Nghiên cứu nguyên nhân đói nghèo và đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển kinh tế hộ tại thị trấn Thông Nông, huyện Thông Nông, tỉnh Cao Bằng. - Pdf 29

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NÔNG THỊ HIỆP Tên đề tài:
NGHIÊN CỨU NGUYÊN NHÂN ĐÓI NGHÈO VÀ
ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT TRIỂN
KINH TẾ HỘ TẠI THỊ TRẤN THÔNG NÔNG,
HUYỆN THÔNG NÔNG, TỈNH CAO BẰNG KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Kinh tế nông nghiệp
Khoa : Kinh tế & PTNT
Niên khóa : 2010 - 2014

Thái Nguyên, năm 2014
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM NÔNG THỊ HIỆP



Nông Thị Hiệp

Giảng viên hướng dẫn Thư ký hội đồng Th.S. Bùi Thị Thanh Tâm Th.S. Nguyễn Thị Châu

LỜI CẢM ƠN
Với quan điểm học đi đôi với hành, lý thuyết gắn liền với thực tiễn
nhằm giúp cho sinh viên nắm vững những kiến thức đã học và vận dụng có
hiệu quả vào thực tiễn mỗi sinh viên trước khi hoàn thành chương trình đào
tạo của nhà trường đều phải trải qua quá trình thực tập tốt nghiệp. Trong quá
trình nghiên cứu và viết luận văn tôi đã nhận được sự quan tâm hướng dẫn
giúp đỡ của nhiều tập thể, cá nhân trong và ngoài nhà trường.
Tôi xin chân thành cảm ơn sự quan tâm dạy bảo của các thầy cô giáo
khoa Kinh tế & Phát triển nông thôn trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên,
xin chân trọng cảm ơn sự giúp đỡ của UBND thị trấn Thông Nông và các hộ
dân tại đây đã giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập số liệu và kiểm nghiệm kết
quả nghiên cứu trong đề tài: “Nghiên cứu nguyên nhân đói nghèo và đề xuất
một số giải pháp nhằm phát triển kinh tế hộ tại thị trấn Thông Nông, huyện
Thông Nông, tỉnh Cao Bằng”.
Đặc biệt tôi xin được gửi lời cảm ơn tới cô giáo Th.S. Bùi Thị Thanh
Tâm. Đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo tận tình cho tôi trong quá trình thực tập
để tôi hoàn thành tốt luận văn này.
Trong quá trình thực tập mặc dù bản thân đã hết sức cố gắng nhưng do
thời gian có hạn, trình độ bản thân còn hạn chế và bước đầu làm quen với
công tác nghiên cứu nên bản khóa luận này không tránh khỏi những thiếu sót.
Tôi rất mong nhận được sự quan tâm đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo và
các bạn để bản khóa luận của tôi được hoàn thiện hơn.

20 CN Chăn nuôi
21 KHKT Khoa học kĩ thuật
22 XĐGN Xóa đói giảm nghèo
23 VAC Vườn - Ao - Chuồng
DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang

Bảng 1.1: Chuẩn mực xác định đói nghèo qua các thời kỳ từ năm 1939 - 2015 10

Bảng 3.1: Tình hình sử dụng đất đai của thị trấn Thông Nông năm 2011 - 2013 25

Bảng 3.2. Tình hình dân số và lao động của thị trấn Thông Nông năm 2013 26

Bảng 3.3. Kết quả một số cây nông nghiệp chính trên địa bàn thị trấn
Thông Nông năm 2011 – 2013 29

