ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
BÙI ĐỊNH ĐỀ TÀI:
“NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN, DIỄN BIỄN RỆP MUỘI
TRÊN CAO LƯƠNG NGỌT NHẬP NỘI TỪ NHẬTBẢN
VỤ XUÂN NĂM 2014 TẠI THÁI NGUYÊN” ơ KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành :Khoa học cây trồng
Khoa : Nông Học
Khóa học : 2010- 2014
Giáo viên hướng dẫn : Th.S Lê Thị Kiều Oanh
DANH MỤC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT
FAO:Food and Agriculture Organization (Tổ chức Lương thực và Nông
nghiệp Liên Hợp Quốc)
BVTV: Bảo vệ thực vật
TNHH: Trách nhiệm hữu hạn
MỤC LỤC
Trang
PHẦN 1: MỞ ĐẦU 1
1.1. Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2. Mục đích và yêu cầu của đề tài 2
1.2.1. Mục đích của đề tài 2
1.2.2. Yêu cầu của đề tài 2
1.3. Ý nghĩa của đề tài 2
1.3.1. Ý nghĩa trong học tập 2
1.3.2. Ý nghĩa thực tiễn 2
PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1. Cơ sở khoa học của đề tài 3
2.1.1. Tình hình nghiên cứu rệp muội trên thế giới và Việt Nam 3
2.1.1.1. Nghiên cứu thành phần rệp muội trên thế giới 3
2.1.1.2. Nghiên cứu thành phần rệp muội tại Việt Nam 4
2.1.2. Đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của rệp 4
2.1.2.1. Thành phần loài rệp muội 5
2.1.2.2. Phương thức gây hại và tác hại của rệp 7
2.1.2.3. Thành phần thiên địch của rệp 8
2.1.2.4. Biện pháp phòng trừ rệp 9
2.1.3. Một số sâu hại khác trên cao lương 10
2.1.4. Thành phần sâu hại cao lương trên thế giới 11
2.2. Tình hình sản xuất cao lương trên thế giới và Việt Nam 15
5.1.2. Diễn biến mật độ rệp muội trên cây cao lương ngọt 37
5.1.3. Thành phần thiên địch trên cây cao lương ngọt 37
5.1.4. Thành phần sâu hại khác trên cao lương ngọt 37
5.2. Đề nghị 38
TÀI LIỆU THAM KHẢO 39
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1. Thành phần sâu hại cao lương trên thế giới 13
Bảng 2.1. (tiếp theo) 14
Bảng 2.2: Tình hình sản xuất cao lương trên thế giới trong những năm gần
đây 16
Bảng 2.3: Tình hình sản xuất cao lương ở một số châu lục trong những năm
gần đây 17
Bảng 4.1: Diễn biến thời tiết khí hậu trong vụ xuân tỉnh Thái Nguyên năm
2014 23
Bảng 4.2: Thành phần, mức độ của các loài rệp hại cao lương ngọt tại
Thái Nguyên năm 2014 25
Bảng 4.3: Thành phần thiên địch rệp hại trên cao lương 30
Bảng 4.4: Thành phần sâu hại khác trên cao lương tại Thái Nguyên vụ xuân
năm 2014 34
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2.1: Hình ảnh rệp xanh hại cao lương 6
Hình 2.2: Hình ảnh rệp vàng mía hại cao lương 7
Hình 2.3: Hình ảnh rệp ngô hại cao lương 7
Hình 4.1: Một số đặc điểm phân loại của rệp gây hại trên cao lương ngọt
(Rhopalosiphum maidis) 26
Hình 4.2: Đặc điểm hình thái rệp hại cao lương ngọt (Rhopalosiphum maidis)
26
Hình 4.3: Diễn biến mật độ rệp muội hại cao lương ngọt tại trường Đại học
sự giảm năng suất, chất lượng do sâu, bệnh gây ra. Thành phần dịch hại
chính gồm có rệp muội, sâu đục thân, sâu khoang, sâu xanh ngô, bệnh thối
rễ, Rệp muội là loại sâu hại quan trọng trên các loại cây trồng ở nước ta cũng
như nhiều nước trên thế giới. Rệp muội đã được nghiên cứu từ lâu cả về thành
phần loài cũng như đặc tính sinh học, điều kiện sinh thái và biện pháp phòng trừ.
