạch – Đẹp”.
mục tiêu phát triển bền vững kinh tế - xã hội và môi trường trong thành phố.
* Ý nghĩa thực tiễn
- Xây dựng được bộ cơ sở dữ liệu thuộc tính và dữ liệu không gian phục
vụ công tác quy hoạch cây xanh đô thị trên địa bàn thành phố Hạ Long.
- Làm tài liệu tham khảo cho các nhà quản lý, nhà nghiên cứu và các cơ
sở đào tạo liên quan đến lĩnh vực của đề tài.
3
PHẦN 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Quy hoạch môi trường
2.1.1. Khái niệm quy hoạch môi trường
Quy hoạch môi trường (QHMT) là "quá trình sử dụng một cách hệ
thống các kiến thức để thông báo cho quá trình ra quyết định về tương lai của
môi trường" (Greg Lindsey, 1997).
QHMT là "tổng hợp của các biện pháp môi trường công cộng mà cấp
có thẩm quyền về môi trường có thể sử dụng" (Faludi, 1987).
Theo Toner, QHMT là "sự ứng dụng các kiến thức về khoa học tự
nhiên và sức khoẻ trong các quyết định về sử dụng đất" (Greg Lindsey, 1997).
QHMT là "sự cố gắng làm cân bằng hài hoà các hoạt động phát triển
mà con người vì quyền lợi của mình áp đặt một cách quá mức lên môi trường
tự nhiên" (John E, 1979).
QHMT là sự xác định các mục tiêu mong muốn đối với môi trường tự nhiên
Theo Vũ Quyết Thắng (2005)[19], QHMT là "việc xác lập các mục
tiêu môi trường mong muốn, đề xuất và lựa chọn phương án, giải pháp để bảo
vệ, cải thiện và phát triển một hay những môi trường thành phần hay tài
nguyên của môi trường nhằm tăng cường một cách tốt nhất năng lực, chất
lượng của chúng theo mục tiêu đã đề ra". [21]
Theo Phùng Chí Sỹ [18] QHMT là "quá trình sử dụng các kiến thức
khoa học kỹ thuật nhằm đề xuất các biện pháp bảo vệ môi trường và sử dụng
hợp lý tài nguyên thiên nhiên trong một không gian xác định phục vụ phát
bố ban hành số 472-CTN ngày 3/4/1996.
Luật Tài nguyên nước được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa
Việt Nam khoá X, kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 20/5/1998.
Luật Thuỷ sản được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt
Nam khoá XI, kỳ họp thứ 4 và được thông qua năm 2003.
Luật Xây dựng được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt
Nam thông qua ngày 26/11/2003.
Luật Phát triển và bảo vệ rừng, ban hành ngày 18/11/1991 và luật sửa
đổi, bổ sung luật phát triển và bảo vệ rừng được Quốc hội nước Cộng hoà xã
hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 10/11/2004.
5
Các công ước quốc tế Việt Nam đã tham gia ký kết :
Công ước về việc bảo vệ di sản và tự nhiên của thế giới (đã được thông
qua tại kỳ họp thứ 17 của Đại hội đồng UNESCO tại Paris ngày 16-11-1972).
Công ước về các vùng đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế đặc
biệt như là nơi cư trú của loài chim nước Ramsar, 2-2-1971 (được sửa đổi
theo nghị định thư Paris ngày 03-12-1982).
Công ước Basel về kiểm soát vận chuyển qua biên giới rác phế thải
nguy hiểm và việc tiêu huỷ chúng.
Công ước về đa dạng sinh học (Rio De Janeiro, ngày 05-06-1992).
2.1.3.Đặc điểm của Quy hoạch môi trường
Quy hoạch môi trường có một số đặc điểm như sau:
- Quan điểm hệ sinh thái. Quan điểm này xem xét con người trong tự
nhiên hơn là tách khỏi nó, nghĩa là nhấn mạnh mối tương tác giữa con người
với các hệ sinh thái tự nhiên và rộng hơn sinh quyển. Các dạng quy hoạch có
xu hướng tập trung hẹp hơn.