Bảng 3.4. Tình hình chăn nuôi của thị trấn Thông Nông năm 2011 – 2013 30

Bảng 3. 5. Tình hình nghèo tại thị trấn Thông Nông giai đoạn 2011 – 2013 32

Bảng 3.6: Phân nhóm hộ điều tra 34

Bảng 3.7: Thông tin cơ bản về nhóm hộ điều tra 34

Bảng 3.8: Tình hình đất đai phân theo nhóm hộ điều tra 36

Bảng 3.9: Các công cụ sản xuất của nhóm hộ đều tra 37

Bảng 3.10: Chi phí ngành trồng trọt theo nhóm hộ 38


2.2. Mục tiêu cụ thể 2

3. Ý nghĩa của đề tài 3

3.1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học 3

3.2. Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất 3

4. Bố cục của khóa luận 3

CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 4

1.1. Cơ sở lý luận 4

1.1.1. Khái niệm đói nghèo, giảm nghèo và chuẩn mực đánh gia đói nghèo 4

1.2. Cơ sở thực tiễn 11

1.2.1. Tình hình xóa đói giảm nghèo trên thế giới 11

1.2.2. Tình hình xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam 15

CHƯƠNG 2. ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU 20

2.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 20

2.1.1. Đối tượng nghiên cứu 20


3.2.4. Mức độ đầu tư chi phí cho sản xuất của các hộ điều tra 38

3.2.5. Kết quả sản xuất của nhóm hộ điều tra 41

3.2.6. Tình hình chi tiêu và tích lũy của nhóm hộ điều tra 43

3.3. Phân tích, đánh giá chung về kinh tế hộ ở thị trấn Thông Nông 45

3.3.1. Nguyên nhân nghèo đói của các hộ điều tra 45

3.3.2. Mong muốn của những hộ gia đình nghèo 55

3.3.3. Khó khăn và thuận lợi trong phát triển kinh tế hộ ở thị trấn Thông Nông 58
3.3.4. Những vấn đề đặt ra cần giải quyết trong phát triển kinh tế hộ tại thị
trấn Thông Nông 59

CHƯƠNG 4. CÁC GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ
TẠI THỊ TRẤN THÔNG NÔNG, HUYỆN THÔNG
NÔNG, TỈNH CAO BẰNG 61

4.1. Quan điểm định hướng phát triển kinh tế hộ tại thị trấn Thông nông,
huyện Thông Nông, tỉnh Cao Bằng 61

4.2. Một số giải pháp nhằm phát triển kinh tế hộ tại thị trấn Thông Nông,
huyện Thông Nông, tỉnh Cao Bằng 65

4.2.1. Giải pháp về vốn 65

4.2.2. Giải pháp về đất đai 66


với bao nỗi kinh hoàng. Thế nhưng hậu quả do những nạn đói gây ra cũng vô
cùng khủng khiếp. Nếu như các cuộc chiến tranh dù khốc liệt vô cùng nhưng
rồi trước sau cũng được giải quyết, nếu như những thảm họa do thiên tai, dịch
bệnh gây ra từng bước cũng sẽ được khắc phục thì vấn đề nghèo đói của nhân
loại lại là một vấn đề vừa cấp bách, vừa phức tạp lại như một căn bệnh kinh
niên khó bề chạy chữa.
Đói nghèo diễn ra trên tất cả các châu lục với những mức độ khác nhau.
Đặc biệt ở các nước đang phát triển, sự đói nghèo của dân cư đang là một vấn
đề nhức nhối rất cấp bách phải tháo gỡ nhưng cũng vô cùng khó khăn trong
việc thực hiện xóa đói giảm nghèo.
Những năm gần đây, nhờ những chính sách đổi mới của Đảng và Nhà
nước, nền kinh tế nước ta đã có những bước chuyển mình rất quan trọng. Đặc
biệt là vào năm 2006 nước ta đã chính thức là thành viên thứ 150 của tổ chức
thương mại lớn nhất thế giới WTO. Những nhân tố đó đã làm cho nền kinh tế
Việt Nam tăng trưởng nhanh, đại bộ phận đời sống nhân dân đã được nâng
lên một cách rõ rệt. Song, một bộ phận không nhỏ dân cư đặc biệt là dân cư ở
vùng cao, vùng sâu, vùng xa đang chịu cảnh nghèo đói, chưa đảm bảo được
những điều kiện tối thiểu của cuộc sống như ăn, ở, mặc, đi lại
Xoá đói giảm nghèo là một trong những chính sách xã hội cơ bản
hướng vào phát triển con người, nhất là người nghèo, tạo cơ hội cho họ tham
gia vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, để cho người nghèo

2
có cơ hội và điều kiện tiếp cận các dịch vụ xã hội phát triển sản xuất tự vươn
lên thoát khỏi nghèo luôn là điều mà Đảng và Nhà Nước ta luôn đặt ưu tiên
lên hàng đầu.
Cao Bằng là một tỉnh miền núi dân số có hơn 510.884 người với 13
huyện, thành phố. Có 199 xã, phường, thị trấn (6 phường, 14 thị trấn, 179 xã)
trong những năm qua thực hiện chương trình xóa đói giảm nghèo, với sự phấn
đấu nỡ lực không ngừng của các ngành, các cấp và nhân dân trong tỉnh Cao

3. Ý nghĩa của đề tài
3.1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học
- Củng cố lý thuyết cho sinh viên.
- Vận dụng và phát huy được các kiến thức đã học tập vào lĩnh vực
nghiên cứu khoa học.
- Nghiên cứu đề tài giúp cho sinh viên làm quen với một số phương
pháp nghiên cứu một đề tài khoa học cụ thể.
- Giúp sinh viên hiểu thêm về nhưng phương pháp học. Học lý thuyết
kết hợp với làm thực tế ứng dụng trong cuộc sống quan trọng như thế nào.
- Rèn luyện kỹ năng và trang bị thêm kinh nghiệm thực tế khi ra công tác.
- Nghiên cứu đề tài nhằm phát huy tính tự giác, chủ động học tập
nhiên cứu của sinh viên. Nâng cao tinh thần tìm tòi, học hỏi, sáng tạo và khả
năng vận dụng kiến thức vào tổng hợp, phân tích, đánh giá tình hình và định
hướng những ý tưởng trong điều kiện thực tế.
3.2. Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất
- Đề tài đưa ra một số khó khăn mà hộ nông dân đang gặp phải và có
thể thấy được nguyện vọng của dân, từ đó công tác xóa đói giảm nghèo đạt
hiệu quả cao hơn.
- Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở thực tiễn nhằm phát huy
những lợi thế giải quyết những khó khăn trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh
tế trong nề kinh tế thị trường.
- Mặt khác đề xuất một số giải pháp thực tế đối với chương trình xóa
đói giảm nghèo của địa phương.
4. Bố cục của khóa luận
- Mở đầu
- Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn
- Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
- Chương 3: Kết quả nghiên cứu
- Chương 4: Các giải pháp nhằm phát triển kinh tế cho hộ nghèo
- Kết luận và kiến nghị

quán của địa phương.

5
+ Hộ nghèo là tình trạng một số hộ gia đình chỉ thỏa mãn một phần tối
thiểu của cuộc sống và có mức sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng
đồng, xét trên mọi phương diện. [4]
Nghèo được chia thành các mức khác nhau: nghèo tuyệt đối, nghèo
tương đối hoặc nghèo có nhu cầu tối thiểu.
+ Nghèo tuyệt đối
Để có một cái nhìn tổng quan về các vấn đề của các nước đang phát
triển, Robert McNamara, khi là giám đốc của Ngân hàng Thế giới, đã đưa ra
khái niệm nghèo tuyệt đối. Ông định nghĩa khái niệm nghèo tuyệt đối như
sau: “Nghèo ở mức độ tuyệt đối là sống ở ranh giới ngoài cùng của tồn tại.
Những người nghèo tuyệt đối là những người phải đấu tranh để sinh tồn
trong các thiếu thốn tồi tệ và trong tình trạng bỏ bê và mất phẩm cách vượt
quá sức tưởng tượng của giới trí thức chúng ta’’.
Ngân hàng Thế giới xem thu nhập 1 đô la Mỹ/ngày theo sức mua tương
đương của địa phương so với (đô la thế giới) để thỏa mãn nhu cầu sống như là
chuẩn tổng quát cho nạn nghèo tuyệt đối. Trong những bước sau đó các trị
ranh giới nghèo tuyệt đối (chuẩn) cho từng địa phương hay từng vùng được
xác định, từ 2 đô la cho khu vực Mỹ La tinh và Carribean đến 4 đô la cho
những nước Đông Âu cho đến 14,40 đô la cho những nước công nghiệp.
(Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc 1997).
+ Nghèo tương đối
Trong những xã hội được gọi là thịnh vượng, nghèo được định nghĩa dựa
vào hoàn cảnh xã hội của cá nhân. Nghèo tương đối có thể được xem như là việc
cung cấp không đầy đủ các tiềm lực vật chất và phi vật chất cho những người
thuộc về một số tầng lớp xã hội nhất định so với sự sung túc của xã hội đó.
Nghèo tương đối có thể là khách quan, tức là sự hiện hữu không phụ
thuộc vào cảm nhận của những người trong cuộc. Người ta gọi là nghèo

- Trước hết, hộ là một tập hợp chủ yếu và phổ biến của những thành viên
có chung huyết thống, tuy cũng có cá biệt trường hợp thành viên của hộ không
phải cùng chung huyết thống (con nuôi, người tình nguyện và được sự đồng ý
của các thành viên trong hộ công nhận cùng chung hoạt động lâu dài ).
- Hộ nhất thiết là một đơn vị kinh tế (Chủ thể kinh tế), có nguồn lao
động và phân công lao động chung; có vốn và chương trình, kế hoạch sản
xuất kinh doanh chung, là đơn vị vừa sản xuất vừa tiêu dùng, có ngân quỹ

7
chung và được phân phối lợi ích theo thỏa thuận có tính chất gia đình. Hộ
không phải là một thành phần kinh tế đồng nhất, mà hộ có thể thuộc thành
phần kinh tế cá thể, tư nhân, tập thể, Nhà nước
- Hộ không đồng nhất với gia đình mặc dù cùng chung huyết thống bởi
vì hộ là một đơn vị kinh tế riêng, còn gia đình có thể không phải là một đơn vị
kinh tế (Ví dụ gia đình nhiều thế hệ cùng chung huyết thống, cùng chung một
mái nhà nhưng nguồn sinh sống và ngân quỹ lại độc lập với nhau
Về hộ nông dân, tác giả Frank Ellis định nghĩa “Hộ nông dân là các hộ
gia đình làm nông nghiệp, tự kiếm kế sinh nhai trên những mảnh đất của
mình, sử dụng chủ yếu sức lao động của gia đình để sản xuất, thương nằm
trong hệ thống kinh tế lớn hơn, nhưng chủ yếu đặc trưng bởi sự tham gia cục
bộ vào các thị trường và có xu hướng hoạt động với mức độ không hoàn hảo
cao”. [10]
Nhà khoa học Traianốp cho rằng “Hộ nông dân là đơn vị sản xuất rất
ổn định” và ông coi “Hộ nông dân là đơn vị tuyệt vời để tăng trưởng và phát
triển nông nghiệp”
Luận điểm trên của ông đã đực áp dụng rộng rãi trong chính sách nông
nghiệp tại nhiều nước trên thế giới, kể cả các nước phát triển. Đồng tình với
quan điểm trên của Traianốp, hai tác giả Mats lundahl và Tommy Bengtsson
bổ sung và nhấn mạnh thêm “Hộ nông dân là đơn vị sản xuất cơ bản”.
Ở nước ta, có nhiều tác giả đề cập đến khái niệm hộ nông dân. Theo

và đi vào chiều sâu, thì các hộ nông dân càng phụ thuộc nhiều hơn vào các hệ
thống kinh tế rộng lớn không chỉ trong phạm vi một vùng, một nước. Điều
này càng có ý nghĩa đối với các hộ nông dân nước ta trong tình hình hiện nay.
Tóm lại, có thể thấy kinh tế nông hộ là một hình thức cơ bản và tự chủ
trong nông nghiệp. Nó được hình thành và phát triển một cách khách quan,
lâu dài, dựa trên sự tư hữu các yếu tố sản xuất, là loại hình kinh tế có hiệu
quả, phù với sản xuất nông nghiệp, thích ứng, tồn tại và phát triển trong mọi
chế độ kinh tế xã hội.
1.1.1.3. Chuẩn mực xác định đói nghèo trên thế giới.
Phương pháp xác định đường đói nghèo do Tổng cục Thống kê, Ngân
hàng thế giới xác định và thực hiện trong các cuộc khảo sát mức số dân cư ở
Việt Nam (1992-1993 và năm 1997-1998).
Đường đói nghèo ở mức thấp gọi là đường đói nghèo về lương thực,
thực phẩm. Đường đói nghèo thứ hai ở mức cao gọi là đường đói nghèo chung
(bao gồm cả mặt hàng lương thực, thực phẩm và phi lương thực, thực phẩm).

9
Đường đói nghèo về lương thực, thực phẩm được xác định theo chuẩn
mà hầu hết các nước đang phát triển cũng như các tổ chức y tế thế giới và các
cơ quan khác đã xây dựng mức kcalo tối thiểu cần thiết cho một thể trạng con
người là 2.100 kcalo/người/ngày. Những người có mức chi thấp, chi tiêu dưới
mức chi cần thiết để đạt được lượng kcalo này gọi là người nghèo về lương
thực thực phẩm. [7]
Đường đói nghèo chung tính thêm chi phí cho các mặt hàng phi lương
thực thực phẩm. Tính cả chi phí này với đường đói nghèo về lương thực, thực
phẩm, ta có đường đói nghèo chung.
Chuẩn nghèo là một khái niệm động, nó biến động theo không gian và
thời gian. Về không gian nó biến đổi theo trình độ phát triển KT-XH của từng
vùng hay từng quốc gia. Ví dụ như ở Việt Nam, chuẩn nghèo thay đổi theo
vùng sinh thái khác nhau, đó là vùng đô thị, vùng nông thôn đồng bằng và

Vùng nông thôn, miền núi,
hải đảo.
Kg gạo/người/tháng 15
Vùng nông thôn, đồng bằng
trung du.
Kg/người/tháng 20
Vùng thành thị. Kg gạo/người/tháng 25
3. Giai đoạn 1997 – 2000
Vùng nông thôn, miền núi,
hải đảo
Đồng /tháng 55.000
Vùng nông thôn, đồng bằng
trung du.
Đồng /tháng 70.000
Vùng thành thị. Đồng /tháng 90.000
4. Giai đoạn 2001 – 2005
Vùng nông thôn, miền núi,
hải đảo
Đồng /tháng 80.000
Vùng nông thôn, đồng bằng
trung du.
Đồng/người/tháng 100.000
Vùng thành thị. Đồng/người/tháng 150.000
5. Giai đoạn 2006 – 2010
Khu vực nông thôn. Đồng/người/tháng 200.000
Khu vực thành thị. Đồng/người/tháng 260.000
6. Giai đoạn 2011 – 2015
Khu vực nông thôn. Đồng/người/tháng 400.000
Khu vực thành thị. Đồng/người/tháng 500.000
(Nguồn: Bộ Lao Động – Thương binh và Xã hội)

đến việc phát triển nông nghiệp nông thôn mà đi vào tập trung phát triển ở các
vùng đô thị, xây dựng các khu công nghiệp tập trung ở các thành phố lớn, thế
nhưng 60% dân số Hàn Quốc sống ở khu vực nông thôn, cuộc sống nghèo
đói, tuyệt đại đa số là tá điền, ruộng đất tập trung vào sở hữu của giai cấp địa
chủ, nhân dân sống trong cảnh nghèo đói tột cùng. Từ đó gây ra làn sóng di
dân tự do từ nông thôn vào thành thị để kiếm việc làm, chính phủ không thể
kiểm soát nổi, gây nên tình trạng mất ổn định chính trị - xã hội. Để ổn định
tình hình chính trị - xã hội, chính phủ Hàn Quốc buộc phải xem xét lại các

12
chính sách kinh tế - xã hội của mình, cuối cùng đã phải chú ý đến việc điều
chỉnh các chính sách về phát triển kinh tế - xã hội ở khu vực nông thôn và
một chương trình phát triển nông nghiệp nông thôn được ra đời gồm 4 nội
dung cơ bản:
- Mở rộng hệ thống tín dụng nông thôn bằng cách tăng số tiền cho hộ
nông dân vay.
- Nhà nước thu mua ngũ cốc của nông dân với giá cao.
- Thay giống lúa mới có năng suất cao.
- Khuyến khích xây dựng cộng đồng mới ở nông thôn bằng việc thành
lập các HTX sản xuất và các đội ngũ lao động để sửa chữa đường xá, cầu
cống và nâng cấp nhà ở.
Với những nội dung này, chính phủ Hàn Quốc đã phần nào giúp nhân
dân có việc làm, ổn định cuộc sống, giảm bớt tình trạng di dân các thành phố
lớn để kiếm việc làm. Chính sách này đã được thể hiện thông qua kế hoạch 10
năm cải tiến cơ cấu nông thôn nhằm cải tiến cơ cấu kinh tế nông thôn theo
hướng đa dạng hoá sản xuất nông nghiệp, từng bước đưa nền kinh tế phát
triển nhằm xoá đói giảm nghèo cho dân chúng ở khu vực nông thôn.
Tóm lại, Hàn Quốc đã trở thành 1 nước công nghiệp phát triển nhưng
chính phủ vẫn coi trọng những chính sách có liên quan đến việc phát triển
kinh tế nông nghiệp nông thôn nhằm xoá đói giảm nghèo cho dân chúng ở

kể cho nền kinh tế - xã hội Trung Quốc trong những năm qua.
• Kinh nghiệm xóa đói giảm nghèo của Braxin
Lập quỹ hỗ trợ cho các gia đình nghèo nhất: Ở Braxin, Quỹ gia đình
(Bolsa Familia) được chính phủ của tổng thống Luiz Inacio Lulu da Silva
thiết lập vào năm 2003 nhằm cung cấp một khoản lương cơ bản cho 7,5 triệu
gia đình nghèo nhất của Braxin (tương đương với 30 triệu dân). Mục đích của
Quỹ là cung cấp một mức thu nhập hàng tháng tính theo đầu người là dưới
100 reai/người/tháng cho 11,2 triệu gia đình (bằng một phần tư dân số Braxin)
cho đến cuối năm 2006. Đây là chương trình lớn nhất của một thế hệ mới các
chương trình xã hội ở châu Mỹ La Tinh, được gọi là các kế hoạch trợ cấp tiền
mặt có điều kiện. Mục tiêu của các kế hoạch này là giảm tình trạng nghèo của
ngày hôm nay, trong trường hợp của Braxin là bằng cách trợ cấp tới mức 95
reai mỗi tháng cho các gia đình nghèo (các chính quyền tiểu bang và địa
phương có thể tăng thêm mức lương trên tùy theo khả năng tài chính của các

14
chính quyền này) và ngăn chặn tình trạng tái nghèo trong tương lai bằng cách
ràng buộc nhiều điều kiện cho việc trợ cấp tiền mặt này: những người thụ
hưởng phải cho con họ đi tiêm ngừa, đến bệnh viện để theo dõi tình hình sức
khoẻ của chúng, và cho chúng tiếp tục đi học.
Bộ máy hành chính hiệu quả: Sự thành công của các kế hoạch mới này
nhờ có một bộ máy hành chính điều hành có hiệu quả. Ở Braxin, cơ cấu liên
bang bao gồm: 5.561 đơn vị quận huyện tự trị, việc thiết lập quỹ Bolsa
Familia ở đây không đơn giản. Ban đầu, tổng thống Lula gây rối nhiều hơn là
củng cố quỹ. Ông tạo ra hai bộ chống nghèo đói và chương trình trợ cấp tiền
mặt có điều kiện khác nữa. Bị chỉ trích nặng nề, chính phủ Braxin phải suy
nghĩ lại cách làm của mình ở bốn chương trình trợ cấp tiền mặt có điều kiện,
được họp lại thành ra quỹ Bolsa Familia. Bộ phát triển xã hội được thiết lập
để điều hành quỹ. Một quan chức của chính quyền đã cho biết là thời kỳ
chuyển tiếp của quỹ rất lộn xộn. Người ta quên đi việc kiểm tra chất lượng.

đi số tiền đã được chuyển giao. Kết quả là số học sinh bỏ học nửa chừng giảm
mạnh, và số học sinh đăng ký theo học bậc trung học tăng lên khả quan. [11]
1.2.2. Tình hình xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam
Sau 10 năm thực hiện “Chiến lược toàn diện về tăng trưởng và xóa đói,
giảm nghèo” (2002-2013) và 5 năm thực hiện Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP
của Chính phủ về “Chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối
với 62 huyện nghèo nhất trong cả nước (2008-2013), Việt Nam đã đạt được
những kết quả đáng mừng trong công tác xóa đói giảm nghèo.
Theo Báo cáo Đánh giá nghèo Việt Nam năm 2012 mới công bố của
Ngân hành thế giới World Bank, hơn 30 triệu người Việt Nam đã thoát khỏi đói
nghèo trong hai thập kỷ qua. Nghèo đói ở Việt Nam đã giảm nhanh chóng từ
60% hồi đầu những năm 1990 xuống 20,7% trong năm 2010. Việt Nam đã đạt
được tỷ lệ nhập học tiểu học và trung học cơ sở cao, lần lượt hơn 90% và 70%.
Theo đánh giá gần đây nhất của Tổ chức Nông lương Liên Hợp Quốc
FAO, Việt Nam là một trong những nước đạt được thành tích nổi bật trong
việc giảm số người bị đói từ 46,9% (32,16 triệu người) giai đoạn 1990 – 1992
xuống còn 9% (8,01 triệu người) trong giai đoạn 2010 – 2012, và đã đạt được
Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ 1 (MDG1) – hướng tới mục tiêu giảm một
nửa số người bị đói vào năm 2015.

16
• Kinh nghiệm xóa đói giảm nghèo của tỉnh Quảng Ninh
Là một tỉnh có nhiều lợi thế, tiềm năng về phát triển kinh tế theo hướng
công nghiệp - thương mại, dịch vụ và du lịch, không để cái khó, cái nghèo cản
trở mục tiêu phát triển kinh tế của tỉnh, Quảng Ninh đã chớp mọi thời cơ, vận
dụng linh hoạt các cơ chế chính sách nhằm giảm nghèo thông qua chương
trình xây dựng nông thôn mới. Tỷ lệ hộ nghèo đã giảm từ 4,89% năm 2011
xuống còn 3,69% cuối năm 2012.
Một kinh nghiệm quý của Quảng Ninh đó là tỉnh đã biến chủ trương
xóa đói giảm nghèo thành hành động chung của toàn xã hội, trong gần 3 năm

trên một đơn vị diện tích, góp phần xóa đói giảm nghèo cho người nông dân.
Nhờ đó, năm 2012 toàn huyện đã giảm từ 1.359 hộ nghèo xuống còn 1.003
hộ, hộ cận nghèo giảm từ 892 hộ xuống còn 751 hộ.
Có thể thấy ở Quảng Ninh, ý nghĩa của công tác xóa đói giảm nghèo đã
được biểu hiện rõ nét; Không chỉ có sự tham gia quyết liệt của các cấp chính
quyền địa phương. Đặc biệt, cần ghi nhận sự vào cuộc tích cực của nhiều DN
trên địa bàn tỉnh thông qua việc đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn, hỗ trợ
cho chương trình xây dựng nông thôn mới. Điển hình như: Công ty Cổ phần
xi măng Thăng Long ủng hộ 14.300 tấn xi măng chi các công trình xây dựng
cơ sở hạ tầng nông thôn; Công ty Cổ phần đầu tư xây dựng Việt Long triển
khai dự án rau an toàn tại huyện Quảng Yên với sự tham gia của 540 hộ dân;
Công ty Than Khe Chàm tiêu thụ hơn 300 tấn gạo cho nông dân huyện Đông
Triều; Công ty TNHH Thuấn Quỳnh - huyện Hải Hà thu mua 10 tấn chè
tươi/ngày của của 1.000 người dân tại 9 xã trên địa bàn huyện Hải Hà…
Ngoài ra, các DN còn đầu tư xây dựng chợ dân sinh, hỗ trợ xây dựng khuôn
viên nhà văn hóa, giúp hộ nghèo xây dựng nhà, đào tạo cho hàng trăm lao
động nông thôn… [12]
• Kinh nghiệm xóa đói giảm nghèo ở Bắc Giang
Theo Ông Ngô Biên Cương, Phó trưởng Ban Dân vận tỉnh ủy Bắc
Giang cho biết: Đến nay, toàn tỉnh đã huy động trên 2.500 tỷ đồng cho việc
xóa đói, giảm nghèo ở miền núi, vùng DTTS, trong đó tập trung vào một số
chương trình mục tiêu như Chương trình 135/CP, 134/CP; chính sách trợ
cước, trợ giá theo Nghị định 02 và 20 của Chính phủ…
Ngoài chính sách của Nhà nước, tỉnh Bắc Giang đã áp dụng nhiều biện
pháp sáng tạo như: Huy động nhân dân vùng thấp giúp đỡ nhân dân vùng cao,
đồng bào Kinh giúp đỡ đồng bào DTTS, hộ khá giúp hộ nghèo. Đồng thời vận
động các cơ quan, doanh nghiệp trong tỉnh như Công ty phân đạm và hóa chất


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status