Thực trạng và giải pháp xóa đói giảm nghèo cho người dân tại xã Nà Khương, huyện Quang Bình, tỉnh Hà Giang. - Pdf 29



I HC THI NGUYấN
TRNG I HC NễNG LM
LNG TH HNG
Tờn ti:
Thực trạng và giải pháp xóa đói giảm nghèo cho ngời dân
tại xã Nà Khơng, huyện Quang Bình, tỉnh Hà Giang

khóa luận tốt nghiệp ĐạI HọC H o to : Chớnh quy
Chuyờn ngnh : Phỏt trin nụng thụn
Lp : K42 - PTNT
Khoa : KT&PTNT
Khoỏ hc : 2010-2014
Ging viờn hng dn: PGS. TS. Dng Vn Sn


Sinh viên
Lùng Thị HằngDANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

BHYT : Bảo hiểm y tế
CS-XH : Chính sách xã hội
CNH- HĐH : Công nghiệp hóa- hiện đại hóa
ĐBKK : Đặc biệt khó khăn.
HĐND : Hội đồng nhân dân
KHKT : Khoa học kỹ thuật
ILO : Tổ chức lao động quốc tế
LĐ-TB & XH : Lao động thương binh và xã hội
NHCSXH : Ngân hàng chính sách xã hội
NHNN & PTNT : Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn
PTSX : Phương tiện sản xuất
PTKT- XH : Phát triển kinh tế xã hội
Tr.đ : Triệu đồng
THCS : trung học cơ sở
THPT : Trung học phổ thông
UBND : Ủy ban nhân dân
USD : Đô la Mỹ
WB : Ngân hàng thế giới
XĐGN : Xóa đói giảm nghèo
1.1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài 1
1.2.1. Mục tiêu chung 2
1.2.2. Mục tiêu cụ thể 2
1.3. Ý nghĩa của đề tài 3
1.3.1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu 3
1.3.2.Ý nghĩa thực tiễn sản xuất 3
PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
2.1. Cơ sở lý luận 4
2.1.1. Những vấn đề cơ bản về đói nghèo và XĐGN 4
2.1.2 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu 8
2.2. Cơ sở thực tiễn 9
2.2.1.Hoạt động XĐGN trên thế giới 9
2.2.2. Những thành tựu và kinh nghiệm trong công tác giảm nghèo của một số nước
trên thế giới 10
PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24
3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 24
3.1.1. Đối tượng nghiên cứ 24
3.1.2. Phạm vi nghiên cứu 24
3.2. Nội dung nghiên cứu 24
3.3. Phương pháp nghiên cứu 24
3.3.1. Thu thập thông tin thứ cấp 24
3.3.2. Thu thập thông tin sơ cấp 25
3.3.3. Phương pháp xử lý và phân tích số liệu 26
PHẦN 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 27
4.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của xã Nà Khương 27
4.1.1. Điều kiện tự nhiên 27
4.1.2. Điều kiện kinh tế- xã hội 31
4.2. Thực trạng đời sống và nghèo đói của người dân Xã Nà Khương 48
4.2.1. Thực trạng nghèo đói người dân 48
4.2.2. Thực trạng về các yếu tố sản xuất 50