- Tính hệ thống. Xem xét tổng thể các thành phần liên quan, tập trung
vào các thành phần chủ chốt và các mối quan hệ của chúng, thừa nhận các hệ
thống là mở, tương tác với môi trường, nhận biết sự liên hệ và phụ thuộc giữa
các hệ thống.
trường thường rất khó định lượng. Hơn nữa, ngoài những mục tiêu môi
trường có tính quốc gia còn tồn tại các mục tiêu đặc thù của địa phương, vì
vậy quy trình quy hoạch môi trường thường xuất phát từ những khía cạnh môi
trường và tài nguyên đáng quan tâm ở mỗi địa phương.
2.1.6. Các phương pháp chủ yếu được sử dụng trong Quy hoạch môi trường
a. Phương pháp phân tích hệ thống
Phương pháp này ra đời phục vụ cho con người khi phải tiến hành
nghiên cứu liên ngành các đối tượng là các hệ thống phức tạp. Đối tượng
nghiên cứu của lý thuyết hệ thống các tổng thể, các hệ thống. Phương pháp
phân tích hệ thống tiến hành phân tích trên một hệ thống cụ thể, trên một tổng
thể gồm nhiều bộ phận, nhiều yếu tố thành phần các quan hệ tương hỗ với nhau
và với môi trường quanh chúng. Khi phân tích hệ thống, xét từng yếu tố, nhưng
không thể xét riêng lẻ mà phải xét mỗi yếu tố trong mối tương quan và tác
động qua lại của nó với các yếu tố khác và môi trường bên ngoài của chúng.
7
Sau khi xem xét các yếu tố, phương pháp phân tích hệ thống đòi hỏi phải
xem xét tổng hợp trở lại các yếu tố thành phần trong thể thống nhất của hệ
thống và nghiên cứu chúng trong tổng thể cùng các yếu tố tác động từ bên
ngoài.Nghiên cứu những đặc thù, những quy luật của từng hệ thống, xét mỗi hệ
thống trong quá trình phát sinh, phát triển, tăng trưởng, suy thoái dễ thấy được
xu thế và tìm ra phương hướng tác động tích cực vào hệ thống có hiệu quả nhất
cho những quyết định theo các mục tiêu của nghiên cứu các hệ thống.
Phương pháp phân tích hệ thống nhấn mạnh tính liên ngành, sử dụng
nhiều chuyên gia trong các lĩnh vực khác nhau để cùng nghiên cứu, ra quyết
định cho các vấn đề phức tạp.
Phương pháp phân tích hệ thống được tiến hành theo các bước:
- Xác định ranh giới, đường biên hệ thống.
- Quan trắc, đo đạc, thu thập thông tin các yếu tố thành phần, hợp phần,
sắp xếp các dữ liệu có liên quan tới đối tượng nghiên cứu.
- Phân tích, thống kê các mối liên kết giữa các yếu tố mà quan trọng
c Phương pháp bản đồ
Là phương pháp địa lý phổ biến kinh điển nhất trong quy hoạch môi
trường từ hoạch định cho đến thiết kế mô hình với các quy mô khác nhau đều
phải sử dụng bản đồ địa hình có các tỷ lệ khác nhau. Sự phân tích và trắc
lượng bản đồ địa hình sẽ cung cấp những thông tin cần thiết về địa hình và
cấu trúc của môi trường. Các bản đồ thành phần môi trường hay các bản đồ
tổng hợp môi trường sinh thái, các bản đồ đánh giá hay các bản đồ quy hoạch
môi trường đều chứa đựng và cung cấp những thông tin chính xác về các kết
quả nghiên cứu về sự thể hiện các kết quả nghiên cứu đó lên trên các bản đồ.
