ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN THÁI VĂN
Tên đề tài:
“ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG VÀ NHỮNG GIẢI
PHÁP BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN
XI MĂNG BẮC GIANG - TỈNH BẮC GIANG’’
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Khoa học môi trường
Khoa : Môi trường
Khóa học : 2010 - 2014
Thái Nguyên, năm 2014
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
dẫn tận tình của thầy giáo Th.S Hà Đình Nghiêm và sự giúp đỡ của toàn thể
cán bộ, công nhân công ty Cổ phần xi măng Bắc Giang.
Nhân dịp này, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy giáo Th.S Hà
Đình Nghiêm người hướng dẫn đề tài cùng toàn thể các thầy cô ,cán bộ khoa Môi
trường, các thầy cô hướng dẫn phân tích tại phòng phân tích khoa Môi trường.
Em xin chân thành cảm ơn tới toàn thể cán bộ, công nhân công ty Cổ
phần xi măng Bắc Giang, bạn bè, thầy cô và những người thân trong gia đình
đã động viên khuyến khích và giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập cũng
như hoàn thành khóa luận của mình.
Trong quá trình thực hiện khóa luận tốt nghiệp, do kinh nghiệm và
kiến thức của em còn hạn chế nên không tránh khỏi những sai sót và khiến
khuyết em rất mong được sự tham gia đóng góp ý kiến từ phía các thầy cô
giáo và các bạn sinh viên để khóa luận của em được hoàn thiện hơn nữa./
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày…. tháng…. năm 2014Sinh viên
Nguyễn Thái Văn DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
STT Chữ viết tắt Nội dung viết tắt
1 ASEAN Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
2 BTNMT Bộ tài nguyên môi trường
Bảng 4.2. Bố trí nhân lực của Nhà máy 32
Bảng 4.3. Thông số kĩ thuật bộ lọc túi tại thiết bị làm lạnh clinker 36
Bảng 4.4. Thông số kỹ thuật thiết bị lọc bụi tĩnh điện tại lò nung clinker 37
Bảng 4.5. Các nguồn gây ô nhiễm và các thiết bị xử lý ô nhiễm bụi trong dự
án mở rộng chuyển đổi công nghệ lò đứng sang lò quay tại Nhà máy xi
măng Hương Sơn 37
Bảng 4.6. Kết quả phân tích môi trường không khí xung quanh công ty cổ
phần xi măng Bắc Giang quý VI năm 2013 tại địa điểm 1 39
Bảng 4.7. Kết quả phân tích môi trường không khí xung quanh công ty cổ
phần xi măng Bắc Giang quý VI năm 2013 tại địa điểm 2 40
Bảng 4.8. Kết quả phân tích môi trường không khí trong công ty cổ phần xi
măng Bắc Giang quý IV năm 2013 tại địa điểm 1 43
Bảng 4.9. Kết quả phân tích môi trường không khí trong công ty cổ phần xi
măng Bắc Giang quý IV năm 2013 tại địa điểm 2 44
Bảng 4.10. Kết quả phân tích môi trường không khí trong công ty cổ phần xi
măng Bắc Giang quý IV năm 2013 tại địa điểm 3 45
Bảng 4.11. Danh mục các hạng mục trong hệ thống xử lý nước thải 49
Bảng 4.12. Kết quả phân tích mẫu nước mặt (M6- nước cấp cho sản xuất)
của công ty cổ phần xi măng Bắc Giang quý IV năm 2013 50
Hình 2.2. Biểu đồ thị phần tiêu thụ xi măng ở Việt Nam năm 2008 14
Hình 2.3. Biểu đồ thể hiện thị trường tiêu thụ xi măng năm 2010 15
Hình 4.1. Vị trí công ty cổ phần xi măng Bắc Giang 26
trong huyện Lạng Giang - tỉnh Bắc Giang 26
Hình 4.2. Sơ đồ khối dây truyền công nghệ sản xuất của nhà máy 35
Hình 4.3. Biểu đồ kết quả phân tích hàm lượng bụi lơ lửng xung quanh công
ty cổ phần xi măng Bắc Giang quý IV năm 2013 tại địa điểm 1 và 2 42
Hình 4.4. Biểu đồ kết quả phân tích hàm lượng bụi lơ lửng trong công ty cổ
phần xi măng Bắc Giang quý IV năm 2013 tại địa điểm 1,2,3……… …… 47