PHẦN 1
MỞ ĐẦU

1.1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Đối với tất cả các nước trên thế giới, đói nghèo luôn là vấn đề được xã
hội quan tâm. Ở các nước phát triển, dù có mức sống cao song vẫn luôn tồn
tại tình trạng phân hóa giàu nghèo. Còn ở những nước đang phát triển với thu
nhập trung bình và thấp, trong đó bao gồm cả Việt Nam, thì một bộ phận
không nhỏ dân cư vẫn sống ở mức nghèo khổ, đặc biệt còn có những người
sống trong hoàn cảnh rất khó khăn vẫn chịu tình trạng thiếu đói, không đủ ăn
trong khi đó đây là nhu cầu thiết yếu của con người.
Mức độ đói nghèo cũng có sự chênh lệch khác nhau giữa các vùng
miền trong cả nước do những đặc điểm khác nhau về điều kiện tự nhiên, kinh
tế, xã hội. Trong đó, đói nghèo ở khu vực miền núi, vùng sâu vùng xa trầm
trọng hơn các khu vực miền xuôi. Tình trạng đó gây ảnh hưởng rất xấu tới
chất lượng cuộc sống của người dân vùng núi. Trong những năm gần đây,
được Đảng và Nhà nước ta đã giành nhiều sự quan tâm, nhiều chủ trương
chính sách tích cực giúp xóa đói giảm nghèo (XĐGN) cho vùng núi và đã đạt
kết quả nhất định. Song thực tế, tình hình đói nghèo nơi đây vẫn còn khá
nhiều bởi những chính sách này chưa thực sự hoàn thiện và phù hợp với tình
hình địa phương và do đó sự tác động của chúng tới việc khắc phục đói nghèo
miền núi chưa thực sự hiệu quả.
XĐGN cũng như chữa bệnh, điều cốt lõi là phải tìm ra được đâu là
nguyên nhân dẫn đến tình trạng nghèo đói? Trong đó, nguyên nhân nào là
nguyên nhân chính? Từ đó đề ra những giải pháp đúng đắn, hiệu quả nhất
nhằm giúp người dân xóa nghèo.
Nà khương là xã vùng III của huyện Quang Bình cách trung tâm huyện
lỵ 31km về phía Tây nam. Phía Đông giáp với xã Tân Phượng, huyện Lục yên
tỉnh Yên Bái; phía Nam giáp với xã Xuân Thượng, huyện Bảo Yên, tỉnh Lào

1.2.1. Mục tiêu chung
Nhằm tìm hiểu đánh giá hiện trạng thực hiện mục tiêu XĐGN trên địa
bàn, những thực trạng về các chương trình XĐGN tại xã và đưa ra một số giải
pháp chủ yếu cho các hoạt động XĐGN nhằm từng bước đưa xã thoát nghèo
một cách bền vững.
1.2.2. Mục tiêu cụ thể
- Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của địa phương. 3

- Đánh giá thực trạng đời sống và nghèo đói của người dân tại địa bàn
nghiên cứu.
- Tìm hiểu nguyên nhân đói nghèo của người dân tại địa bàn nghiên cứu.
- Đề xuất giải pháp nhằm góp phần xóa đói giảm nghèo cho cộng đồng
địa phương.
1.3. Ý nghĩa của đề tài
1.3.1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu
- Bổ sung thêm kiến thức về đói nghèo đã được học về lý thuyết trong
nhà trường.
- Bổ sung thêm kiên thức về thực trạng và xác định nguyên nhân
đói nghèo.
- Có được cái nhìn tổng thể về thực trạng đói nghèo của cộng đồng
người dân trên địa bàn.
- Đề tài cũng được coi như một tài liệu tham khảo cho nhà trường,
khoa, các cơ quan trong ngành và sinh viên các khóa tiếp theo.
1.3.2.Ý nghĩa thực tiễn sản xuất
Đề tài cơ sở để có những định hướng, giải pháp nhằm XĐGN cho địa
phương nghiên cứu và áp dụng vào một số địa phương có điều kiện tương tự.


+ Theo khía cạnh khác: Nghèo là sự phản ánh trình độ phát triển kinh tế
xã hội trong từng giai đoạn lịch sử, trong phạm vi một quốc gia, một khu vực,
một vùng [3].
2.1.1.2. Các quan điểm đánh giá đói nghèo
- Sẽ không có chuẩn nghèo nào chung cho tất cả các nước, vì nó phục
thuộc vào sự phát triển kinh tế- xã hội của từng vùng từng quốc gia. 5

