Ảnh hưởng của chế phẩm sinh học Pharselenzym đến khả năng sinh trưởng và kháng bệnh của lợn ngoại nuôi thịt, tại công ty CP Bình Minh, huyện Mỹ Đức, Hà Nội. - Pdf 29

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

  
ĐOÀN KHÁNH GIANG Tên đề tài:

ẢNH HƯỞNG CỦA CHẾ PHẨM SINH HỌC PHARSELENZYM ĐẾN KHẢ
NĂNG SINH TRƯỞNG VÀ KHÁNG BỆNH CỦA LỢN NGOẠI NUÔI THỊT,
TẠI CÔNG TY CP BÌNH MINH, HUYỆN MỸ ĐỨC, HÀ NỘI KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Chăn nuôi thú y
Khoa : Chăn nuôi thú y
Khoá học : 2010 – 2014

Giáo viên hướng dẫn : TS. Phạm Thị Hiền Lương
Thái Nguyên, năm 2014
LỜI CẢM ƠN

Trong suốt thời gian nghiên cứu, để hoàn thành khóa luận của mình, tôi
đã nhận được sự chỉ bảo tận tình của cô giáo hướng dẫn, sự giúp đỡ của các
thầy, cô giáo Khoa Chăn nuôi Thú y, trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
và trang trại chăn nuôi lợn của Công ty CP Bình Minh. Tôi cũng nhận được
sự cộng tác nhiệt tình của các bạn đồng nghiệp, sự giúp đỡ, cổ vũ động viên
của người thân trong gia đình.
Nhân dịp này tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo TS.
Phạm Thị Hiền Lương đã rất tận tình và trực tiếp hướng dẫn tôi thực hiện
thành công đề tài và hoàn thiện khóa luận này.
Tôi xin cảm ơn Ban giám hiệu Trường Đại học Nông Lâm đã tạo điều kiện
thuận lợi và cho phép tôi thực hiện đề tài tốt nghiệp này.
Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành tới Công ty CP Bình Minh, chủ
trang trại, cùng toàn thể anh chị em công nhân trong trang trại về sự hợp tác
giúp đỡ bố trí thí nghiệm, theo dõi các chỉ tiêu và thu thập số liệu làm cơ sở
cho khóa luận này.
Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình, người thân cùng
bạn bè đồng nghiệp đã giúp đỡ động viên tôi trong suốt thời gian hoàn thành
khóa luận.
Tôi xin chân thành cảm ơn tất cả!
Thái Nguyên, ngày 30 tháng 05 năm 2014
Sinh viên
Bảng 2.6. Tiêu tốn thức ăn cho 1 kg tăng khối lượng của lợn thịt 42
Bảng 2.7. Tiêu tốn năng lượng cho một kg tăng khối lượng 43
Bảng 2.8. Tiêu tốn protein cho một kg tăng khối lượng 44
Bảng 2.9. Ảnh hưởng của chế phấm sinh học đến khả năng phòng và trị bệnh
tiêu chảy ở lợn TN 45
Bảng 2.10. Ảnh hưởng của chế phẩm sinh học đến khả năng phòng và trị bệnh
đường hô hấp ở lợn TN 46
Bảng 2.11. Chi phí thuốc thú y/ kg lợn thí nghiệm 48

DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
Hình 2.1: Đồ thị sinh trưởng tích lũy 38
Hình 2.2: Biểu đồ sinh trưởng tuyệt đối 40
Hình 2.3: Đồ thị sinh trưởng tương đối 41
MỤC LỤC
Phần 1. CÔNG TÁC PHỤC VỤ SẢN XUẤT 1

1.1. Điều tra cơ bản 1
1.1.1. Điều kiện tự nhiên 1
1.1.2. Tình hình kinh tế xã hội 2
1.1.3. Tình hình sản xuất nông nghiệp 3
1.1.4. Quá trình thành lập và phát triển của Công ty CP Bình Minh 5
1.1.5. Đánh giá chung 9
1.2. Nội dung và biện pháp phục vụ sản xuất 10
1.2.1. Nội dung công tác phục vụ sản xuất 10
1.2.2. Biện pháp thực hiện 10
1.3. Kết quả công tác phục vụ sản xuất 11
1.3.1. Công tác chăn nuôi 11
1.3.2. Công tác thú y 13
1.3.3. Công tác khác 16