Hình 4.5. Sơ đồ dây chuyền công nghệ xử lý nước thải 49
Hình 4.6. Biểu đồ kết quả phân tích mẫu nước mặt cấp cho sản xuất Của
công ty Cổ phần xi măng Bắc Giang quý VI năm 2013 51
Hình 4.7. Kết quả phân tích mẫu nước sản xuất thải ra môi trường M7 của
công ty Cổ phần xi măng Bắc Giang 53
Hình 4.8. Kết quả phân tích mẫu nước sản xuất thải ra môi trường M10 của
công ty cổ phần xi măng Bắc giang quý I năm 2014 54
Hình 4.9. Kết quả phân tích mẫu nước sinh hoạt khu văn phòng M8 56
công ty Cổ phần xi măng Bắc Giang quý IV năm 2013 56
Hình 4.10. Biểu đồ kết quả phân tích mẫu nước thải sinh hoạt của công ty
Việt Nam 16
Phần 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU 23
3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 23
3.1.1. Đối tượng nghiên cứu của đề tài 23
3.1.2. Phạm vi nghiên cứu của đề tài 23
3.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu 23
3.2.1. Địa điểm nghiên cứu 23
3.2.2. Thời gian tiến hành nghiên cứu 23
3.3. Nội dung nghiên cứu 23
3.3.1. Điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội khu vực công ty cổ phần xi măng
Bắc Giang 23
3.3.2. Tổng quan về công ty cổ phần xi măng Bắc Giang 23
3.3.3. Hiện trạng môi trường của công ty cổ phần xi măng Bắc Giang 23
3.3.4. Đề xuất một số biện pháp khắc phục, phòng ngừa ,xử lý ô nhiễm môi
trường tại công ty cổ phần xi măng Bắc Giang 23
3.4. Phương pháp nghiên cứu 23
3.4.1. Phương pháp quan sát 23
3.4.2. Phương pháp thu thập tài liệu số liệu thông tin thứ cấp 23
3.4.3. Phương pháp tham khảo ý kiến 24
3.4.4. Phương pháp so sánh đối chiếu với các TCVN,QCVN đang thi hành
và có hiệu lực 24
3.4.5. Phương pháp điều tra phỏng vấn 24
3.4.6. Phương pháp xử lý, tổng hợp ,phân tích số liệu 24
Phần 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 26
4.1. Điều kiện tự nhiên- kinh tế- xã hội khu vực công ty cổ phần xi măng
Bắc Giang 26
4.1.1. Điều kiện tự nhiên 26
4.1.2. Đặc điểm kinh tế - xã hội khu vực công ty cổ phần xi măng Bắc Giang
1.1. Đặt vấn đề
Việt Nam trên con đường hội nhập và phát triển bền vững đã đạt được
nhiều thành tựu vượt bậc về kinh tế - xã hội ,vượt qua tác động của suy thoái
toàn cầu duy trì được tỉ lệ tăng trưởng kinh tế cao bảo đảm an sinh xã
hội.Năm 2010 đánh dấu một cột mốc quan trọng: nước ta đã vượt qua ngưỡng
các nước nghèo, bước vào nhóm các nước có mức thu nhậm trung bình và
đang đẩy mạnh tiến trình phát triển kinh tế - xã hội.Tuy nhiên nước ta vẫn
đang phải đối mặt với rất nhiều thách thức, trong đó có các vấn đề về suy
thoái môi trường , biến đổi khí hậu đã và đang diễn ra ngày càng gay
gắt.Nước ta là một trong số những nước chịu tác động nặng nhất về biến đổi
khí hậu và suy thoái môi trường .
Đứng trước vấn đề đô thị hóa, hiện đại hóa - công nhiệp hóa của đất
nước, đòi hỏi cần có sự tập chung vào việc xây dựng phát triển cơ sở hạ tầng.
Để đáp ứng được yêu cầu này, xây dựng đóng một vai trò quan trọng và
không hề nhỏ trong cuộc đổi mới đó. Trong đó xi măng là một trong những
vật liệu quan trọng trong ngành mà hầu hết các quốc gia trên thế giới sử dụng
vào việc xây dựng những công trình.
Ngành xi măng ở nước ta có đủ điều kiện để phát triển , do Việt Nam
đang trong quá trình đô thị hóa nên nhu cầu xây dựng dân dụng, công nghiệp,
giao thông cần nhiều xi măng.Mặt khác nước ta rất dồi dào về nguyên liệu
(đá vôi, đá sét, phụ gia) và có nhiều điều kiện được tiếp cận với những công
nghệ tiên tiến nhất.