Mặc dù vậy, hàng năm nhiều nhà khoa học trên thế giớivẫn tiếp tục điều tra,
nghiên cứu về thành phần rệp muội và đã phát hiện thêm nhiều loài mới.
2
Rệp là loài đa thực vật, gây hại trên 40 loài thực vật khác nhau và là một
trong những đối tượng gây hại nguy hiểm nhất đối với cây trồng (Blackman
&Eastop, 2000) [19], chúng tập trung thành từng đàn hút các chất dinh dưỡng ở
bộ phận non của cây, đồng thời là môi giới truyền bệnh virus gây khảm lá và
bệnh đốm lá trên cây làm giảm năng suất và chất lượng sản phẩm (Ribbands
C.R., 1964; Williams I.S.et al, 2000) [49], [62].
Rệp muội hại cao lương là một trong những sâu hại quan trọng. Rệp
muội hút nhựa cây và tiết chất độc vào trong mô cây làm cho cây sinh trưởng
kém, giảm hàm lượng đường, năng suất thấp. Vì vậy, nghiên cứu về thành
phần và diễn biến để có cơ sở khoa học đưa ra biện pháp quản lý rệp muội
hợp lý là vấn đề hết sức cần thiết. Xuất phát từ thực tiễn trên, chúng tôi đã tiến
hành đề tài: “Nghiên cứu thành phần, diễn biến rệp muội trên cao lương
ngọt nhập nội từ Nhật Bản vụ xuân năm 2014 tại Thái Nguyên”.
1.2. Mục đích và yêu cầu của đề tài
1.2.1. Mục đích của đề tài
Xác định thành phần, tần suất xuất hiện và diễn biến của rệp muội hại
cao lương ngọt tại Thái Nguyên vụ xuân năm 2014
1.2.2. Yêu cầu của đề tài
- Xác định được thành phần, tần suất xuất hiện của rệp hại cao lương ngọt
- Xác định được diễn biến mật độ rệp muội trên cây cao lương ngọt tại
Thái Nguyên vụ xuân năm 2014
trong nghiên cứu, giảng dạy song các nghiên cứu về thành phần rệp muội hại
cao ngọt nhập nội từ Nhật Bản được trồng tại Thái Nguyên chưa đáp ứng
được thực tế sản xuất, vì vậy cần có thêm nghiên cứu về thành phần rệp muội
hại cao lương ngọt tại Thái Nguyên để làm cơ sở cho việc xây dựng các biện
pháp phòng trừ rệp muội trong điều kiện thực tế sản xuất tại Thái Nguyên.
2.1.1. Tình hình nghiên cứu rệp muội trên thế giới và Việt Nam
2.1.1.1. Nghiên cứu thành phần rệp muội trên thế giới
Theo Van Emden, H.F.(1972) [58] trên thế giới có 3.805 loài rệp muội
được xếp thành 10 họ phụ, trong đó họ phụ Aphididae có 2.236 loài chiếm
gần 60% tổng số các loài rệp muội. Đến năm 1976 Ghosh A.K. đã công bố
trên thế giới có hơn 4.000 loài rệp muội đã được mô tả và chia thành 8 họ
phụ, trong đó ở vùng Đông Nam Á có hơn 1.000 loài. Đứng về phân bố vùng
địa lý thì tổng họ Aphidoidea có số loài nhiều nhất ở Bắc Mỹ, châu Âu, miền
Trung và Đông châu Á, nhưng Đông Nam Á là vùng có đầy đủ các nhóm
trong tổng họ Aphidoidea (Blackman & Eastop 1984) [18]. Ở từng nước
thành phần rệp muội trên cây trồng cũng khác nhau: Ở Nhật Bản đã thu được
4
240 loài thuộc tộc Macrosiphini (Masahisa, 1971.) [42]; Ở Triều Tiên đã thu
170 loài rệp muội hại cây trồng (Ghosh 1976 ) [35]. Ở Ấn Độ và Tây Bengal
có 397 loài và loài phụ rệp muội đã được định tên thuộc 150 giống, 7 tập,
song đó cũng chỉ là 70% tổng số loài tìm thấy ở Ấn Độ (Raychaudhuri (1980)
[48]. Tác giả cũng đã mô tả những loài mới và tầm quan trọng của chúng.
Waterhouse (1993) [60] đã nêu 9 loài rệp khá phổ biến và dịch hại chính ở
Việt Nam cũng như ở Đông Nam Á.