- Phương pháp thông dụng để đánh giá mức độ nghèo là xác định mức
thu nhập có thể đáp ứng nhu cầu tối thiểu cho cuộc sống của con người, sau
đó xác định xem ở trong nước hay vùng có bao nhiêu người có mức thu nhập
ở mức đó. Tuy nhiên phương pháp lượng hóa nhu cầu tối thiểu ở mỗi nước để
biểu hiện đường ranh giới đói nghèo cũng khác nhau.
- Trên thế giới, các nước thường đưa ra những chỉ số thu nhập khác
nhau của mình. Tuy nhiên thu nhập quốc dân tính theo đầu người chỉ là một
trong những căn cứ để đo mức độ phát triển chung của một số nước so với các
nước khác. Chỉ số thu nhập có tính chất tương đối và có hạn chế nhất định,
không phải chỉ số trung bình cao về thu nhập quốc dân (GDP) là hết đói
nghèo. Thực tế trên thế giới không thiếu gì những quốc gia tư bản chủ nghĩa
có trình độ phát triển cao, phải có thu nhập bình quân đầu người rất cao song
cũng chính ở đó đang diễn ra cảnh đói nghèo và mất công bằng xã hội gay
gắt. Cho đến nay, tiêu chuẩn thu nhập quốc dân bình quân đầu người đang
được sử dụng ngày càng phổ biến để đánh giá trình độ phát triển của một
quốc gia. XĐGN là tìm con đường phát triển tốt nhất, là làm tăng lên không
ngừng mức sống và chất lượng cuộc sống của dân cư theo mục tiêu công bằng
xã hội. Để phân tích nước nghèo, nước giàu của quốc gia bằng mức thu nhập
bình quân đầu người trên năm để đánh giá thực trạng giàu- nghèo của các
nước ở cấp độ sau:

đương 55.000 đồng).
-Vùng nông thôn đồng bằng, trung du: dưới 20kg/người/tháng (tương
đương 70.000 đồng).
- Vùng thành thị: Dưới 25kg/người/tháng (tương đương 90.000 đồng).
 Lần 4 (giai đoạn 2001- 2005) (Quyết định số 1143/2000/QĐ-
LĐTBXH) về việc điều chỉnh chuẩn nghèo( không áp dụng chuẩn đói)
- Vùng nông thôn miền núi, hải đảo: 80.000 đồng/người/tháng.
-Vùng nông thôn đồng bằng: 100.000 đồng/người/tháng.
- Vùng thành thị: 150.000 đồng/người/tháng.
 Lần 5: Theo tiêu chí mới (giai đoạn 2006- 2010) (Quyết định số
170/2005/QĐ-TTg)
- Vùng nông thôn: 200.000 đồng/người/tháng.
- Vùng thành thị: 260.000 đồng/người/tháng.
 Lần 6: (2011- 2015) theo quyết định số 09/2011/QĐ- TTg ngày
30/01/2011 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành chuẩn hộ nghèo,
hộ cận nghèo áp dụng cho giai đoạn 2011- 2015.
- Vùng nông thôn: 400.000 đồng/người/tháng.
- Vùng thành thị: 500.000 đồng/người/tháng. 7

Với cách đánh giá mức chuẩn nghèo đói theo thu nhập như trên tuy đã
có tiến bộ và định mức thu nhập được quy thành giá trị, dễ so sánh nhưng vẫn
còn một số hạn chế là: Không phản ánh được chỉ tiêu, tổng hợp mức sống của
người nghèo (như tình trạng nhà cửa, tiện nghi sinh hoạt, y tế, giáo dục và
mức hưởng thụ các dịch vụ cơ bản khác): không phản ánh được mức cân đối
giữa chuẩn mực so với đời sống thực của người nghèo.
Mỗi vùng mỗi địa phương quy định chuẩn nghèo khác nhau tùy thuộc
vào điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của địa phương theo thời điểm nhất định. Ở