Ngành công nghiệp xi măng của Việt Nam đã có lịch sử phát triển trên
100 năm, bắt đầu từ Nhà máy xi măng Hải Phòng được thành lập năm 1899.
Từ năm 1991 đến nay là giai đoạn phát triển mạnh nhất của ngành xi măng
Việt Nam. Sau 19 năm, tổng công suất thiết kế đã gấp 13 lần và Việt Nam trở
thành nước đứng đầu khối ASEAN về sản lượng xi măng. Năm 2010, tổng
công suất thiết kế các nhà máy xi măng đạt 63 triệu tấn, năng lực sản xuất 53
triệu tấn, về cơ bản cung đã vượt cầu. Theo định hướng quy hoạch phát triển
2
bảo bảo vệ môi trường công ty vẫn luôn nỗ lực cố gắng.
3
Để tìm hiểu rõ hơn và có cái nhìn thực tế hơn về môi trường mà các
hoạt động sản xuất gây nên cũng như các biện pháp áp dụng để bảo vệ môi
trường sinh thái và sức khỏe con người tại công ty hiện nay , trong khuôn khổ
một đề tài tốt nghiệp tôi nghiên cứu đề tài “Đánh giá hiện trạng môi trường
và những giải pháp bảo vệ môi trường của công ty cổ phần xi măng Bắc
Giang- Tỉnh Bắc Giang’’, dưới sự đồng ý của ban chủ nhiệm Môi Trường và
sự hướng dẫn của giảng viên: Ths. Hà Đình Nghiêm.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
- Đánh giá thực trạng môi trường của công ty cổ phần xi măng Bắc Giang.
- Đề xuất các giải pháp nhằm phục vụ cho công tác bảo vệ môi trường,
ngăn ngừa giảm thiểu ô nhiễm.
1.3. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của tài
1.3.1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học
- Vận dụng và phát huy được những kiến thức đã học, kĩ năng, cơ hội cọ
sát với những kiến thức thực tiễn cho bản thân phục vụ cho công tác sau này.
- Kết quả của đề tài là nguồn tài liệu tham khảo tài liệu thứ cấp là thông
tin cơ sở trong công tác đánh giá thực trạng môi trường và các giải pháp bảo
vệ môi trường.
- Qua quá trình tìm hiểu và đánh giá có cái nhìn tổng quan về hiện trạng
môi trường và sự hiệu quả của các biện pháp bảo vệ môi trường đang sử dụng
trong nhà máy.Đó là những tiền đề để có những biện pháp,đề xuất điều chỉnh cho
công tác bảo vệ môi trường của nhà máy phù hợp với điều kiện tương lai.
- Giúp sinh viên có thêm những hiểu biết về các thiết bị quan trắc môi
trường trong thực tế, các loại khí thải,nước thải phát sinh trong quá trình sản
xuất xi măng và ảnh hưởng của nó đến sức khỏe con người.
1.3.2. Ý nghĩa thực tiễn
- Biết được thực trạng các vấn đề về môi trường của nhà máy từ đó đề
xuất các giải pháp ngăn ngừa, giảm thiểu ô nhiễm phục vụ công tác bảo vệ
định, tạo nên sức mạnh tập thể thuận lợi cho sự phát triển, làm cho cuộc sống
của con người khác với các sinh vật khác.
Ngoài ra, người ta còn phân biệt khái niệm môi trường nhân tạo, bao gồm
tất cả các nhân tố do con người tạo nên, làm thành những tiện nghi trong cuộc
sống, như ôtô, máy bay, nhà ở, công sở, các khu vực đô thị, công viên nhân tạo
Môi trường theo nghĩa rộng là tất cả các nhân tố tự nhiên và xã hội cần
thiết cho sự sinh sống, sản xuất của con người, như tài nguyên thiên nhiên,
không khí, đất, nước, ánh sáng, cảnh quan, quan hệ xã hội
5
Môi trường theo nghĩa hẹp không xét tới tài nguyên thiên nhiên, mà chỉ
bao gồm các nhân tố tự nhiên và xã hội trực tiếp liên quan tới chất lượng cuộc
sống con người. Ví dụ: môi trường của học sinh gồm nhà trường với thầy
giáo, bạn bè, nội quy của trường, lớp học, sân chơi, phòng thí nghiệm, vườn
trường, tổ chức xã hội như Đoàn, Đội với các điều lệ hay gia đình, họ tộc,
làng xóm với những quy định không thành văn, chỉ truyền miệng nhưng vẫn
được công nhận, thi hành và các cơ quan hành chính các cấp với luật pháp,
nghị định, thông tư, quy định.