Quy hoạch môi trường và kinh tế - xã hội được tiến hành theo lãnh thổ, mà
các lãnh thổ được thể hiện bằng các bản đồ, do đó phương pháp bản đồ là
không thể thiếu. Bản đồ là loại ngôn ngữ đặc biệt sử dụng trong địa lý và môi
trường. Đối với quy hoạch môi trường tuỳ theo quy mô lãnh thổ mà chọn tỷ lệ
bản đồ sao cho thích hợp. Ví dụ, ở quy mô lãnh thổ cấp tỉnh nên chọn tỉ lệ bản
đồ thích hợp là 1:100000; ở quy mô cấp huyện là 1:50000.
e. Phương pháp mô tả so sánh
Phương pháp này thường được tiến hành kết hợp với phương pháp thực
địa, là phương pháp cổ truyền. Công tác khảo sát theo tuyến hay diện đều phải
9
dừng lại ở các điểm khảo sát điển hình và mô tả các hiện tượng nghiên cứu,
so sánh, lập mặt cắt, vẽ sơ đồ, tư duy suy nghĩ cắt nghĩa các hiện tượng và
được mô tả ghi chép trong các nhật ký lộ trình. Có người cho rằng đây là
phương pháp cổ điển lạc hậu, lỗi thời, chỉ cần sử dụng các phương pháp hiện
đại như viễn thám… là đủ. Điều đó không đúng. Phương pháp viễn thám dù
có hiện đại đến đâu, cũng phải có đối sánh kiểm tra bằng công tác khảo sát
thực địa. Công tác khảo sát mô tả thực địa vẫn là công tác bước đầu phải làm
trong công tác nghiên cứu khoa học về địa lý môi trường, nhất là khi cần phải
lấy mẫu ở các địa điểm khác nhau để phân tích, nghiên cứu các khu vực khác
nhau. Quy hoạch môi trường đòi hỏi phải đi thực địa, điều tra nghiên cứu, quan
sát đo đạc, đánh giá hiện trạng, xác định mục tiêu… có như thế mới chính xác và
tàng, biệt thự, nhà vườn của các tổ chức, cá nhân.
- Cây xanh chuyên dụng là các loại cây trong vườn ươm, cách ly,
phòng hộ hoặc phục vụ nghiên cứu.
Phân theo vị trí có 3 loại:
- Cây xanh nội thị.
- Cây xanh ngoại thị.
- Cây xanh chuyên dùng.
Mặt nước trong đô thị có thể chia thành:
- Mặt nước tự nhiên: ao, hồ, sông, suối… có sẵn trong đô thị.
- Mặt nước nhân tạo: các diện tích mặt nước do con người xây dựng,
tạo ra: đài phun nước, các hồ nước nhân tạo…
2.2.3. Tác dụng của cây xanh, mảng xanh đô thị đối với môi trường đô thị
Cây xanh và mặt nước là một bộ phận cấu thành không thể thiếu được
trong đô thị. Cây xanh và mặt nước (sông, hồ, bồn nước nhân tạo…) đóng vai
trò quan trọng trong lĩnh vực kiến trúc công trình đặc biệt là ở một nước có
khí hậu nhiệt đới ẩm như Việt Nam.
Từ ngàn xưa, cây xanh, mặt nước luôn gắn bó với các địa điểm dân cư
vùng đồng bằng và trung du: rặng tre xanh, cái ao làng là những thứ hầu như
không thể tách khỏi khái niệm về một ngôi làng cổ truyền.
Ngày nay, khi quá trình đô thị hoá ngày càng mạnh mẽ, mật độ xây
dựng ngày càng cao, vai trò của cây xanh, mặt nước ngày càng cần phải được
chú ý trong quá trình lập quy hoạch một đô thị, trong quá trình thiết kế kiến
trúc một công trình cụ thể.
11
Cây xanh, mặt nước khi được sử dụng thích đáng trong các khu xây
dựng (khu nhà ở, khu nhà làm việc hoặc các công trình công cộng, khu công
nghiệp…) sẽ cải thiện đáng kể cảnh quan môi trường trong các khu đó. Cây
xanh, mặt nước có tác dụng tích cực cải tạo môi trường, như khả năng làm
giảm bức xạ mặt trời chiếu trực tiếp, giảm nhiệt độ không khí và nhiệt độ các
bề mặt, hút bớt khói bụi, các chất độc hại cũng như tiếng ồn, tăng cường độ
2
của 200 người thải ra. Viện thực vật ( trường đại học
Dresden-Đức) gần đây lần đầu tiên cung cấp số liệu về O
2
, CO
2
của 3 loài cây
trồng chủ yếu ở châu Âu trên đường phố, công viên, đó là Giẻ châu Âu, Sồi
cuống (lá rộng), và Vân Sam (lá kim). Con số về lượng O
2
cây xanh nhả ra, và
lượng khí CO
2
hút vào trong 1 ngày lần lượt cho 3 loài cây trồng trên là: 13 -
9 - 1,2kg và 400 - 460 - 150kg/ngày, trong khi nhu cầu hô hấp của một người
bình thường cần khoảng 500 lít O
2
/ngày (1 lít O
2
= 1,41gam).