tưởng như không liên quan, đó là môi trường và đạo đức xã hội. Lối sống thấp
cộng với lối du canh du cư đã tồn tại từ lâu đời của đồng bào miền núi làm
cho rừng bị tàn phá ngày một nặng nề hơn. Còn ở những nơi không có rừng
để tàn phá thì nghèo đói, thiếu việc làm nên nảy sinh tự phát dòng di dân ra
thành phố, khu công nghiệp cửa khẩu biên giới để kiếm sống. Mức độ di
chuyển này ngày càng tăng, là nguồn gốc mất an ninh trật tự và lây lan các tệ
nạn xã hội, kể cả phạm tội.
“Vì vậy trách nhiệm của thế giới là phải làm giảm nạn nghèo khổ.
Điều đó vừa là mệnh lệnh của đạo lý, vừa là cái tất yếu để có được sự bền
vững của môi trường.[1]
2.1.2 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu
2.1.2.1. Các chỉ tiêu phản ánh thực trạng nghèo đói
 Số hộ nghèo và tỷ lệ hộ nghèo trong toàn xã
 Thu nhập của hộ
Bao gồm toàn bộ giá trị sản phẩm và các nguồn thu tính được của hộ,
được dùng để chi trả cho đời sống và tích lũy. Để phản ánh chính các được
mức độ nghèo đói và thực trạng đời sống của hộ, tôi nghiên cứu chỉ tiêu thu
nhập bình quân đầu người theo tháng.
 Hệ thống các chỉ số
Chỉ số phát triển con người Human Development Index (HDI), bao
gồm Tuổi thọ bình quân được phản ánh bằng số năm sống.
Trình độ giáo dục được đo bằng cách kết hợp giữa tỷ lệ người biết chữ
và tỷ lệ người đi học đúng độ tuổi.
Mức thu nhập bình quân/đầu người theo sức mua tương đương.
HDI được tính theo phương pháp chỉ số, có giá trị lớn nhất bằng 1, nhỏ
nhất bằng 0
Khía cạnh 1: Liên quan đến khả năng sống như tỷ lệ % người sống đến
40 tuổi. Khía cạnh 2: Liên quan đến trình độ giáo dục như tỷ lệ % người lớn
không biết chữ.
Khía cạnh 3: Liên quan đến mức sống, được tổng hợp bởi 3 yếu tố:

phát triển của các quốc gia khác. Nghèo đói đe dọa đến sự sống của loài
người bởi. “Nghèo đói đã trở thành một vấn đề toàn cầu có ý nghĩa chính trị
đặc biệt quan trọng, nó là nhân tố có khả năng gây bùng nổ những bất ổn
chính trị, xã hội và nếu trầm trọng hơn có thể dẫn tới bạo động và chiến tranh
không chỉ trong phạm vi một quốc gia mà là cả thế giới. Bởi những bất công
và nghèo đói thực sự đã trở thành những mâu thuẫn gay gắt trong quan hệ 10

quốc tế, và nếu những mâu thuẫn này không được giải quyết một cách thỏa
đáng bằng con đường hòa bình thì tất yếu sẽ xảy ra chiến tranh.
(www.baomoi.com[11]
2.2.1.2. Các giải pháp và kinh nghiệm ở một số nước trên thế giới
 Giải pháp
Từ thực trạng đói nghèo trên thế giới đã rút ra được bài học kinh
nghiệm chống đói nghèo ở các nước trong khu vực, mà một số nước thực hiện
đã có kết quả. Đó là can thiệp vĩ mô thuộc vai trò quản lý của nhà nước để
chống đói nghèo, XĐGN có hiệu quả. Điểm mẫu chốt của nhà nước là kịp
thời có những chính sách, giải pháp đúng đắn, đồng bộ đảm bảo được những
điều kiện để thực thi.
 Kinh nghiện XĐGN của một số nước
Vấn đề đói nghèo và XĐGN đang trở thành chủ đề quan tâm của toàn
nhân loại. Việc hạn chế và từng bước XĐGN là nhiệm vụ quan trọng và nặng
nề của nhiều tổ chức quốc tế và nhiều quốc gia. Trong một vài thập kỷ gần
đây, công tác XĐGN trên thế giới và một số quốc gia đã đạt được một số kết
quả nhất định. Các kết quả này được tổng kết và đút rút thành kinh nghiệm để
cho các nước tham khảo và học tập.
2.2.2. Những thành tựu và kinh nghiệm trong công tác giảm nghèo của một
số nước trên thế giới