Tóm lại, môi trường là tất cả những gì có xung quanh ta, cho ta cơ sở
để sống và phát triển (Trần Thy Thảo, 2013) [21].
2.1.2. Khái niệm về ô nhiễm môi trường
Trên thế giới, ô nhiễm môi trường được hiểu là việc chuyển các chất
thải hoặc năng lượng vào môi trường đến mức có khả năng gây hại đến sức
khoẻ con người, đến sự phát triển sinh vật hoặc làm suy giảm chất lượng môi
trường. Các tác nhân ô nhiễm bao gồm các chất thải ở dạng khí (khí thải),
lỏng (nước thải), rắn (chất thải rắn) chứa hoá chất hoặc tác nhân vật lý, sinh
học và các dạng năng lượng như nhiệt độ, bức xạ.
Tuy nhiên, môi trường chỉ được coi là bị ô nhiễm nếu trong đó hàm lượng,
nồng độ hoặc cường độ các tác nhân trên đạt đến mức có khả năng tác động xấu
đến con người, sinh vật và vật liệu (Tổng cục môi trường, 2009) [16].
Theo khoản 6 điều 3 Luật Bảo Vệ Môi trường Việt Nam 2005 “Ô
Đầu vào có nhiều vì chất ô nhiễm có thể từ trên trời rơi xuống, từ nước chảy
vào, do con người trực tiếp "tặng" cho đất, mà cũng có thể không mời mà đến.
Đầu ra rất ít vì nhiều chất ô nhiễm sau khi thấm vào đất sẽ lưu lại trong đó.
Hiện tượng này khác xa với hiện tượng ô nhiễm nước sông, ở đây chỉ cần chất
ô nhiễm ngừng xâm nhập thì khả năng tự vận động của không khí và nước sẽ
nhanh chóng tống khứ chất ô nhiễm ra khỏi chúng. Đất không có khả năng
này, nếu thành phần chất ô nhiễm quá nhiều, con người muốn khử ô nhiễm
cho đất sẽ gặp rất nhiều khó khăn và tốn nhiều công sức(Tổng cục môi
Trường, 2009) [20].
2.1.4. Khái niệm về ô nhiễm nước
Ô nhiễm nước là sự biến đổi nói chung do con người đối với chất lượng
nước, làm nhiễm bẩn nước và gây nguy hiểm cho con người, cho công
nghiệp, nông nghiệp, nuôi cá, nghỉ ngơi, giải trí, cho động vật nuôi và các loài
hoang dã".
Ô nhiễm nước có nguồn gốc tự nhiên: Do mưa, tuyết tan, gió bão, lũ lụt
đưa vào môi trường nước chất thải bẩn, các sinh vật và vi sinh vật có hại kể cả
xác chết của chúng.
7
Ô nhiễm nước có nguồn gốc nhân tạo: Quá trình thải các chất độc hại
chủ yếu dưới dạng lỏng như các chất thải sinh hoạt, công nghiệp, nông
nghiệp, giao thông vào môi trường nước.
Theo bản chất các tác nhân gây ô nhiễm, người ta phân ra các loại ô
nhiễm nước: ô nhiễm vô cơ, hữu cơ, ô nhiễm hoá chất, ô nhiễm sinh học, ô
nhiễm bởi các tác nhân vật lý (Tổng cục Môi trường, 2009) [19] .
2.1.5. Khái niệm về ô nhiễm không khí
Ô nhiễm không khí là sự có mặt một chất lạ hoặc một sự biến đổi quan
trọng trong thành phần không khí, làm cho không khí không sạch hoặc gây ra
sự toả mùi, có mùi khó chịu, giảm tầm nhìn xa (do bụi).
Có rất nhiều nguồn gây ô nhiễm không khí. Có thể chia ra thành nguồn
tự nhiên và nguồn nhân tạo.
- Luật bảo vệ môi trường năm 2005 được Quốc hội nước Cộng hòa xã
hội chủ Nghĩa Việt Nam khóa XI kỳ họp thứ 8, thông qua ngày 29 tháng 11
năm 2005 và có hiệu lực thi hành ngày 01/07/2006.