2.1.1.2. Nghiên cứu thành phần rệp muội tại Việt Nam
Theo kết quả điều tra côn trùng ở miền Bắc Việt Nam năm 1967 – 1968
đã phát hiện 9 loài rệp muội (Viện bảo vệ thực vật, 1976) [12]. Szelgiewicz
(1968) [56] đã thu được 22 loài rệp muội trên một số cây trồng ở Việt Nam.
Theo Nguyễn Văn Cảm (1983) [1], Viện bảo vệ thực vật (1999) [13] điều tra
Các giai đoạn phát triển của cây khác nhau, xuất hiện loại hình rệp khác
nhau. Theo Suarez et al (1991) [55], sau trồng 2 – 3 tuần, rệp cái trưởng thành
có cánh (alate) xuất hiện, sau đó 1 -2 tuần rệp cái trưởng thành không cánh
(aptera) mới xuất hiện và gây hại.
2.1.2.1. Thành phần loài rệp muội
*Rệp xanh (Greenbug - Schizaphis graminum (Rondani))
Rệp xanh (Schizaphis graminum (Rondani)) hút nhựa cây và tiết chất
độc vào trong mô cây trong quá trình chích hút. Loài rệp này có màu xanh
tím, chiều dài dao động xung quanh 0,2cm, có sọc xanh trên lưng, và có thể
có cánh hoặc không có cánh. Chúng chích hút ở mặt dưới của lá và gây ra các
vết đốm màu đỏ xuất hiện ở mặt trên của lá, và có giọt dịch vị ngọt điển hình
thường xuất hiện ở mặt trên của lá. Mức độ tác hại do rệp xanh gây ra phụ
thuộc vào số lượng rệp, kích thước cây cao lương, giai đoạn sinh trưởng, phát
triển và điều kiện ẩm độ nhiệt độ. Nếu bị nhiễm rệp vào giai đoạn cây con,
khả năng đứng của cây cao lương bị giảm đáng kể. Con cái sinh sản trong
vòng 20-30 ngày, trong đó có thể sinh ra từ 50 đến 100 con rệp non
(Studebaker et al., 2013 ) .
Do tốc độ sinh sản nhanh, nên chúng có thể lây nhiễm và gây hại rất
nặng cho cây cao lương. Tuy nhiên, số lượng cá thể rệp thường bị ảnh hưởng
bởi điều kiện thời tiết bất lợi đặc biệt là mưa lớn, nhiệt độ và do tác động của
một số loài thiên địch có mặt trên đồng ruộng. Trong điều kiện thời tiết mát
mẻ, loài rệp này có thể gia tăng về số lượng cá thể. Do đó, nhiệt độ là yếu tố
rất quan trọng ảnh hưởng lớn đến quần thể rệp xanh. Mùa đông ấm áp, và
6
mùa xuân mát mẻ là điều kiện thích hợp cho rệp sinh trưởng và phát triển
thành dịch (Michaud, 2013; Studebaker et al., 2013) .
Một trong số thiên địch của loài rệp này là ong bắp cày ký sinh
(Michaud, 2013; Studebaker et al., 2013). Loài ong bắp cày này hoạt động
kém hơn so với rệp khi nhiệt độ dưới 18
quần thể sâu hại đạt ngưỡng kinh tế, đặc biệt là trong giai đoạn cây con thì
cần áp dụng biện pháp xử lý kịp thời để hạn chế tác hại của sâu hại. Khác với
loài rệp xanh, rệp ngô không tiết độc tố vào trong mô cây. Sau khi bông chín,
quần thể rệp ngô sẽ giảm. Năng suất cao lương chỉ giảm khi rệp ngô gây đổ
rạp cây con hoặc khi mật độ rệp cao ngăn cản hoặc ảnh hưởng đến quá trình
trổ bông của cao lương (Studebaker et al., 2013) .
Rhopalosiphum maidis
Hình 2.3: Hình ảnh rệp ngô hại cao lương
2.1.2.2. Phương thức gây hại và tác hại của rệp
Rệp thường tập trung ở các bộ phận non của cây để hút dịch, gây hiện
tượng mất nước, làm cho cây bị héo và giảm khả năng sinh trưởng. Cây bị rệp
hại kéo dài, làm giảm năng suất của cây (Petitt and Smilowitz, 1982) [46]. Sự
8
gây hại của rệp còn làm biến dạng lá non và gây hiện tượng rụng hoa, rụng
quả, thậm chí mất mùa (Mau and Kessing, 1991; Karimullah et al. 1995a;
Karimullah et al. 1995b, Saljoqi and van Emden, 2003b; Saljoqi, 2009) [43],
[40], [51], [50].
