ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
TRẦN VĂN TIẾN Tên đề tài:
"THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN CHÈ
TẠI XÃ PHỤC LINH – ĐẠI TỪ - THÁI NGUYÊN”KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Khuyến Nông
Khoa : Kinh tế & PTNT
Khóa học : 2010 - 2014
Thái Nguyên - 2014
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
thức chuyên môn, rèn luyện tư cách đạo đức, phẩm chất, tác phong của người
cán bộ khuyến nông.
Được sự đồng ý của Ban giám hiệu trường Đại học Nông Lâm Thái
Nguyên, Ban chủ nhiệm Khoa Kinh tế & PTNT, tôi tiến hành nghiên cứu đề
tài: “Thực trạng và giải pháp phát triển chè tại xã Phục Linh – Đại Từ -
Thái Nguyên”.
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trường Đại học Nông Lâm
Thái Nguyên nói chung và các thầy cô giáo trong Khoa Kinh tế & PTNT nói
riêng, đã hướng dẫn, truyền đạt kiến thức cho tôi trong suốt thời gian học tập
tại nhà trường và tạo điều kiện cho tôi nghiên cứu đề tài này. Đặc biệt tôi xin
chân thành cảm ơn thầy giáo Ths. Lành Ngọc Tú đã giành nhiều thời gian chỉ
bảo, hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành đề tài.
Qua đây tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các bác, các cô, các
chú cùng toàn thể các anh chị tại UBND xã Phục Linh và toàn thể bạn bè, gia
đình và người dân địa phương đã tận tình giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi
để tôi hoàn thành đề tài.
Do thời gian có hạn và năng lực của bản thân còn nhiều hạn chế nên
khóa luận của tôi không tránh được những thiếu sót. Vì vậy, tôi rất mong
nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo để đề tài của tôi được
hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 8 tháng 6 . năm 2014
Sinh viên Trần Văn Tiến
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Từ viết tắt
Bảng 4.7: Giá bán chè qua các năm 38
Bảng 4.8: Tình hình nhân lực sản xuất chè các hộ điều tra năm 2014 39
Bảng 4.9: Diện tích đất trồng chè của các hộ điều tra năm 2014
40
Bảng 4.10: Tình hình trang bị công cụ chế biến chè của hộ trồng chè 41
Bảng 4.11: Lợi nhuận gộp/sào chè Trung du thâm canh tại Phục Linh (năm
2013 )- phương thức canh tác của nông dân 42
Bảng 4.12: Lợi nhuận gộp/sào chè LDP1 thâm canh tại Phục Linh (năm
2013)- phương thức canh tác của nông dân 43
Bảng 4.13: Chi phí tính bình quân cho 1 ha chè KTCB và Kinh Doanh của
các hộ điều tra 44
Bảng 4.14: Chỉ tiêu đánh giá khó khăn trong sản xuất chè của người dân xã
Phục Linh 47
DANH MỤC HÌNH
Hình 1: Sơ đồ chế biến chè xanh 34
Hình 2: Sơ đồ kênh tiêu thụ chè xã Phục Linh 36
Hình 3: Sơ đồ chuỗi cung cấp chè loại 1 từ nông dân và thương lái tới người
tiêu dùng 37
Hình 4: Sơ đồ chuỗi cung cấp chè loại 2 từ nông dân và thương lái tới người
tiêu dùng 37
Hình 5: Sơ đồ chuỗi cung cấp chè loại 3 từ nông dân và thương lái tới người
tiêu dung 38
MỤC LỤC
PHẦN 1. MỞ ĐẦU 1
1.1.Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2. Mục đích nghiên cứu của đề tài 2
4.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội của xã Phục Linh 25
4.2. Thực trạng sản xuất chè của xã Phục Linh 29
4.2.1. Cơ cấu giống chè 29
4.2.2. Thực trạng về diện tích, năng suất, sản lượng 30
4.2.3. Thực trạng về chế biến và tiêu thụ chè 34
4.3. Thực trạng sản xuất và kinh doanh chè ở những hộ điều tra 39
4.3.1. Nguồn lực của hộ 39
4.3.2. Nguồn đất sản xuất của hộ 40
4.3.3. Phương tiện sản xuất chè
41
4.3.4. Lợi nhuận 42
4.3.5. Tình hình đầu tư thâm canh cây chè 44
4.4. Tác động của việc phát triển cây chè đến các vấn đề xã hội 45
4.5. Thuận lợi và khó khăn trong sự phát triển chè ở xã Phục Linh trong
những năm qua 46
4.5.1. Thuận lợi 46
4.5.2 Khó khăn 47
4.6 Giải pháp phát triển chè ở xã Phục Linh những năm tới 51
4.6.1 Giải pháp kinh tế 51
4.6.2 Giải pháp về kỹ thuật 51
4.6.3 Giải pháp về chính sách 52
PHẦN 5. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 54
5. 1 Kết luận 54
5.2 Kiến nghị 55
TÀI LIỆU THAM KHẢO 57
Theo các chuyên gia về chè thì Việt Nam là một trong những nước có
điều kiện tự nhiên thích hợp cho cây chè phát triển, đặc biệt là các tỉnh trung
du, miền núi như Phú Thọ, Hà Giang, Thái Nguyên, Yên Bái, Tuyên Quang.…
2
Phục Linh là một xã thuộc huyện miền núi khó khăn, người dân sống
chủ yếu dựa vào nông nghiệp và cây công nghiệp, trong đó cây chè giữ vai
trò chủ đạo trong đời sống kinh tế của người dân. Tuy vậy, do nhiều
nguyên nhân cả về sản xuất, chế biến, tiêu thụ, cả về chính sách đầu tư,
khuyến khích phát triển, cây chè vẫn chưa thực sự trở thành một cây công
nghiệp mũi nhọn của xã Phục Linh nhưng chưa đúng với tiềm năng sẵn có
của nó. Ngoài ra do người sản xuất còn bị ảnh hưởng bởi tư tưởng tập quán
sản xuất truyền thống, manh mún chưa tập chung, chậm thích ứng với xu
thế kinh tế thị trường, chưa có sự đầu tư thoả đáng cho cây chè, đến nay
hầu hết các diện tích chè của xã được trồng bằng giống từ nhiều chục năm
trước đây nên chất lượng, sản lượng thấp, một số nơi chưa được quan tâm
chăm sóc đúng kỹ thuật vì thế nên giá trị kinh tế còn thấp, khả năng cạnh
tranh trên thị trường kém nhất là thị trường nước ngoài. Mặt khác cho thấy
cùng giống nhau về điều kiện tự nhiên mà xã Tân Linh có sự phát triển chè
vượt bậc so với xã Phục Linh, ở đó chè đã mang lại hiệu quả kinh tế rất cao
cho người dân giúp đời sống của họ được nâng lên, trong khi đó đối với xã
Phục Linh thì chè vẫn chưa mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người dân.
Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn ở xã Phục Linh - huyện Đại Từ - tỉnh
Thái Nguyên, để có những cơ sở đánh giá đúng thực trạng và thấy rõ được
tồn tại trong việc phát triển cây chè từ đó đưa ra các giải pháp phát triển
sản xuất, chế biến, tiêu thụ chè ở xã Phục Linh nhằm tạo ra bước phát triển
nhanh vững chắc cho cây chè trong thời kỳ tới là nhiệm vụ rất quan trọng
và cấp thiết. Vì vậy tôi chọn đề tài: "Thực trạng và giải pháp phát triển
chè tại xã Phục Linh- huyện Đại Từ - tỉnh Thái Nguyên".
1.2. Mục đích nghiên cứu của đề tài
1.2.1. Mục đích nghiên cứu
giá thực trạng sản xuất và tiêu thụ sản phẩm chè trên địa bàn xã
- Xác định được các yếu tố gây ảnh hưởng (thuận lợi và khó khăn) chủ
yếu trong quá trình sản xuất, tiêu thụ chè của người dân. Từ đó nắm bắt được
nhu cầu, mong muốn của người sản xuất, người tiêu dùng và đề ra các giải
pháp giải quyết các nhu cầu của họ. Góp phần thúc đẩy mở rộng, phát triển
diện tích trồng chè trên địa bàn xã
- Đưa ra được thông tin để phát triển chè trong những năm tiếp theo của
xã nói riêng và trên địa bàn huyện nói chung
4
PHẦN 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Cơ sở khoa học
2.1.1. Ý nghĩa của việc phát triển sản xuất chè
Cây chè là cây công nghiệp dài ngày có giá trị kinh tế cao. Nó là một
loại cây trồng có vị trí quan trọng trong đời sống sinh hoạt cũng như phát
triển kinh tế và văn hoá con người, sản xuất chè tạo ra những sản phẩm đáp
ứng nhu cầu giải khát của đông đảo nhân dân ở nhiều quốc gia.
Chè có nhiều Vitamin giúp thanh lọc cơ thể, giải khát, có tác dụng giảm
thiểu một số bệnh thường gặp về máu, do đó chè đã trở thành đồ uống phổ
thông trên thế giới [1] . Tại một số nước thói quen uống nước chè đã tạo
thành một nền văn hóa truyền thống, một tập quán. Hiện nay khoa học tiến bộ
đã đi sâu vào nghiên cứu tìm ra được một số hoạt chất quý có trong cây chè
như: Cafein, Vitamin A, B1 Đặc biệt trong cây chè còn chứa Vitamin C là
loại Vitamin dùng để điều chế thuốc tân dược vì thế chè không những là loại
cây giải khát mà chè còn có tên trong danh sách cây y dược [9].
Đối với các hộ sản xuất kinh doanh sản phẩm chè thì cây chè mang lại
thu nhập ổn định, cao hơn nhiều so với nhiều loại cây trồng khác, bởi cây chè
có tuổi thọ cao có thể sinh trưởng, phát triển và cho sản phẩm có giá trị cao và
đều đặn trong khoảng 50 - 60 năm, do vậy nó sẽ tạo ra một nguồn thu đều đặn
chuyên gia cho thấy đất trồng chè tốt phải đạt yêu cầu sau: độ pH từ 4,5 -
5,5; hàm lượng mùn 2% - 4%; độ sâu ít nhất 0,6 - 1m; mực nước ngầm
phải dưới 1m; kết cấu của đất tơi xốp sẽ giữ được nhiều nước, thấm nước
nhanh, thoát nước tốt, có địa hình dốc từ 10 - 20
0
[1].
+ Thời tiết khí hậu
Độ ẩm, nhiệt độ và lượng mưa là những yếu tố ảnh hưởng lớn đến cây
chè. Để cây chè phát triển tốt thì nhiệt độ bình quân là 22 - 28
0
C, lượng mưa
trung bình là 1500 - 2000mm/năm nhưng phải phân đều cho các tháng, ẩm độ
không khí từ 80 - 85%, ẩm độ đất từ 70 - 80%, cây chè là cây ưa sáng tán xạ,
thời gian chiếu sáng trung bình 9 giờ/ngày [1].
Nhiệt độ không khí ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình sinh trưởng và
phát triển của cây chè. Cây chè ngừng sinh trưởng khi nhiệt độ không khí
dưới 10
0
C hay trên 40
0
C. Mùa đông cây chè tạm ngừng sinh trưởng, mùa
xuân bắt đầu phát triển trở lại. Thời vụ thu hoạch chè dài, ngắn, sớm, muộn
6
tuỳ thuộc chủ yếu vào điều kiện nhiệt độ. Tuy nhiên các giống chè khác nhau
có mức độ chống chịu khác nhau.
Cây chè vốn là cây thích nghi sinh thái vùng cận nhiệt đới bóng râm,
ẩm ướt. Lúc nhỏ cây cần ít ánh sáng, một đặc điểm cũng cần lưu ý là các
giống chè lá nhỏ ưu sáng hơn các giống chè lá to.
* Yếu tố thuộc về kỹ thuật
+ Ảnh hưởng của giống chè
- Che nắng: Theo các chuyên gia về chè, nếu thời tiết khô hạn kéo dài
thì cây bóng mát được trồng 170 - 230 cây/ha che phủ được 20 - 30% diện
tích thì độ ẩm sẽ cao [1]. Qua nghiên cứu về sự tác động của ánh sáng tới cây
chè và quang hợp tốt nhất trong điều kiện ánh sáng tán xạ. Vì vậy mà các
nước như Ấn Độ, Nhật Bản thường áp dụng trồng cây che bóng mát cho cây
chè, nên năng suất và sản lượng chè thường cao.
- Mật độ gieo trồng: Để có năng suất cao cần đảm bảo mật độ trồng
chè, mật độ trồng chè phụ thuộc vào các giống, độ dốc, điều kiện cơ giới hoá.
Nhìn chung tuỳ điều kiện giống, đất đai, cơ giới hoá, khả năng đầu tư mà có
khoảng cách mật độ khác nhau. Nhưng xu thế hiện nay là khai thác sản lượng
theo không gian do đó có thể tăng cường mật độ một cách hợp lý cho sản
lượng sớm, cao, nhanh khép tán, chống xói mòn và cỏ dại trong nương chè,
qua thực tế cho thấy nếu mật độ vườn đảm bảo từ 18000 đến 20000 cây/ha thì
sẽ cho năng suất và chất lượng tốt, chi phí phải đầu tư tính cho một sản phẩm
là đạt mức thấp nhất.
- Đốn chè: Đốn chè cũng ảnh hưởng rất lớn đến sản lượng và chất
lượng chè, đốn chè là cắt đi đỉnh ngọn của các cành chè, ức chế ưu thế sinh
trưởng đỉnh và kích thích các trồi ngủ, trồi nách mọc thành lá, cành non mới
tạo ra một bộ khung tán khoẻ mạnh, làm cho cây luôn ở trạng thái sinh trưởng
dinh dưỡng hạn chế sự ra hoa, kết quả có lợi cho việc ra lá, kích thích sinh
trưởng búp non, tăng mật độ búp và trọng lượng búp, tạo bộ khung tán to có
nhiều búp, vừa tầm hái tăng hiệu suất lao động, cắt bỏ những cành già tăm
hương, bị sâu bệnh thay bằng những cành non mới sung sức hơn giữ cho cây
chè có bộ lá thích hợp để quang hợp [1].
+ Các dạng đốn chè:
- Đốn phớt: Hai năm sau khi đốn tạo hình, mỗi năm đốn trên vết đốn cũ
5cm sau đó mỗi năm đốn cao thêm 3-4cm, khi đốn vết đốn cuối cùng cao
8
70cm thì hàng năm đốn thêm 1-2cm. Sự thay đổi cách đốn sẽ làm tăng sản
lượng và chất lượng chè [1].
9
tỷ trọng chi phí chế biến trong sản phẩm và nâng cao chất lượng chế biến.
Như vậy sản phẩm chè của ta mới đủ điều kiện để đầu tư trở lại phát triển
ngành chè.
* Điều kiện xã hội
Sản xuất chè chịu ảnh hưởng lớn của điều kiện kinh tế xã hội, cụ thể là
cơ sở hạ tầng, hệ thống đường giao thông đi lại, hệ thống điện, hệ thống tưới
tiêu, khâu tiêu thụ sản phẩm và đặc biệt là xây dựng các nhà máy, các cơ sở
hiện đại chế biến chè.
Các vấn đề nhân công lao động, các chính sách đầu tư khuyến khích
phát triển, các chính sách vĩ mô của Nhà nước cho cây chè đều có tác động
đến sự phát triển của cây chè. Ngoài ra kinh nghiệm và truyền thống sản xuất
còn ảnh hưởng rất lớn tới chất lượng của sản phẩm chè. Nếu các vấn đề trên
được giải quyết triệt để sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất chè phát triển.
+ Thị trường
Thị trường là yếu tố quan trọng và có tính quyết định đến sự tồn tại của
cơ sở sản xuất kinh doanh chè, của các đơn vị sản xuất trong nền kinh tế thị
trường: mỗi nhà sản xuất, mỗi cơ sở sản xuất kinh doanh và mỗi cá nhân đều
phải trả lời 3 câu hỏi của kinh tế học đó là: sản xuất cái gì, sản xuất như thế
nào và sản xuất cho ai. Câu hỏi sản xuất cái gì được đặt lên hàng đầu, mang
tính định hướng. Để trả lời được câu hỏi này người sản xuất phải tìm kiếm thị
trường, tức là xác định nhu cầu có khả năng thanh toán của thị trường đối với
hàng hoá mà họ sẽ sản xuất ra. Thị trường đóng vai trò là khâu trung gian nối
giữa sản xuất và tiêu dùng [11].
Khi tìm kiếm được thị trường, người sản xuất phải lựa chọn phương
thức tổ chức sản xuất như thế nào cho phù hợp, sao cho lợi nhuận thu được
là tối đa. còn việc giải quyết vấn đề sản xuất cho ai, đòi hỏi phải nghiên
cứu kỹ được thị trường, xác định rõ được khách hàng, giá cả và phương
thức tiêu thụ.
Muốn vậy phải xem xét quy luật cung cầu trên thị trường. Ngành chè
Ngoài yêu cầu về chất lượng chè nguyên liệu, thì công tác tổ chức, chế
biến, quy trình chế biến cũng ảnh hưởng tới chất lượng chè thành phẩm. Hạch
toán được giá thành từ đó quyết định được mức giá bán trên thị trường sao
cho phù hợp. Hiện nay ngành chè Việt Nam đang có những bước tiến đáng kể
trong khâu chế biến, nhiều công ty, doanh nghiệp được thành lập, hay chuyển
đổi thành các công ty cổ phần tham gia liên kết với nước ngoài đưa vào sử
dụng những dây chuyền hiện đại, công suất lớn đã đáp ứng được phần nào
yêu cầu của quá trình sản xuất chè.
11
+ Hệ thống chính sách vĩ mô của Nhà nước
Thành tựu về kinh tế của Việt Nam hơn 10 năm qua là do nhiều nhân tố
tác động, trong đó phải kể đến sự đóng góp tích cực của đổi mới quản lý kinh
tế vĩ mô. Sự đổi mới này được diễn ra trong tất cả các ngành, các lĩnh vực sản
xuất. Ngành chè cũng như các ngành sản xuất khác, muốn mở rộng quy mô và
chất lượng trong sản xuất kinh doanh, nhất thiết phải có hệ thống chính sách
kinh tế thích hợp nhằm tạo dựng mối quan hệ hữu cơ giữa các nhân tố với
nhau để tạo hiệu quả kinh doanh cao nhất. Kết quả sản xuất phụ thuộc rất
nhiều vào chính sách kinh tế, một chính sách kinh tế không phù hợp sẽ kìm
hãm phát triển của ngành, ngược lại một chính sách thích hợp sẽ kích thích
sản xuất phát triển.
2.1.4. Những chỉ tiêu đánh giá về kết quả và hiệu quả kinh tế trong quá
trình sản xuất chè
* Năng suất cây trồng (N)
Là khối lượng sản phẩm thu được của từng loại cây trồng trên một đơn
vị diện tích nhất định (1ha) trong một chu kỳ sản xuất cụ thể.
Công thức: N =
S
Q
Trong khi đó các nước xuất khẩu chè cũng tăng sản lượng chè xuất
khẩu lên. Danh sách 5 nước xuất khẩu chè lớn nhất thế giới năm 2013 dẫn đầu
là Kenya: 396.641 tấn, Sri Lanka: 318.329 tấn, Trung Quốc: 299.789 tấn và
Việt Nam cũng là 1 trong 5 nước xuât khẩu chè lớn trên thế giới[8].
Hiện nay tiêu thụ chè trên thế giới dang có xu hướng ra tăng cụ thể:
Tại thị trường Mỹ, mặc dù kinh tế đang trong thời kỳ suy giảm nhưng
nhu cầu tiêu thụ chè không những không giảm mà còn tăng mạnh. Người tiêu
dùng Mỹ đã hạn chế mua những đồ uống đắt tiền như cà phê, nước trái cây,
nước ngọt mà thay vào đó là tiêu dùng các sản phẩm rẻ hơn như chè, đặc
biệt là những loại chè có chất lượng trung bình.
Tại thị trường châu Âu, các nước Đức, Anh, Nga đều có xu hướng tăng
nhu cầu tiêu dùng chè. Ngay từ những tháng đầu năm 2013, tại các thị trường
này, người dân đã có xu hướng chuyển từ các đồ uống khác sang tiêu dùng
các sản phẩm từ chè như các loại chè truyền thống, chè uống liền, chè chế
biến đặc biệt. Như tại Nga (một trong những nước tiêu thụ chè lớn trên thế
giới), với mức tiêu thụ trung bình khoảng hơn 1 kilôgam chè/người/năm.
Các thị trường khác như Ai Cập, Iran, Iraq nhu cầu tiêu dùng chè
cũng tăng.
13
Như vậy, có thể thấy nhu cầu tiêu dùng chè tại các nước phát triển đang
chuyển dần từ các sản phẩm chè thông thường sang các sản phẩm chè uống
liền và chè chế biến đặc biệt trong khi tại các nước Tây Á và châu Á vẫn thích
dùng các sản phẩm chè truyền thống.
Bảng 2.1: Diện tích, năng suất, sản lượng chè của một số nước
trên thế giới năm 2013
STT
Tên nước
Diện tích
(ha)
16,42
82.100
6 Kenya 111.000
35,73
396.641
7 Việt Nam 120.000
14.57
174.900
(Nguồn: Theo thống kê của FAO năm 2013)
2.2.2. Tình hình sản xuất và tiêu thụ chè ở Việt Nam
Hiện Việt Nam có khoảng 700 nhà máy sản xuất chè với gần 6 triệu
người dân kiếm sống bằng việc trồng và sản xuất chè. Dù là nước sản xuất
chè lớn thứ 5 trên thế giới và 80% sản lượng chè của Việt Nam phục vụ cho
các thị trường xuất khẩu nhưng giá thành và chất lượng chè Việt Nam còn
tương đối thấp so với các quốc gia khác. Do đó, để đảm bảo vị thế trên thị
trường và phát triển hơn nữa, các nhà sản xuất chè Việt Nam cần phải nâng
cao đồng bộ chất lượng chè, hiệu quả của tất cả các quy trình trong toàn bộ
chuỗi sản xuất, hiện đại hóa máy móc để nâng cao năng suất và giảm giá
thành sản phẩm. Đặc biệt, ngành chè đã thiết lập được nhiều vùng chè chất
lượng cao như: Lâm Đồng, Lạng Sơn, Sơn La, Lào Cai, Cao Bằng Đồng
thời, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã cho phép khảo nghiệm khu
vực hoá trên diện rộng 7 giống chè chất lượng cao như: Bát Tiên, Kim Tuyên,
giới từ mấy thập niên qua, nhưng thời gian gần đây mới được các nhà nhập,
xuất khẩu biết đến qua biểu tượng chè ba lá, tên giao dịch là VINATEA [8].
Trong năm 2013 giá xuất khẩu chè của Việt Nam tăng 4% so với năm
2012. Tuy nhiên so với giá xuất khẩu chè của thế giới thì giá chè của Việt
Nam vẫn ở mức thấp
.
15
Bảng 2.2: Tốp 10 thị trường xuất khẩu của Việt Nam 2013
Nước
Năm 2012 Năm 2013
Năm 2013 so
với cùng kỳ
năm trước(%)
Lượng
(tấn)
Trị giá
(USD)
Lượng
(tấn)
Trị giá
(USD)
Lượng
Trị giá
Tổng 146.708
224.589.666
+4,49
Nga 13.896
21.614.800
11.748
19.251.300
-15,46
-10,93
Trung
Quốc
14.632
19.307.247
14.011
18.989.666
-4,24
-1,64
Indonêsia
3.807
8.027.844
+0,93
+3,08
Arập xê
út
2.782
6.809.974
2.283
5.659.168
-17,94
-16,9
Ba Lan 4.083
4.849.635
4.139
5.570.366
7.200 tấn. Hiện nay trong tỉnh có 59 làng nghề và 44 đơn vị, doanh nghiệp, HTX
sản xuất, chế biến, tiêu thụ chè, còn lại là sản xuất nhỏ theo quy mô nông hộ [12].
Diện tích chè giống mới tại tỉnh Thái Nguyên hiện nay gần 7.500 ha,
chiếm 40,2% diện tích chè toàn tỉnh. Chủ trương của tỉnh trong năm 2013 và
những năm tiếp theo là hạn chế mở rộng diện tích trồng mới, tập trung thâm
canh, cải tạo thay thế diện tích chè cũ bằng các giống chè chất lượng cao, ổn
định, phù hợp với điều kiện địa phương, phấn đấu đến năm 2015 tỷ lệ chè
giống mới đạt 60% diện tích.
Năm 2013, toàn tỉnh có kế hoạch trồng thay thế 1.258 ha chè, năng suất
trung bình 110 tạ/ha, sản lượng chè búp tươi đạt 190.000 tấn. Để hoàn hoàn
thành kế hoạch đề ra, tỉnh tiếp tục hỗ trợ bà con nông dân 100% giá cây chè
giống; tăng cường hỗ trợ đào tạo tập huấn sản xuất chè an toàn; hỗ trợ chứng
nhận sản xuất chè an toàn đối với các mô hình dự án (hỗ trợ 100% chi phí
chứng nhận lần đầu, 50% lần thứ 2) [13].
Với mục tiêu đẩy mạnh sản xuất, chế biến chè theo hướng nâng cao chất
lượng, giá trị và hiệu quả kinh tế, tỉnh Thái Nguyên đang triển khai quy hoạch
vùng sản xuất chè an toàn; áp dụng quy trình thực hành sản xuất nông nghiệp
tốt “GAP”, từ khâu sản xuất đến khâu chế biến thành phẩm cuối cùng, gắn
quy trình sản xuất với việc được chứng nhận bởi các tổ chức chứng nhận
trong nước và quốc tế (VietGAP, GlobalGAP, Uzt Certified…). Năm 2011
Thái Nguyên có 6 nhóm hộ, với 42 ha chè được chứng nhận. Năm 2012 Thái
Nguyên có thêm 15 nhóm hộ với 141 ha chè được chứng nhận. Theo kế
hoạch, năm 2013 sẽ cấp giấy chứng nhận VietGAP trên 300 ha chè, trong đó
thực hiện chứng nhận lần đầu cho 5 nhóm hộ, quy mô 146,7 ha, sản lượng
ước 1.713 tấn với 394 hộ nông dân tham gia
Với tổng diện tích khoảng 19.000 ha, tỉnh Thái Nguyên hiện là tỉnh có
sản lượng chè lớn nhất cả nước đạt 190.000 tấn/năm và trà đã trở thành đặc
sản nổi tiếng của tỉnh Thái Nguyên
Thái Nguyên phấn đấu đến năm 2015 toàn tỉnh có 60% diện tích chè
giống mới, sản lượng có thể đạt 200.000 tấn trở lên có nhiều làng nghề và
thông ….)
- Để chè phát triển và mang lại hiệu quả kinh tế cao, nâng cao đời sống
cho người dân chinh quyền địa phương cần phải chú trọng đến thị trường, xây