- Nghị định 80/2006/NĐ - CP ngày 09 tháng 8 năm 2006 về hướng dẫn
thi hành
một số điều của Luật Bảo Vệ Môi Trường.
- Nghị định 117/2009/NĐ - CP ngày 31 tháng 12 năm 2009 về xử phạt
vi phạm pháp luật trong lĩnh vực Bảo vệ Môi trường.
- Nghị định 29/2011/NĐ_CP quy định về đánh giá môi trường chiến
lược đánh giá tác động môi trường, cam kết bảo vệ môi trường được thi hành
ngày 2 tháng 9 năm 2011.
- Thông tư 26/2011/TT-BTNMT quy định chi tiết một số điều của nghị
định 29/2011/NĐ_CP về đánh giá môi trường chiến lược đánh giá tác động môi
trường, cam kết bảo vệ môi trường được thi hành ngày 2 tháng 9 năm 2011.
- Các tiêu chuẩn của Bộ y tế:
+ TC3733 - 2002 BYT/QĐ : Quyết định của Bộ trưởng Bộ y tế về việc ban
hành 21 tiêu chuẩn vệ sinh lao động, 5 nguyên tắc, 7 thông số vệ sinh lao động.
- Các tiêu chuẩn việt Nam về môi trường:
9
+ TCVN 7172:2002 về sự phát thải nguồn tĩnh - xác định nồng độ khối
lượng Nitơ oxit- phương pháp quan trắc quang dùng naphtyletylendiamin do
Bộ Khoa học công Nghệ ban hành.
+TCVN 7242:2003 về lò đốt chất thải rắn y tế - phương pháp xác
định nồng độ cacbon monoxit(CO) trong khí thải do Bộ Khoa học công
Nghệ ban hành.
+TCVN 5977:2005 về sự phát thải nguồn tĩnh - xác định nồng độ lưu
lượng bụi trong các ông dẫn khí- phương pháp khối lượng thủ công.
+ TCVN 6750:2005 sự phát thải của nguồn tĩnh- xác định khối lượng
của lưu huỳnh dioxit- phương pháp sắc ký khí ion.
+TCVN 7735:2007 về chất lượng không khí- tiêu chuẩn khí thải sản
Lan và Indonesia) (Công ty cổ phần công nghệ IP, 2008) [4].
Theo dự báo nhu cầu sử dụng xi măng từ nay đến năm 2020: Tăng
hàng năm 3,6% năm nhu cầu sử dụng xi măng có sự chênh lệch lớn giữa
các khu vực trên thế giới: (nhu cầu các nước đang phát triển 4,3% năm,
riêng châu Á bình quân 5%/năm, các nước phát triển xấp xỉ 1%/năm. Ngoài
ra tình trạng dư thừa công suất của các nhà máy là phổ biến ở Đông Âu,
Đông Nam Á (Thái Lan, ngược lại ở Bắc Mỹ) (Công ty cổ phần công nghệ
IP,2008) [6].
Các nước tiêu thụ lớn xi măng trong những năm qua phải kể đến: Trung
Quốc, Ấn Độ, Mỹ, Nhật bản, Hàn Quốc, Nga, Tây Ban Nha, Italya, Braxin,
Iran, Mê hy cô, Thổ Nhĩ Kỳ, Việt Nam, Ai Cập, Pháp, Đức ( Công ty cổ
phần công nghệ IP, 2008) [4].
Tại thời điểm tháng 8/2011 theo số liệu của Hiệp hội xi măng Đông
Nam Á thì giá bán xi măng bao các nước ASEAN như sau:
Brunei: 123 USD/T
Indonesia: 125 USD/T
Malaysia: 105,69 USD/T
Philippines: 89,29 USD/T
Singapore: 87,20 USD/T
Thailand: 72,61 USD/T
Vietnam 71,80 USD/T
11
1998
1999
2000
2001
2002
2003
2004
2005
2006
2007
Sản lượng
7,6 9,53
11,1
12,7 14,64
16,8
0,5 0,3 0,2 1,33 3,75
5,98 6,0 6,5 8,5 8,9
Nguồn: VLXD đương đại (Đơn vị: triệu tấn)
Trong những năm qua ngành xi măng đóng góp một phần không nhỏ
vào tốc độ tăng trưởng kinh tế Việt Nam, trung bình từ 10% - 12% GDP. Vì
thế Chính phủ xác định Xi măng là ngành phát triển chiến lược nhằm hỗ trợ
phát triển kinh tế (Công ty cổ phần công nghệ IP, 2008) [4].