định cuộc sống. Đài Loan áp dụng chế độ giáo dục bắt buộc đối với những
người trong độ tuổi, do đó trình độ học vấn của nhân dân nông thôn được
nâng lên đáng kể, cùng với trình độ dân trí được nâng lên và điều kiện sống
được cải thiện,Tỷ lệ tăng dân số đã giảm từ 3,2%/năm(1950) xuống còn
1,5%/năm(1985). Hệ thống y tế , chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho nhân dân
cũng được quan tâm đầu tư thích đáng (ncseif.gov.vn)[12].
* Kinh nghiệm từ Hàn Quốc
Sau chiến tranh thế giới lần thứ 2, chính phủ Hàn Quốc không chú ý
đến việc phát triển nông nghiệp nông thôn mà đi vào tập trung phát triển ở các
vùng đô thị, xây dựng các khu công nghiệp tập trung ở các thành phố lớn, thế
nhưng 60% dân số Hàn Quốc sống ở khu vực nông thôn, cuộc sống nghèo
đói, tuyệt đại đa số là tá điền, ruộng đất tập trung vào sở hữu của giai cấp địa
chủ, nhân dân sống trong cảnh nghèo đói tột cùng. Từ đó gây ra làn sóng di
dân tự do từ nông thôn vào thành thị để kiếm việc làm, chính phủ không thể
kiểm soát nổi, gây nên tình trạng mất ổn định chính trị - xã hội. Để ổn định
tình hình chính trị - xã hội, chính phủ Hàn Quốc buộc phải xem xét lại các
chính sách kinh tế - xã hội của mình, cuối cùng đã phải chú ý đến việc điều
chỉnh các chính sách về phát triển kinh tế - xã hội ở khu vực nông thôn và 12

một chương trình phát triển nông nghiệp nông thôn được ra đời gồm 4 nội
dung cơ bản:
- Mở rộng hệ thống tín dụng nông thôn bằng cách tăng số tiền cho hộ
nông dân vay.
- Nhà nước thu mua ngũ cốc của nông dân với giá cao.
- Thay giống lúa mới có năng suất cao.
- Khuyến khích xây dựng cộng đồng mới ở nông thôn bằng việc thành
lập các HTX sản xuất và các đội ngũ lao động để sửa chữa đường xá, cầu

phát triển cao hơn trong giai đoạn sau. Do đó, các chương trình và chính sách
giảm nghèo của Chính phủ đã được xây dựng tập trung trên ba chiến lược
chính: Thúc đẩy các hoạt động sản xuất và sinh kế để tăng thu nhập cho người
nghèo, tăng cường khả năng tiếp cận của người nghèo đến các dịch vụ xã hội,
tăng cường năng lực và nâng cao nhận thức của người dân ở các vùng nghèo.
Những chiến lược này được hiện thực hóa bằng các chương trình
quốc gia hỗ trợ giảm nghèo và phát triển xã hội, trong đó tập trung vào 5
nhóm chính sách: Tín dụng, phát triển sản xuất nông nghiệp, cơ sở hạ
tầng, giáo dục và y tế. Nhờ đó, người nghèo được tiếp cận với các nguồn
lực (vốn, đất sản xuất, công nghệ, thị trường) và các dịch vụ xã hội cơ bản
(giáo dục, y tế, nước sạch, trợ giúp pháp lý).
Tính đến năm 2010, có hơn 77% người nghèo được hưởng lợi từ các
chương trình và chính sách hỗ trợ của Chính phủ, cho thấy mức độ phổ cập
chính sách rộng khắp trên cả nước.
Đánh giá về những nỗ lực của Chính phủ Việt Nam trong việc xây
dựng những chính sách giảm nghèo, bà Victoria Kwa kwa, Giám đốc Quốc
gia Ngân hàng Thế giới (WB) tại Việt Nam nhấn mạnh: Thành công của Việt
Nam có được đầu tiên là nhờ vào tầm nhìn và quyết tâm lãnh đạo của Chính
phủ, cũng như tinh thần chịu khó, làm việc chăm chỉ của người dân Việt Nam.
Là đối tác phát triển, WB rất tự hào được đồng hành cùng Việt Nam trong
chặng đường phát triển kinh tế-xã hội, XĐGN thời gian qua, đóng góp cho sự
phát triển chung của Việt Nam. Cơ hội hợp tác này cũng giúp cho WB kiểm
nghiệm những ý tưởng mới với điều chắc chắn rằng, hỗ trợ phát triển là có thể
làm được và hiệu quả.
Chương trình giảm nghèo bền vững theo Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP
của Chính phủ về giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 62 huyện nghèo là
chương trình lớn và quan trọng, có tác động mạnh đến giảm nghèo và nâng
cao điều kiện sống của người nghèo. Chương trình này đã lồng ghép một loạt
các hạng mục phát triển kinh tế-xã hội như: Phát triển cơ sở hạ tầng công cộng


đối tượng ưu tiên khác như công nhân tại khu công nghiệp, học sinh, sinh
viên,Trong thời gian tới, Việt Nam tiếp tục hoàn thiện chính sách về phát triển
nhà ở xã hội, nhà cho thuê ở khu vực đô thị và nhà ở tái định cư; thúc đẩy các
biện pháp tăng cường trách nhiệm của Nhà nước, các tổ chức xã hội và cộng
đồng trong việc xây dựng nhà ở cho người nghèo nhằm hỗ trợ các đối tượng
khó khăn có nhà ở, ổn định cuộc sống.

15

2.2.3.2 Nguyên nhân đói nghèo ở Việt Nam
Theo đánh giá của Bộ Lao động thương binh và xã hội (LĐ-TB&XH)
nguyên nhân đói nghèo là hậu quả của nhiều nguyên nhân, nhưng nguyên
nhân chính gây ra đói nghèo có thể chia làm 3 nhóm nhưng sau:
- Nhóm nguyên nhân do điều kiện tự nhiên- xã hội: khí hậu khắc
nghiệt, thiên tai, bão lũ, hạn hán, đất đai cằn cỗi, địa hình phức tạp, giao thông
khó khăn, kinh tế chậm phát triển, hậu quả của chiến tranh.
- Nhóm nguyên nhân thuộc cơ chế chính sách: Thiếu hoặc không
đồng bộ về chính sách đầu tư cơ sơ hạ tầng cho các khu vực khó khăn, chính
sách khuyến khích sản xuất, vốn tín dụng, hướng dẫn làm ăn, khuyến nông
lâm ngư, chính sách giáo dục - đào tạo, y tế, giải quyết đất đai, định canh định
cư, kinh tế mới và đầu tư nguồn lực còn hạn chế.
- Nhóm nguyên nhân thuộc về bản thân hộ nghèo: Do chính bản thân
hộ nghèo không biết cách làm ăn, không có hoặc thiếu vốn sản xuất, gia đình
đông con, ít người làm, do chi tiêu lãng phí bừa bãi, lười lao động, mắc tệ nạn
xã hội như: Cờ bạc, rượu chè, nghiện hút. Ngoài ra còn một bộ phận không
nhỏ người nghèo vẫn còn tư tưởng ỷ lại, trông chờ vào sự hỗ trợ của Nhà
nước nên chưa chủ động vươn lên tự thoát nghèo.

2.2.3.4. Công tác XĐGN của đồng bào dân tộc thiểu số
Những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, chính
sách nhằm tạo điều kiện phát triển, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho
đồng bào các dân tộc thiểu số, đưa vùng này thoát khỏi tình trạng nghèo nàn,
lạc hậu, chậm phát triển, hòa nhập vào sự phát triển chung của cả nước.
Đồng bào dân tộc thiểu số ở nước ta có hơn 14 triệu người, cư trú trên
52 tỉnh, thành của cả nước. Tỷ lệ hộ nghèo ở các xã, thôn, bản miền núi, vùng
cao, vùng sâu nếu áp dụng theo chuẩn nghèo năm 2011, là gần 50%.
 Các nhóm chương trình giảm nghèo
Nhóm chính sách giảm nghèo toàn diện: Đó là các chính sách tổng hợp,
nhằm mục tiêu cải thiện toàn diện các khía cạnh đời sống của các hộ nghèo,
bao gồm các dự án tiếp cận dịch vụ, kết cấu hạ tầng; hỗ trợ sản xuất, thúc đẩy
sản xuất hàng hóa và liên kết thị trường, đào tạo nghề, tạo điều kiện phát triển
các mặt của đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội cho đồng bào (Chương trình
135, Chương trình 30a)
Nhóm các chính sách có tác động trực tiếp hoặc gián tiếp nâng cao đời
sống nhân dân mang tầm quốc gia: Các chính sách này với các chủ trương tiếp
cận theo mục tiêu, tập trung vào một số lĩnh vực cụ thể, thiết thực đặt ra từ thực tế
đời sống kinh tế, xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số (chương trình mục tiêu
quốc gia về nước sạch; giáo dục đào tạo, giải quyết việc làm; dân số, kế hoạch hóa
gia đình; chương trình xây dựng nông thôn mới,). 17

Các chính sách theo vùng: Đó là các chính sách có trọng tâm hỗ trợ cho
một số vùng nhất định như: Chương trình hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội các xã
biên giới Việt Nam - Lào - Căm-pu-chia, vùng Tây Bắc; Giải quyết đất ở, đất
canh tác cho đồng bào dân tộc thiểu số ở Tây Nam Bộ;Giao rừng và bảo vệ rừng
cho đồng bào dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên, Thanh Hóa- Nghệ An,


kinh tế chưa phát triển, dân cư chủ yếu là đồng bào dân tộc thiểu số, trình độ
dân trí còn thấp, việc lồng ghép các chương trình, dự án liên quan đến giảm
nghèo còn chồng chéo, thiếu đồng bộ, một số chính sách chưa thực sự phù
hợp với thực tiễn địa phương, hoặc chưa được điều chỉnh kịp thời; trình độ
đội ngũ cán bộ còn nhiều bất cập; là tỉnh nghèo, nên nguồn thu ngân sách hạn
hẹp, đời sống kinh tế của nhân dân mặc dù đã được cải thiện, song thu nhập
vẫn ở mức thấp, do đó việc hỗ trợ để người nghèo thoát nghèo trong thời gian
ngắn và đảm bảo tính bền vững là khó thực hiện. Do vậy cần có những giải
pháp phù hợp để thực hiện mục tiêu xoá đói giảm nghèo bền vững
(hagiang.gov.vn)[10].
Để đánh giá đúng thực trạng nghèo đói và những giải pháp làm cơ sở
để Chính phủ xem xét, ban hành cơ chế, chính sách hỗ trợ thúc đẩy phát triển
kinh tế-xã hội, giảm nghèo bền vững cho 6 huyện có tỷ lệ hộ nghèo cao của
tỉnh, Uỷ ban nhân dân tỉnh và các ngành chức năng đã và đang hoàn thiện các
giải pháp với mục tiêu: Đẩy nhanh tốc độ giảm nghèo bền vững, hạn chế tái
nghèo, cải thiện điều kiện sống và sản xuất của nhóm hộ nghèo đối với các
xã, huyện bình quân mỗi năm trên 8%. Theo đó các cấp ủy Đảng, chính quyền
và các tổ chức đoàn thể cần phải tập trung chỉ đạo, triển khai thực hiện theo
từng mục tiêu của Nghị quyết, đảm bảo phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn
dân, quyết tâm thực hiện thắng lợi mục tiêu giảm nghèo đã đề ra. Đặc biệt cần
tiến hành đánh giá lại toàn bộ các chương trình, dự án đã và đang triển khai
thực hiện, lồng ghép các hoạt động phát triển kinh tế-xã hội; huy động mọi
nguồn lực để thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững; rà soát lại quy trình
triển khai thực hiện các chương trình, dự án có liên quan đến giảm nghèo, cải
cách thủ tục, tạo điều kiện thuận lợi để đẩy nhanh quá trình tổ chức thực hiện
và thu hút các nguồn lực; thực hiện trích 1% tổng chi ngân sách địa phương
hàng năm để bố trí thực hiện chính sách hỗ trợ trực tiếp hộ nghèo; tập trung
xử lý dứt điểm các khoản vay của các hộ nghèo bị thiệt hại do thiên tai, để
tiếp tục cho vay bổ sung, đảm bảo 100% hộ nghèo, hộ mới thoát nghèo có sức


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status