Một số cây xanh còn tiết ra chất phytoncide có tác dụng diệt khuẩn làm
trong lành môi trường, có lợi cho sức khoẻ của cư dân đô thị.
b. Tác dụng giảm bức xạ mặt trời của cây xanh
Để đồng hoá CO
2
và nước, cây xanh cần hấp thu năng lượng bức xạ
của Mặt trời. Cây có tán lá càng lớn và rậm rạp càng hút được nhiều bức xạ vì
12
tổng diện tích mặt lá (là bộ phận xảy ra quá trình quang hợp) càng cao. Tuỳ
theo mức độ rậm rạp mà cây có thể hấp thụ được từ 30% đến 80% bức xạ mặt
13
Các hình thức mặt nước lớn có tác dụng giảm nhiệt độ không khí mùa
hè 2- 4
0
C, tăng độ ẩm tương đối 5 - 12%. Nhiệt độ không khí vùng ven các hồ
nước giảm 1 - 1,5
0
C và vùng ven sông giảm 4 - 5
0
C.
Do các khả năng trên mà tại những khu vực có nhiều cây xanh, mặt
nước, mật độ xây dựng thấp có nhiệt độ không khí thấp hơn và độ ẩm cao hơn
các khu vực có mật độ xây dựng cao, ít cây xanh. Theo các số liệu nghiên cứu
tiến hành tại Khoa kiến trúc trường Đại học Xây dựng Hà Nội tại một số vùng
dân cư Việt Nam thì vào mùa hè, nhiệt độ không khí tại các khu vực có nhiều
cây xanh, mặt nước thường thấp hơn nhiệt độ tại các khu dân cư ít cây xanh
tới 2 - 3
0
C.
Số liệu quan trắc của một số tác giả nước ngoài cũng cho thấy trong những
giờ có nhiệt độ cực đại, nhiệt độ không khí dưới tán lá cây thấp hơn nhiệt độ
không khí nơi trống trải 0,8 - 3
0
C và độ ẩm tương đối cao hơn 5% - 8%.
d. Ảnh hưởng của cây xanh mặt nước tới chế độ gió
Sự di chuyển của không khí, hay gió cũng làm ảnh hưởng đến tiện nghi
cuộc sống của con người. Tác động này có thể là tích cực hay tiêu cực phụ
thuộc rất lớn vào sự hiện hữu của cây xanh. Cây xanh làm giảm tốc độ gió và
tạo nên các vùng yên tĩnh trước và sau gió. Do đó, ở nhiều nơi trên thế giới,
cây xanh được sử dụng như là phương tiện kiểm soát gió hiệu quả. Cây to và
bởi âm thanh của bánh xe rên siết trên đường phố. Vấn đề này càng trở nên
nghiêm trọng hơn ở các đô thị hiện đại, nơi mà các dịch vụ giao thông bộ,
thuỷ, hàng không hiện diện hàng ngày, chưa kể tiếng ồn đến từ các nguồn
khác như sửa chữa, xây dựng… các nhà nghiên cứu khuyến cáo, tiếng ồn
thường xuyên sẽ gây nên rối loạn về tâm lý và đe doạ cuộc sống xã hội.
Tiếng ồn, như vậy là một sự ô nhiễm không trông thấy, bao gồm các
tác động vật lý và sinh lý. Tác động vật lý liên quan đến sự truyền sóng âm
thanh xuyên qua không khí, và tác động sinh lý bao gồm phản ứng của con
người đối với âm thanh. Âm thanh thấp nhất mà con người có thể nhận thức
được trong điều kiện hoàn toàn yên tĩnh là 0dB, cao nhất là 120dB. Lá, cành,
nhánh của cây xanh ngăn cản được tiếng ồn. Thực vật có thể ngăn chặn tiếng
ồn tần số cao hơn là tiếng ồn có tần số thấp. Các sóng âm thanh được hấp thụ
một cách có hiệu quả bởi các cây có lá dày. Mọng nước, có cuống lá, vì các
đặc trưng này cho phép mức độ co giãn và rung động cao hơn. Âm thanh
cũng bị khúc xạ và bị đổi hướng bởi các cành to và thân cây.