12
Năm 2013 tổng sản lượng sản xuất xi măng, clinker là 50,860 triệu tấn;
Tổng tiêu thụ nội địa là 46,5 - 47 triệu tấn, tăng khoảng 3% so với năm 2012;
Tổng lượng xi măng, clinker xuất khẩu năm 2013 là 14,955 triệu tấn, tăng
75% so với năm 2012 ( Hiệp hội xi măng việt Nam, 2014) [14].
.
-Năng lực sản xuất và các yếu tổ ảnh hưởng tới sản xuất của doanh
nghiệp trong ngành.
+ Trong những năm gần đây, một số nhà máy sản xuất xi măng lớn tập
trung nhiều vào thị trường trong nước do thị trường này đang tăng trưởng
mạnh mẽ. Ngành công nghiệp xi măng Việt Nam hiện nay đã có khoảng 14
nhà máy xi măng lò quay với tổng công suất thiết kế là 21,5 triệu tấn/năm, 55
cơ sở xi măng lò đứng, lò quay chuyển đổi tổng công suất thiết kế 6 triệu
tấn/năm, khoảng 18 triệu tấn xi măng được sản xuất từ nguồn clinker trong
nước (ứng với 14,41 triệu tấn clinker).
+ Hầu hết các nhà máy sản xuất xi măng sử dụng phương pháp kỹ thuật
khô, ngoại trừ những nhà máy có lò trộn xi măng đứng với thiết bị và kỹ thuật
lạc hậu, thì những nhà máy còn lại có năng suất trộn xi măng từ 1,4 triệu đến
2,3 triệu tấn mỗi năm với thiết bị và trình độ kỹ thuật tương đương với nhữn
nhà máy khác ở Đông Nam Á.
+ Việt Nam đang có khoảng 31 dự án xi măng lò quay với tổng công
suất thiết kế là 39 triệu tấn được phân bổ ở nhiều vùng trên cả nước. (Đa số
đầu vào của nguyên vật liệu, cước phí vận chuyển, tổng nhu cầu xi măng tại
miền Nam chiếm tới 40% tổng nhu cầu trong khi các doanh nghiệp miền
Nam chỉ đáp ứng được 50% tổng nhu cầu đó.
+ Ngoài ra do xi măng là ngành có vị trí quan trọng trong nền kinh tế
nên Chính phủ vẫn nắm quyền kiểm soát giá cả, giá cả bị chặn đầu ra -
nhưng giá nguyên liệu đầu vào không ngừng xu thế tăng lên. Đó là khó khăn
rất lớn cho doanh nghiệp sản xuất trong ngành.
+ Thị phần tiêu thụ lớn nhất thuộc về Tổng công ty Xi măng Việt Nam
chiếm khoảng 40% toàn thị trường - Thị phần tiêu thụ xi măng trong 04 tháng
đầu năm 2008 con số này là 41,1% .Các doanh nghiệp lớn trong ngành đều
thuộc tổng công ty xi măng Việt Nam như: Hà Tiên1, 2, Xi măng Hoàng
Thạch, Xi măng Hải Phòng hơn 33 đơn vị gồm công ty con, công ty cổ phần
14
- tổng công ty nắm quyền chi phối, công ty liên doanh liên kết (Công ty cổ
phần công nghệ IP, 2008) [4].
Hình 2.1. Biểu đồ sản lượng cung cấp cho thị trường và doanh thu từ
năm 1995- 2007 của Tổng công ty xi măng Việt Nam
Thị phần của các doanh nghiệp xi măng nhỏ chiếm 31% toàn thị trường
- 04 tháng đầu năm 2008 con số này là 28,9% - do vốn nhỏ, khả năng cạnh
tranh kém. Thị phần của các doanh nghiệp liên doanh là 29% - 04 tháng đầu
năm 2008 con số này là 30%
Hình 2.2. Biểu đồ thị phần tiêu thụ xi măng ở Việt Nam năm 2008
Năm 2010, khối lượng xi măng sản xuất đạt 53,20 triệu tấn, tổng
lượng tiêu thụ đạt 50,20 triệu tấn, tổng lượng nhập clinker khoảng 2,15 triệu
15
tấn với tổng trị giá khoảng 81 triệu USD, giá clinker nhập khẩu bình quân 38
USD/tấn.( Hiệp hội xi măng việt Nam, 2011) [12].
Tỷ lệ tiêu thụ xi măng theo các vùng miền như sau: