ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN THỊ THU HIỀN
Tên đề tài:
ĐÁNH GIÁ VAI TRÒ CỦA ĐỘI NGŨ KHUYẾN NÔNG CƠ SỞ
TẠI HUYỆN YÊN BÌNH - TỈNH YÊN BÁI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Hệ chính quy
Lớp : 42 - Khuyến nông
Chuyên ngành : Khuyến nông
Khoa : Kinh tế và PTNT
Khoá học : 2010 – 2014
Thái Nguyên, năm 2014
Thái Nguyên, năm 2014
LỜI CAM ĐOAN
Trong thời gian thực tập tại huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái, tôi đã
chấp hành đầy đủ, nghiêm chỉnh mọi nội quy, quy định của cơ quan.
Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong đề tài: “Đánh
giá vai trò của đội ngũ khuyến nông cơ sở tại huyện Yên Bình - tỉnh Yên
Bái” là trung thực và chưa được sử dụng trong bất kỳ công trình nghiên cứu
khoa học nào. Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ trong việc thực hiện đề
tài này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong đề tài đã được chỉ rõ
nguồn gốc.
Yên Bái, tháng 05 năm 2014
Sinh viên Nguyễn Thị Thu Hiền
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khoá luận này trước tiên tôi xin trân trọng cảm ơn Ban
giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa KT&PTNT, cảm ơn các thầy cô
giáo đã truyền đạt cho tôi những kiến thức quý báu trong suốt quá trình học
tập và rèn luyện tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên. Tôi xin trân
trọng cảm ơn sự hướng dẫn tận tình của Thạc sỹ Bùi Thị Minh Hà đã giúp đỡ
tôi trong suốt thời gian thực tập để tôi hoàn thành khoá luận tốt nghiệp này.
Xuất phát từ nguyện vọng bản thân và được sự giúp đỡ của Ban giám hiệu
nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa Kinh tế và PTNT tôi về thực tập tại Trạm
khuyến nông huyện Yên Bình để hoàn thành đề tài: “Đánh giá vai trò của đội
ngũ khuyến nông cơ sở tại huyện Yên Bình - tỉnh Yên Bái”. Tôi cũng xin
chân thành cảm ơn các đồng chí cán bộ Phòng NN&PTNT, Trạm Khuyến
nông huyện Yên Bình, các cán bộ của trạm, các cán bộ khuyến nông cơ sở
cùng toàn thể các hộ nông dân ở các xã đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn
cơ sở 37
Bảng 4.8: Đánh giá của nông dân về kiến thức của CBKN cơ sở 39
Bảng 4.9: Các hoạt động khuyến nông của huyện Yên Bình trong ba năm
(2011 - 2013) 40
Bảng 4.10: Các buổi tập huấn của của đội ngũ CBKN cơ sở tại 42
huyện Yên Bình trong năm 2013 42
Bảng 4.11: Các mô hình trình diễn diễn ra trên huyện Yên Bình năm 2013 44
Bảng 4.12: Đánh giá về sự tham gia mô hình của nông dân 46
Bảng 4.13: Chuyển giao tiến bộ KHKT thông qua tiếp xúc cá nhân 48
Bảng 4.14: Các giống mới được các CBKN cơ sở cung cấp cho nông dân
trong năm 3 năm (2011 -2013) 50
Bảng 4.15: Các nội dung thông tin tuyên truyền của đội ngũ KNV cơ sở
huyện Yên Bình 52
Bảng 4.16: Các tiến bộ KHKT được các cán bộ khuyến nông trực tiếp đưa
vào sản xuất 54
DANH MỤC CÁC HÌNH TRONG KHÓA LUẬN
Trang
Hình 2.1: Vai trò của CBKN đối với người nông dân 10
Hình 4.1: Biểu đồ cơ cấu các dân tộc huyện Yên Bình 31
Hình 4.2: Trình độ chuyên môn của đội ngũ CBKN cơ sở huyện Yên Bình
giai đoạn 2011 - 2013 33
MỤC LỤC
Trang
PHẦN 1. ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1.1. Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2. Mục tiêu nghiên cứu 2
2.2.3. Đội ngũ khuyến nông viên cơ sở tại Việt Nam 14
2.2.4. Quy định của Trạm khuyến nông huyện Yên Bình chức năng nhiệm vụ
của đội ngũ KNV cơ sở 16
PHẦN 3. ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU 18
3.1. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 18
3.1.1. Đối tượng nghiên cứu 18
3.1.2. Phạm vi nghiên cứu 18
3.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu 18
3.2.1. Địa điểm nghiên cứu 18
3.2.2. Thời gian nghiên cứu 18
3.3. Nội dung nghiên cứu 18
3.4. Phương pháp nghiên cứu 19
3.4.1. Phương pháp chọn mẫu 19
3.4.2. Phương pháp thu thập số liệu 19
PHẦN 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 21
4.4.1. Những thuận lợi, khó khăn của đội ngũ khuyến nông cơ sở huyện Yên
Bình 57
4.4.2. Giải pháp nâng cao vai trò đội ngũ CBKN cơ sở huyện Yên Bình 59
PHẦN 5. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 60
5.1. Kết luận 60
5.2. Kiến nghị 60
TÀI LIỆU THAM KHẢO 62
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Tên từ
Nghĩa
Nghĩa
BVTV : Bảo vệ thực vật
CBKN : Cán bộ Khuyến nông
CLB : Câu lạc bộ
CP : Chính Phủ
ĐH : Đại học
HTX : Hợp tác xã
KN : Khuyến nông
KHKT : Khoa học kỹ thuật
KNV : Khuyến nông viên
LB : Liên bộ
NĐ : Nghị định
vững là những cán bộ, nhân viên, tình nguyện viên hệ thống Khuyến nông
Việt Nam. Trải qua trên 19 năm hoạt động, kể từ ngày 02/03/1993, khi Chính
phủ ban hành Nghị định 13/CP về công tác khuyến nông, hệ thống khuyến
nông Việt Nam đã được hình thành, củng cố và ngày càng phát triển một cách
toàn diện. Sau 12 năm thực hiện nghị định 13/CP và nhận thấy chưa đáp ứng
được yêu cầu của công tác khuyến nông, ngày 26/04/2005, Chính phủ đã
chính thức ban hành Nghị định 56/2005/NĐ-CP về khuyến nông, khuyến ngư.
Nghị định 56/2005/NĐ-CP ra đời đã quy định rõ hơn về hệ thống tổ
chức khuyến nông (nhất là tổ chức khuyến nông cơ sở), mục tiêu, nguyên tắc,
chính sách và nội dung hoạt động khuyến nông (bổ sung thêm nội dung tư
vấn, dịch vụ khuyến nông và hợp tác quốc tế về khuyến nông), mở rộng đối
tượng tham gia đóng góp và hưởng thụ khuyến nông nhằm thực hiện mục tiêu
xã hội hoá công tác khuyến nông.
Sau 5 năm thực hiện nghị định 56/2005/NĐ-CP vẫn còn nhiều bất cập.
Do vậy, ngày 08/01/2010, Chính phủ ban hành Nghị định số 02/2010/NĐ-CP
về khuyến nông để sửa đổi, bổ sung một số nội dung
.
Trong nghị định này
quy định cụ thể hơn về nội dung hoạt động khuyến nông, các chính sách, có
2
chế quản lý của tổ chức khuyến nông các cấp. Đặc biệt bổ sung các chính
sách đối với đội ngũ CBKN cơ sở.
Huyện Yên Bình là huyện miền núi nằm ở phía Đông nam của tỉnh
Yên Bái, huyện có diện tích mặt nước nhiều (riêng diện tích mặt nước hồ
Thác Bà trên 15.000 ha) nên khí hậu vùng này mang tính chất vùng hồ: mùa
đông ít lạnh, mùa hè mát mẻ, thuận lợi cho việc phát triển nông, lâm nghiệp,
trồng rừng phòng hộ và rừng nguyên liệu; trồng cây công nghiệp chè, cao su, cây
ăn quả và là tiềm năng để phát triển ngành nuôi trồng thuỷ sản, phát triển du lịch
- Củng cố kiến thức từ cơ sở đến chuyên ngành đã học trong
trường, ứng dụng kiến thức đó vào thực tiễn.
- Rèn luyện các kỹ năng thu thập xử lý số liệu, viết báo cáo.
1.3.2. Ý nghĩa thực tiễn
Đề tài đánh giá một cách tổng quát thực trạng vai trò của đội ngũ
các CBKN cơ sở tại huyện Yên Bình. Do đó có thể làm tài liệu tham
khảo cho Trạm khuyến nông trong việc rà soát, bố trí lại đội ngũ CBKN
cơ sở trên địa bàn huyện và làm tài liệu cho các khoá học tiếp theo.
4
PHẦN 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
học bằng cách thực hành”.
5
Qua rất nhiều khái niệm trên chúng ta có thể tóm tắt lại và có thể hiểu
khuyến nông theo hai nghĩa:
Theo nghĩa rộng: Khuyến nông là khái niệm chung để chỉ tất cả những
hoạt động hỗ trợ sự nghiệp xây dựng và phát triển nông thôn. Khuyến nông
ngoài việc hướng dẫn cho nông dân tiến bộ kỹ thuật mới, còn phải giúp họ
liên kết lại với nhau chống lại thiên tai, tiêu thụ sản phẩm, hiểu biết các chính
sách, luật lệ nhà nước, giúp nông dân phát triển khả năng tự quản lý, điều
hành tổ chức các hoạt động xã hội như thế nào cho ngày càng tốt hơn [6].
Theo nghĩa hẹp: Khuyến nông là một tiến trình giáo dục không chính
thức mà đối tượng của nó là người nông dân. Tiến trình này đem đến cho
nông dân những thông tin và những lời khuyên giúp họ giải quyết những vấn
đề hoặc khó khăn trong cuộc sống. Khuyến nông hỗ trợ phát triển các hoạt
động sản xuất, nâng cao hiệu quả canh tác để không ngừng cải thiện chất
lượng cuộc sống của nông dân và gia đình họ [6].
Theo cục Khuyến nông - khuyến nông Việt Nam: Khuyến nông là một
hệ thống giáo dục nông nghiệp nhằm đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp, nâng
cao đời sống vật chất tinh thần cho nông dân, xây dựng và phát triển nông
thôn mới. Như vậy khuyến nông là cách giáo dục ngoài học đường cho nông
dân. Khuyến nông là quá trình vận động, quảng bá, khuyến cáo, cho nông
dân theo nguyên tắc tự nguyện, không áp đặt; đồng thời đó là quá trình tiếp
thu kiến thức và kỹ năng một cách dần dần và tự giác của nông dân [6].
2.1.2. Mục tiêu của tổ chức khuyến nông
Mục tiêu của khuyến nông là làm thay đổi cách đánh giá, nhận thức của
nông dân trước những khó khăn trong cuộc sống. Khuyến nông không chỉ
nhằm mục tiêu phát triển kinh tế mà còn hướng tới sự phát triển toàn diện của
bản thân người nông dân và nâng cao chất lượng cuộc sống ở nông thôn.
Tập trung từ trên xuống Phi tập trung, mang tính tham gia
Làm việc trên phạm vi rộng làm việc tại địa bàn nhỏ
Chỉ chuyển giao kiến thức Cùng nhau làm nảy sinh ra kiến thức
Trực tiếp đạt được mục tiêu Không trực tiếp
(Nguyễn Hữu Thọ, 2007)
Những quan điểm trên đều có mặt tích cực và mặt hạn chế riêng, không
có quan điểm nào là luôn đúng cả, cách tốt nhất là khi xác định mục tiêu cho
chương trình khuyến nông cần căn cứ vào tình hình cụ thể và điều kiện cho
phép của chương trình đó. Trong lựa ch
ọn ta cần chú ý một số quan đ
iểm sau:
- Ai là người có quyền đưa ra những quyết định đó?
- Ai là người nhận thức được thông tin tốt nhất để đưa ra những quyết
định này?
7
- Sự lựa chọn của người đưa ra quyết định có động cơ gì? Động cơ để
thực hiện có tác động đến cộng đồng và cá nhân người nông dân như thế nào?
2.1.3. Nội dung hoạt động của khuyến nông
Nghị định 56/2005/NĐ-CP của Chính phủ ra ngày 26/4/2005 về công
tác khuyến nông, khuyến ngư cũng nêu rõ: Nội dung hoạt động khuyến nông,
khuyến ngư bao gồm: (1) Thông tin, tuyên truyền; (2) Bồi dưỡng, tập huấn và
đào tạo; (3) Xây dựng mô hình và chuyển giao khoa học công nghệ; (4) Tư
vấn và dịch vụ; (5) Hợp tác quốc tế về khuyến nông, khuyến ngư.
Ngày 08/01/2010, Chính phủ ban hành Nghị định số 02/2010/NĐ-CP
về khuyến nông để sửa đổi, bổ sung một số nội dung thay thế cho Nghị định
56/2005/NĐ-CP. Những quy định mới của Nghị định 02 so với Nghị định 56:
a. Nghị định 02/2010/NĐ-CP của Chính phủ về khuyến nông (gọi tắt là
Nghị định 02) được đánh giá là: kế thừa, phát huy tinh thần các Nghị định đã
g. Về tổ chức, Nghị định 02 quy định rõ tên của các đơn vị khuyến
nông các cấp ở địa phương, khắc phục được tình trạng nhiều tên gọi của các
đơn vị khuyến nông trong khi có cùng chức năng, nhiệm vụ. Nghị định 02 còn
quy định rõ: các xã đặc biệt khó khăn có ít nhất 2 khuyến nông viên [21].
2.1.4. Chức năng của khuyến nông
- Đào tạo, tập huấn nông dân: tổ chức các khoá tập huấn, xây dựng
mô hình, tham quan, hội thảo đầu bờ cho nông dân.
- Thúc đẩy, tạo điều kiện cho người nông dân đề xuất các ý tưởng,
sáng kiến và thực hiện thành công các ý tưởng sáng kiến của họ.
- Trao đổi, truyền bá thông tin: bao gồm việc xử lý, lựa chọn các
thông tin cần thiết, phù hợp từ các nguồn khác nhau để phổ biến cho
nông dân giúp họ cùng nhau chia sẻ và học tập.
- Giúp nông dân giải quyết các vấn đề khó khăn tại địa phương:
tạo điều kiện giúp họ có thể phát hiện, nhận biết và có thể phân tích
được các vấn đề khó khăn trong sản xuất, đời sống và bàn bạc cùng nông
dân tìm biện pháp giải quyết.
- Giám sát và đánh giá hoạt động khuyến nông: Dân biết, dân bàn,
dân làm, dân kiểm tra đánh giá và dân hưởng lợi.
- Phối hợp với nông dân tổ chức các thử nghiệm phát triển kỹ thuật
mới, hoặc thử nghiệm kiểm tra tính phù hợp của kết quả nghiên cứu trên
hiện trường, từ đó làm cơ sở cho việc khuyến khích lan rộng.
- Hỗ trợ nông dân về kinh nghiệm quản lý kinh tế hộ gia đình, phát
triển sản xuất quy mô trang trại.
9
- Tìm kiếm và cung cấp cho nông dân các thông tin về giá cả, thị
trường tiêu thụ sản phẩm.
2.1.5. Vai trò của cán bộ khuyến nông
Hệ thống khuyến nông Việt Nam đang ngày càng được củng cố và phát
10Hình 2.1: Vai trò của CBKN đối với người nông dân
Trong các chương trình tập huấn thì người CBKN sẽ đóng vai trò là
người trực tiếp đào tạo chuyển giao các kỹ thuật mới, người tổ chức lớp học,
người lãnh đạo, người bạn chia sẻ các kỹ thuật, kinh nghiệm mình có được,
người tạo điều kiện cho các học viên trao đổi kinh nghiệm lẫn nhau. Trong
các chương trình nghiên cứu chuyển giao công nghệ thì người CBKN là
người môi giới giữa các trung tâm nghiên cứu và nông dân để đưa các TBKT
áp dụng vào thực tiễn sản xuất. Bên cạnh đó, CBKN đồng thời cũng là người
cung cấp, người thông tin hai chiều, người cố vấn cho bà con nông dân về
thông tin thị trường tiêu thụ nông sản phẩm. Ngoài ra, CBKN còn là người
hành động cùng nông dân trong các mô hình vì khuyến nông không chỉ nói
mà có phân hoá ở mọi vùng sinh thái nông nghiệp, các nhóm hộ nông dân
khác nhau tuỳ theo điều kiện sản xuất (đất đai, vốn, lao động, công cụ,…), có
cách làm ăn khác nhau, có các biện pháp kỹ thuật khác nhau. Vì vậy, CBKN
Cán bộ
khuyến
nông
Người
cung cấp
Người
thông tin
Người
quản lý
Người
liệu; (3) Ấn định mục tiêu cho chương trình khuyến nông tại địa phương; (4)
Lập kế hoạch thực hiện trước mắt và lâu dài; (5) Đề ra phương pháp thực
hiện; (6) Phổ biến, vận động nông dân, tổ chức đoàn thể tham gia chương
trình khuyến nông, các điểm trình diễn, tham quan, cung cấp tư liệu, tin bài
cho cơ quan thông tin đại chúng; (7) Đánh giá kết quả và viết báo cáo chương
trình khuyến nông.
2.2. Cơ sở thực tiễn của đề tài
2.2.1. Vài nét về tổ chức hoạt động khuyến nông trên thế giới
Trên thế giới hoạt động khuyến nông ra đời rất sớm, bắt đầu từ thời kỳ
Phục hưng (thế kỷ XIV) khi mà khoa học bắt đầu ứng dụng lý thuyết vào sản xuất.
Khởi đầu là giáo sư người Pháp Rabelais, từ năm 1930 ông đã cải tiến
phương pháp giảng dạy, đưa quan điểm giáo dục nông nghiệp “học đi đôi với
hành” vào giảng dạy, ngoài việc giảng dạy lý thuyết ở lớp ông đã cho học trò
12
tiếp xúc với sản xuất và tự nhiên. Ông đã chỉ cho họ biết cách phân biệt giống
cây và giống con, kỹ thuật nuôi cừu, bò, gà
Đến năm 1777, giáo sư người Thụy Sỹ Heirich Dastalozzi thấy rằng
muốn mở mang nhanh nền nông nghiệp, giúp người dân nghèo cải thiện được
cuộc sống thì phải đào tạo chính con em họ có trình độ và nắm được kỹ thuật tiến
bộ, biết làm thành thạo một số công việc như quay sợi bông, dệt vải, cày bừa…
Tuy nhiên, đến năm 1843, hoạt động mang tính chất khuyến nông mới
có biểu hiện rõ nét. Đó là hoạt động của Ủy ban Nông nghiệp của thành phố
New York (Hoa Kỳ). Ủy ban này đã đề nghị các giáo sư giảng dạy ở các
trường Đại học Nông nghiệp và các viện nghiên cứu thường xuyên xuống cơ
sở để hướng dẫn, phổ biến khoa học kỹ thuật giúp đẩy mạnh sản xuất nông
nghiệp ở các vùng nông thôn [6].
Hoạt động khuyến nông ở Châu Âu và Bắc Mỹ đã sớm đi vào chính
quy và chuyên nghiệp. Năm 1907, 42 trường Đại học ở 39 Bang của Mỹ đã
chức quan “Khuyến nông sứ” là viên quan chuyên chăm lo khuyến khích phát
triển nông nghiệp. Năm 1789, vua Quang Trung ban bố chiếu khuyến nông
sau khi đại phá quân Thanh nhằm phục hồi lại ruộng bị bỏ hoang. Chiếu
khuyến nông đã thu được nhiều kết quả to lớn. Chỉ sau 3 năm hầu hết ruộng
hoang đã được khôi phục, sản xuất phát triển, bổ sung chế độ cấp công điền.
Năm 1960 ở miền Nam (dưới thời Mỹ - ngụy) thành lập “Nha khuyến
nông” trực thuộc bộ nông nghiệp cải cách điền địa nông mục. Trong khi đó ở
miền Bắc, Bộ nông nghiệp thường xuyên đưa sinh viên xuống giúp các HTX
làm công tác Đông xuân, chọn giống lúa, trồng ngô - khoai, làm bèo dâu, tiêm
phòng cho gia súc - gia cầm,…
Từ năm 1964, Bộ nông nghiệp chính thức có chủ trương thành lập các
đoàn chỉ đạo, đưa sinh viên mới tốt nghiệp xuống cơ sở (các HTX, nông lâm
trường) xây dựng các mô hình và mở các lớp tập huấn cho cán bộ chủ chốt
của địa phương về công tác sản xuất, công tác thuỷ lợi.
Năm 1981, Ban bí thư Trung ương Đảng đã ra Chỉ thị 100 chính thức
thực hiện chủ trương “khoán sản phẩm cuối cùng đến nhóm và người lao
động”. Đến tháng 12/1986, Đại hội VI của Đảng cộng sản Việt Nam đã nhìn
thẳng vào sự thật với tinh thần “đổi mới”, rút ra bài học hành động phù hợp
với quy luật khách quan để thực hiện chủ trương đổi mới cơ chế quản lý, đưa
nông nghiệp đi lên sản xuất hàng hoá.
Ngày 05/04/1988, Bộ Chính trị đã ra Nghị quyết 10 về “đổi mới quản
lý trong nông nghiệp” nhằm giải phóng sản xuất trong nông thôn đến từng hộ
nông dân, khẳng định hộ xã viên là đơn vị kinh tế tự chủ ở nông thôn. Từ đó,
nhờ việc nắm vững và thực hiện Nghị quyết 10 (Khoán 10) đã đem lại những
tác dụng tích cực cho sản xuất.
14
Nghị định 13/CP của Chính phủ ra ngày 02/03/1993 về công tác
khuyến nông, Thông tư 02/LB/TT hướng dẫn việc tổ chức hệ thống khuyến
15
tuyển chọn và quản lý, đồng thời có sự hướng dẫn chuyên môn của khuyến
nông cấp huyện.
Về tính chuyên trách có thể phân ra làm hai loại: Khuyến nông chuyên
trách và khuyến nông bán chuyên trách:
Khuyến nông chuyên trách là cán bộ khuyến nông làm công tác khuyến
nông do Nhà nước tuyển dụng và trả lương. Đây là lực lượng nòng cốt trong
chuyển giao tiến bộ KHKT về sản xuất nông nghiệp ở nông thôn thông qua
các hình thức tập huấn, xây dựng mô hình trình diễn, tổ chức hội nghị, tham
quan và thông tin khuyến nông [5]. Hiện nay, hệ thống khuyến nông chuyên
trách có gần 17.200 người, trong đó: cấp Trung ương có 90 người; cấp tỉnh:
khoảng 1.900 người; cấp huyện: xấp xỉ 4.000 người; cấp xã, lực lượng
khuyến nông viên cơ sở: xấp xỉ 11.200 người; cộng tác viên khuyến nông cấp
thôn, bản: xấp xỉ 18.000 người [12].
Khuyến nông bán chuyên trách là các thành viên thuộc hội phụ nữ,
đoàn thanh niên, hội nông dân, hội làm vườn, các nhà doanh nghiệp,… những
thành viên này ngoài chức năng chuyên môn của mình cũng gián tiếp hoặc
trực tiếp làm công tác khuyến nông nhưng ở mức độ và phạm vi nhất định [5].
Đội ngũ cán bộ khuyến nông cơ sở (bao gồm Khuyến nông xã, Khuyến
nông viên thôn bản). Cấp xã hiện có 51 tỉnh, thành phố có mạng lưới khuyến
nông viên cơ sở, trong đó: Khuyến nông viên cơ sở chuyên trách từ 1-2
người/ xã; mỗi thôn, bản có 01 cộng tác viên khuyến nông (bán chuyên trách).
Ngoài ra toàn quốc hiện có gần 10.000 Câu lạc bộ khuyến nông cấp xã với
khoảng 300.000 nông dân tham gia [12].
Tại tỉnh Yên Bái, sau vài năm đưa KNV về xã, những tiến bộ KHKT
bấy lâu chỉ nằm trên sách vở đã được người nông dân tiếp thu và áp dụng
thành công qua mỗi bước chân của những CBKN, năng suất lúa và hoa màu ở
các xã đã tăng mạnh, giúp nhiều hộ nông dân có thu nhập cao và ổn định. Nhu