15
Trần Thanh Lâm [16] cho biết rằng một đai cây rộng 30m cao 15m có
thể làm giảm tiếng ồn trên xa lộ 10 dB. Tuy nhiên đai cây rộng như thế không
phải dễ dàng thực hiện trong điều kiện đô thị, nơi đất đai khá đắt đỏ. Cây
xanh kết hợp với địa hình có thể làm giảm cường độ âm thanh xuống từ 5 - 8
dB. Một đai cây dày, hẹp có thể làm giảm từ 3 - 5 dB. Nếu sử dụng tổ hợp cây
cao, cây bụi và thảm cỏ, có thể làm giảm từ 8 - 12 dB. Tuy nhiên không có sự
khác biệt lớn trong tác dụng làm giảm âm thanh giữa các loài cây.
Bảng 2.1.Ảnh hưởng của độ rộng đai cây đến độ giảm tiếng ồn
Stt
Dải cây xanh Bề rộng dải cây (m)
Độ giảm ồn – Dexiben (db)
1 Dải cây kiểu bàn cờ 10 – 15 4 - 5
Amonia (NH3) cây trồng hấp thu và sử dụng NH
3
cho việc Nitrogen hoá.
Ozone (O
3
) thảm thực vật hấp thu và làm giảm lượng O
3
trong khí
quyển một cách nhanh chóng. Smith & Dochinger(1978), đã báo cáo rằng một
khu rừng có thể làm giảm 1/8 lượng O
3
chỉ trong một giờ. Cây cao loại bỏ
được nhiều O
3
hơn cây thấp, cây có càng nhiều lá to, nhiều khí khổng thì việc
làm giảm nồng độ O
3
trong khí quyển hiệu quả càng cao.
Hydrogen sulfide (HS), Hydrocarbons, Aldehydes… chưa có tài liệu
tác động về sự tập trung chất khí này với thảm thực vật.
Robinette (1972) cho biết một nghiên cứu gần đây ở Nga, một đai cây
xanh rộng 500m bao quanh nhà máy đã làm giảm lượng SO
2
tập trong khoảng
70% và Nitric oxides (NO) tập trung khoảng 67%. Như vậy cây xanh có thể
hấp thu một số chất ô nhiễm đặc biệt như NO
2
, NO, CO, SO
2
, NH
và duy trì chu kỳ nước, cho phép dưỡng chất được luân chuyển và tái sử dụng.
Sepper (1971) đề nghị sử dụng một hệ thống sinh học (đất và thực vật)
như là một bộ lọc sống để làm sạch nước trong đất. Thực hiện có kiểm soát về
mặt vi sinh vật trong đất, dinh dưỡng khoáng sẽ được lấy đi và làm giảm nồng
độ bởi vi sinh trong lớp đất bề mặt. Sự kết tủa hoá học, trao đổi ion, biến đổi
sinh học, sự thu hút sinh học thông qua hệ thống rễ của lớp thực vật che phủ.
Theo nghiên cứu của Đại học Pennsylvania, Mỹ, hệ thống lọc sinh học
phù hợp nhất cho các thành phố nhỏ và vùng ngoại ô vì có sẵn đất trống.
Trong nghiên cứu các nhà khoa học ở đây thấy rằng với tốc độ lắng 5.08 cm
mỗi tuần, chỉ cần 52 héc ta đất để thoát 4,5 triệu lít nước thải ra mỗi ngày, chỉ
yêu cầu 522 héc ta đất cho hệ thống lọc sinh học.
i. Giảm sự chói sáng và phản chiếu
Bức xạ mặt trời ảnh hưởng tới tầm nhìn của chúng ta cũng như đối với
cảm giác nhiệt độ. Chúng ta bị bao quanh bởi vô số bề mặt chiếu sáng: gương,
thép, nhôm, bê tông và mặt nước, các bề mặt đó đều phản chiếu ánh sáng.