Rệp còn là môi giới truyền bệnh virus cho nhiều loại cây trồng
(Blackman &Eastop, 2000) [19]. Cả ấu trùng và rệp trưởng thành đều có khả
năng truyền lan virus cho cây trồng, nhưng rệp trưởng thành hoạt động nhiều
hơn nên khả năng lan truyền bệnh nhanh và nhiều hơn so với ấu trùng rệp
(Namba and Sylvester, 1981). Các loại bệnh virus chính do rệp lây truyền là:
Potato Virus A (PVA), Potato Virus X (PVX), Potato Virus Y (PVY), Potato
Virus S (PVS), Potato Leaf roll Virus (PLRV). Trong đó, hai loại bệnh virus
PVY và PLRV làm giảm ngăng suất cây trồng từ 7,5 – 15,7% trong vụ thu và
44,0 – 52,2% và thậm chí đến 60% trong vụ xuân. Nếu hạt giống cây trồng bị
nhiễm một trong hai loại bệnh virus này có thể làm giảm năng suất trên 50%,
thậm chí còn bị thất thu (Sjekhawat, 1990; Capinera, 2001) [45], [23].
địch và biện pháp sinh học là biện pháp an toàn và bền vững nhất (Boiteau et
al., 1995; Cloutier et al., 1995; Hapter, 2007) [20], [25], [38]. Các kẻ thù tự
nhiên như: các loài ký sinh (Aphidius, Diaeretiella, Ephedrus, Lysiphlebus, và
Praon) (Pike et al., 2000), loài bắt mồi ăn thịt thuộc họ Coccinellids,
Syrphidfly và họ Chrysopids, các vi sinh vật gây bệnh cho rệp
(Entomopathogenic) có nguồn gốc từ nấm, vi khuẩn, virus. Những loài này có
tác dụng làm giảm số lượng rệp lên đến 68% (Karley et al., 2003; Hapter,
2007). Cho nên, biện pháp này sử dụng khi dịch hại có nguy cơ bùng phát gây
thiệt hại kinh tế. Đối với rệp, ngưỡng gây hại kinh tế trên cây khoai tây ở New
Brunswick là 25 con/1 lá kép (Edward, 2008) [32].
Việc dùng thuốc hóa học để trừ rệp muội ở nước ta đã được một số tác
giả nghiên cứu. Nguyễn Thị Kim Oanh (1992) [6] đã nghiên cứu một số loại
thuốc hóa học như Bi58, Primor, Monitor, Nuvacron, CidiM50 để trừ rệp đào
trên thuốc lá. Kết quả cho thấy hiệu lực trừ rệp sau 3 ngày phun thuốc của các
loại thuốc này so với đối chứng tuần tự: 20,15%, 96,9%, 69,27%, 96,63%, và
96,19%. Tác giả cũng đưa ra nhận xét về khả năng phục hồi quần thể của rệp
đào sau phun thuốc phụ thuộc vào từng loại thuốc.
Theo Trương Xuân Lam, Tạ Huy Thịnh (1992) [4] đã dùng Omethoate
40EC (0,05% và 0,1%), 20EC (0,05% và 0,1%); Darnitol 50EC (0,10% và
0,15%) để trừ rệp trắng cao. Lương Minh Khôi và Nguyễn Văn Hoan (1994)
[3] cũng đã thí nghiệm dùng các loại thuốc Wofatox, Bi58, Monitor, Trebon,
10
Bassa trừ rệp mía (Ceratovacuna lanigera). Hiệu lực trừ rệp của các thuốc thử
nghiệm ở ngoài đồng ruộng rất cao, tỷ lệ rệp chết đạt tới 87,3%, 99,9%,
100%, 100%, 100% theo thứ tự so với đối chứng.
Có thể sử dụng bảng dính màu vàng để xác định hướng di chuyển và
thời điểm di chuyển của rệp (County, 2007; Edward, 2008) [27], [32].
Ngoài ra biện pháp canh tác cũng có vai trò quan trọng trong việc hạn
chế rệp muội. Theo Nguyễn Kim Oanh (1996) [7] cho biết biện pháp canh tác
như giống, thời vụ, phân bón có ảnh hưởng khá rõ nét tới mật độ của rệp
giúp phát tán ruồi, và dẫn đến làm giảm quần thể ruồi trên đồng ruộng.