Mọi người đều có cảm giác bất tiện của việc ánh sáng phản chiếu đến mắt của
chúng ta.
Sự tác hại của ánh sáng và phản chiếu có thể được làm giảm theo kiểu
kiến trúc như: mái hiên, màn che cửa sổ, sáo che, hay hướng xây nhà và nơi
đặt cửa sổ. …
Thực vật, cây xanh có thể dùng để che chắn và làm dịu ánh sáng sơ cấp
và ánh sáng thứ cấp. Hiệu quả của nó trước hết tuỳ vào kích thước và mật độ.
Nguồn của ánh sáng phải được biểu thị trước khi thực vật thích hợp có thể
18
được chọn để kiểm soát nó. Mức độ kiểm soát cũng phải được xem xét để loại
trừ ánh sáng hoàn toàn hay tạo ra một màng lọc hay tạo ra hiệu ứng làm dịu.
Cây cối có thể ngăn hay lọc ánh sáng sơ cấp suốt ngày đêm. Các cây có
thể được chọn theo chiều cao thích hợp và mật độ lá sao cho chúng có thể có
tác dụng bảo vệ suốt thời kỳ tăng trưởng của chúng. Cây xanh còn có thể
được dùng ở xa lộ để kiểm soát ánh sáng buổi sáng và ánh sáng buổi xế chiều.
một cách động về chức năng trong thiết kế kiến trúc. Vì cây xanh có những
tiềm năng về kiến trúc, chúng có thể được dùng như các thành phần kiến trúc
một cách riêng lẻ hay theo nhóm tập hợp để tạo ra các chức năng: giới hạn
không gian, che chắn tầm nhìn, kiểm soát riêng tư, sự thu hút tầm nhìn…
Nhận thức của chúng ta dựa trên chức năng nhìn của chúng ta. Không
gian hiện thực không gian được cảm nhận khi khoảng cách đến bất kỳ phần tử
vật thể nào được giới hạn tầm nhìn. Vì vậy, không gian được cảm nhận trong
một công viên rộng, thoáng sẽ khác với một công viên có nhiều cây. Hiện
thực không gian này được cải thiện tốt hơn bởi kết cấu và hình dạng. Kết cấu
thô và dáng đậm hơn sẽ gây chú ý đối với người nhìn và kết cấu mịn và dáng
vẻ nhẹ có vẻ ẩn dật.
Cây và cây bụi tạo ra các tường và trần xanh trong các ngoại thất hoa
viên. Cùng với các thành phần kiến trúc khác, có thể dùng để rào chắn,
khoanh ranh giới, nối kết, mở rộng, thu nhỏ (tầm nhìn), trang trí ngoại thất.
Một trong những công dụng chính mà chúng ta có thể có kết hợp cây
xanh là che chắn. Nó không chỉ bao gồm che chắn tầm nhìn mà còn che chắn
sự xâm nhập tư viên.
h. Các công dụng khác
Ngoài các công dụng chính đã nói ở trên, cây xanh còn có nhiều công
dụng khác nữa:
Cây xanh ở đô thị sau chu kỳ nuôi dưỡng, cây được đốn hạ, thay thế sẽ
cung cấp các sản phẩm gỗ có giá trị kinh tế cao như sao, dầu…
Dưới tán cây, bóng mát trong các khu công cộng, cây xanh cung cấp
chỗ nô đùa, vui chơi cho trẻ em. Dưới bóng cây người lớn có thể đi dạo, hít thở
không khí nhiều ôxi, ngắm thiên nhiên và suy nghĩ những vấn đề khác nhau
Cây xanh còn dùng như một chỉ dẫn của biến cố lịch sử, nơi tưởng
niệm. Ví dụ lấy làm tên các địa danh như Gốc Phượng, Phố Bàng….
Cây hoa cảnh trên các ban công, sân thượng bổ sung môi trường thiên
nhiên cho cảnh quan nội thị, vốn nhiều bê tông cốt thép.