+ Bọ xít hôi (Rice Stink Bug - Oebalus pugnax (Fabricius))
Bọ xít hôi (Oebalus pugnax (Fabricius)) thường tấn công cây cao lương
vào giai đoạn sau khi nở hoa và hình thành hạt. Cây cao lương mẫn cảm nhất
với loài sâu hại này trong giai đoạn hạt ngậm sữa. Khi hạt đã cứng thì tính
mẫn cảm của cây đối với loài này sẽ giảm.
+ Sâu đục thân cao lương (Sugarcane Borer, Diatraea saccharalis
(Fabricius
Sâu đục thân hại cây trong suốt quá trình sinh trưởng và ở tất cả các
bộ phận thân và lá. Khi cây còn nhỏ sâu đục vào nõn làm chết điểm sinh
trưởng. Thời kỳ cây con, sâu đục ngang lá gây ra hàng lỗ đục thẳng hàng
cắt ngang mặt lá. Đến khi cây lớn sâu đục vào thân cây làm cho cây bị gãy
khi gặp gió bão. Cần xác định sự có mặt của sâu đục thân bằng cách quan sát
cẩn thận phần thân cây cao lương. Nếu phát hiện thấy lỗ nhỏ gần cuống lá là
triệu chứng điển hình của sâu non đã đục và chui vào trong thân; có thể chẻ
đôi thân cây ra để tìm sâu non. Trứng được đẻ trên lá nhưng rất khó phát hiện.
Một ổ trứng có thể có từ 12 đến 20 trứng nằm trên đỉnh hoặc mặt dưới của lá
phụ thuộc vào từng loài sâu đục thân. Cây bị nhiễm sâu đục thân thường nhỏ,
và có thể bị đổ rạp. Khi bị sâu đục thân, cuống hoa và bông có thể bị gãy và
rụng, và làm cho cây mẫn cảm hơn các tác nhân gây bệnh thối thân.
(http://sorghumipm.tamu.edu/pests/sborer/mrborer.htm) [65].
2.1.4. Thành phần sâu hại cao lương trên thế giới
Cùng với bệnh hại, sâu là tác nhân gây thiệt hại đáng kể đến năng suất
và chất lượng cao lương. Trên thế giới, đã thu thập được 38 loài sâu hại, 6
loài thiên địch và 4 loài ký sinh sâu hại cao lương (Bảng 2.1). Một số đối
tượng sâu ăn lá như sâu xanh ngô và sâu khoang gây ra nhiều tổn thương có
thể nhìn thấy bằng mắt thường. Để đưa ra phương pháp quản lý hiệu quả sâu
12
hại cao lương, cần kiến thức cơ bản về đặc điểm sinh học, sinh thái, và biến
động quần thể của loài sâu hại đó. Sau đây là một số nghiên cứu về một số đối
10
Nhện Banks Grass Mite Oligonychus pratensis (Banks)
Sâu hại bông, thân
11
Ruồi cao lương Sorghum Midge Stenodiplosis sorghicola (Coquillett)
12
Sâu xanh ngô Corn Earworm Helicoverpa zea (Boddie)
13
Sâu khoang Fall Armyworm Spodoptera frugiperda (J. E. Smith)
14
Ngài cao lương Sorghum Webworm, Nola sorghiella Riley
15
Bọ xít hôi Rice Stink Bug Oebalus pugnax (Fabricius)
16
Bọ xít xanh
Southern Green Stink
Bug
Nezara viridula (L.)
17
Bọ xít xám Conchuela Chlorochroa ligata (Say)
14
Stt
T. confusum (Jacquelin du Val)
35 Mọt
Sawtoothed Grain
Beetle
Oryzaephilus surinamenis (Linnaeus)
36 Mọt
Merchant Grain
Beetle
O. mercator (Fauvel)
37 Ngài gạo Rice Moth Corcyra cephalonica (Stainton)
38 Ngài bột Indian Meal Moth Plodia interpunctella (Hubner)
15
Thiên địch
39 Bọ rùa đỏ Convergent Lady
Beetle
Hippodamia convergens (Guerin-
Meneville)
40 Bọ rùa Scymnus Lady Beetle Scymnus loewii (Mulsant)
41 Cánh tơ Green Lacewings Chrysoperla spp.; Chrysopa spp.
42 Bọ xít bắt mồi Minute Pirate Bug Orius tristicolor (White)
43 Bọ xít dài Common Damsel Bug
Nabis americoferus (Carayon)
44 Bọ xít mắt to Large Big-eyed Bug Geocoris bullatus (Say)
Ký sinh
45 Ong ký sinh Braconid Wasps, family Braconidae
46 Ong đa phôi Ichneumonid Wasps, family Ichneumonidae
47 Ong bắp cày Chalcid Wasps, family Chalcidae
58 Ong kén trắng Tachinid Flies, family Tachonidae
2011 42,32 13,80 58,41
2012 38,16 14,94 57,00
( Nguồn FAOSTAT, 2014) [63]
17
Bảng 2.3: Tình hình sản xuất cao lương ở một số châu lục
trong những năm gần đây
Năm
Châu lục
2008 2009 2010 2011 2012
Châu Phi
DT (triệu ha) 27,70
24,74
24,93 19,56 23,16
NS hạt (tạ/ha) 9,25 8,95 9,46 10,62 10,06
SL (triệu tấn) 25,61
22,14
23,60 20,78 23,31
Châu Mỹ
DT (triệu ha) 7,00
5,90
5,92 5,93 6,18
NS hạt (tạ/ha) 35,90
35,54
37,92 33,66 34,23
SL (triệu tấn) 25,10
20,96
22,54 19,96 21,17
Châu Á
( Nguồn FAOSTAT, 2014) [63]
Nhìn chung diện tích trồng cao lương không có nhiều thay đổi, duy trì
ở mức trên 38 triệu ha. Năm 2008 diện tích trồng cao lương lớn nhất là 45,28
triệu ha. Do sức ép của dân số và nhu cầu sử dụng đất cho công nghiệp nên
diện tích cao lương duy trì ở mức 38-45 triệu ha. Châu Phi là châu lục có diện
tích trồng cao lương lớn nhất, nhưng lại có xu hướng giảm năm từ năm 2008-
18
2011 (27,70 triệu ha-19,56 triệu ha) sau tăng lên ở năm 2012 là 23,16 Tuy
nhiên năng suất cao lương lại có xu hướng tăng qua các năm ở châu lục này
tuy còn khá thấp so với thế giới dao động từ 8,95-10,62 tạ/ha, đạt cao nhất
vào năm 2011. Việc nâng cao năng suất cao lương đang ngày được quan tâm
nghiên cứu, có nhiều chương trình, dự án cải tiến kỹ thuật canh tác, lai tạo
giống cao lương mới đang được tiến hành.
Châu Mỹ, là châu lục đứng thứ 3 về diện tích trồng cao lương, nhưng lại
là châu lục có năng suất cao lương cao nhất. Diện tích cao lương giảm dần từ
năm 2008-2011 từ 7,0 triệu ha xuống còn 5,93 triệu ha và tăng lên ở năm 2012 là
6,18 triệu ha. Trái lại với diện tích giảm thì năng suất cao lương lại tăng từ 35,90
tạ/ha(2008) lên 37,92 tạ/ha (2010). Sản lượng đứng thứ 2 thế giới, tập trung chủ
yếu ở Mỹ, Mexico, Braxin, Argentina. Mỹ là quốc gia sản xuất cao lương lớn
thứ hai thế giới sau Nigeria năm 2009 Mỹ sản xuất trên 9,73 triệu tấn hạt trong
đó chủ yếu chế biến thức ăn chăn nuôi, 12% sản lượng cao lương phục vụ ngành
công nghiệp chế biến ethanol, đồng thời Mỹ cũng là quốc gia xuất khẩu cao
lương lớn nhất thế giới chiếm 80% sản lượng cao lương xuất khẩu của thế giới.
Sản lượng cao lương xuất khẩu của Mỹ tăng liên tục trong vòng 35 năm qua,
năm 2010 lượng cao lương xuất khẩu của Mỹ tăng 15% so với năm 2009. Trồng
cao lương để sản xuất ethanol sẽ là hướng đi mà quốc gia lựa chọn trong thời kỳ
khủng hoảng năng lượng như hiện nay, ở Mỹ cao lương được trồng chủ yếu ở
Kansas, Nebraska và Texas (NASS, 2007)
Châu Á cũng là châu lục trồng nhiều cao lương nhưng trong số 10 nước
có sản lượng cao nhất thế giới chỉ có Trung Quốc là đại diện của châu Á.