1
Phần 1
CÔNG TÁC PHỤC VỤ SẢN XUẤT

1.1. Điều tra cơ bản
1.1.1. Điều kiện tự nhiên
1.1.1.1.Vị trí địa lý
Xã Phù Lưu Tế nằm trên địa bàn huyện Mỹ Đức, Hà Nội, cách thị trấn
Vân Đình 12 km về phía Nam. Phù Lưu Tế là xã nằm ở phía Đông Bắc của
huyện Mỹ Đức, tiếp giáp với:
Phía Tây giáp xã Xuy Xá.
Phía Nam giáp thị trấn Đại Nghĩa.
Phía Bắc giáp xã Hòa Xá của huyện Ứng Hòa .
Phía Đông giáp xã Phùng Xá.
1.1.1.2. Điều kiện địa hình, đất đai
Phù Lưu Tế có địa hình tương đối bằng phẳng với tổng diện tích 6,71
km
2
. Đất đai ở đây được chủ yếu sử dụng cho sản xuất nông nghiệp với
318,366 ha chiếm 47,45%, đất phi nông nghiệp là 333,82 ha (chiếm 49,75%),
đất chưa sử dụng là 18,81ha, chiếm 2,8%. Mặt khác, cơ cấu đất đa dạng nên
rất thuận lợi cho việc phát triển nhiều loại hình kinh tế khác nhau.
1.1.1.3. Giao thông vận tải
Giao thông ở đây khá phát triển, thuận tiện cho việc giao lưu, đi lại của
người dân địa phương. Hầu hết các tuyến đường đã được trải nhựa hoặc rải
cấp phối. Ở các thôn còn tự xây dựng các đoạn đường tự quản. Hiện nay, xã
đang nâng cấp tuyến đường 430, đoạn chạy ra trục đường 21B, đi Hà Nam.

Dân tộc ở đây chủ yếu là dân tộc kinh (chiếm 96%), bên cạnh đó còn có
một số dân tộc ít người như: Mường, Thái, Mông (chiếm 4%). Người dân trong
xã cần cù trong lao động, sáng tạo trong sản xuất, đoàn kết trong nếp sống.
- Lao động:
Nguồn lao động trẻ, số người trong độ tuổi lao động chiếm 56% dân số
hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực nông nghiệp. Nhân dân xã Phù Lưu Tế cần
cù lao động, nhạy bén trong kinh doanh và sản xuất nông nghiệp.
1.1.2.2. Cơ cấu kinh tế
Phù Lưu Tế chủ yếu sản xuất lương thực, chăn nuôi gia súc-gia cầm,
nuôi trồng thủy sản. Nhờ được đầu tư hệ thống mương máng tốt mà người
3
dân có thể trồng hai vụ lúa và một vụ hoa màu trong một năm. Trong những
năm gần đây, xã đã chú trọng chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng sản xuất
hàng , nâng cấp hệ thống chợ nông thôn để phát triển thương mại. Năm 2011,
giá trị sản xuất công nghiệp, thủ công nghiệp, xây dựng trên địa bàn xã đạt
46.80 triệu đồng. Ngành tiểu thủ công nghiệp chậm phát triển, rải rác còn một
số hộ trồng dâu, nuôi tằm, dệt vải, đan cói…
1.1.2.3. Văn hóa xã hội
- Giáo dục:
Trong những năm gần đây ngành giáo dục của xã Phù Lưu Tế có
những bước phát triển mạnh cả về số lượng và chất lượng giáo dục. Xã đã đầu
tư một số trang thiết bị, đồ dùng phục vụ cho giáo viên và học sinh trong quá
trình dạy và học. Trong xã có:
+ 2 trường mẫu giáo
+ 1 trường tiểu học
+ 1 trường trung học cơ sở
+ Trung tâm hướng nghiệp, bồi dưỡng chính trị huyện cũng được đặt
tại xã Phù Lưu Tế.
Xã đã phổ cập giáo dục Tiểu học và Trung học cơ sở.
Đa số người dân có trình độ dân trí cao.

(tấn)
Diện tích
(ha)
Sản
lượng
(tấn)
Lúa 380 2.538 378 2.721 186,7 1.650
Ngô 50 400 42 369,6 30 270
Lạc 38 570 39,5 691,25 42,8 864,56
Khoai tây 17 212,5 20 191,8 24,7 187
Rau màu 50 2.790 45 2.556 34.9 1.989
(Nguồn:UBND xã Phù Lưu Tế )
Qua bảng 1.1. cho thấy: Mấy năm trở lại đây, diện tích và sản lượng một
số loại cây trồng chính có những biến động nhất định. Lúa vẫn là cây trồng chủ
đạo trên địa bàn huyện, với tổng diện tích năm 2011 là 2.538 ha, sản lượng đạt
2.538 tấn, đến năm 2012, thì diện tích giảm xuống còn 378 ha nhưng sản lượng
đạt 2.721 tấn, tuy diện tích có giảm nhưng năng suất vẫn đạt 7,2 tấn/ha. Diện
tích trồng lúa của bà con giảm theo hàng năm do diện tích đất trồng được quy
hoạch vào làm đường hoặc bà con chuyển mục đích sử dụng khác. Nhưng
năng suất của các giống lúa ngày càng tăng cao, do được đầu tư giống lúa
ngắn ngày, năng suất cao, áp dụng các biện pháp kỹ thuật mới. Diện tích và
sản lượng ngô giảm mạnh, thay vào đó là các cây công nghiệp và hoa màu
ngắn ngày, nhưng đem lại năng suất cao như khoai tây, lạc, rau màu đáp ứng
đủ nhu cầu tiêu dùng của thị trường.
1.1.3.2. Tình hình sản xuất ngành chăn nuôi – Thú y
Song song với sự phát triển của ngành trồng trọt, ngành chăn nuôi
cũng phát triển không ngừng. Trong những năm gần đây, người dân đã biết áp
dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật. Từ các hộ sản xuất manh mún, quy mô
nhỏ, nay đã mạnh dạn đầu tư vốn, kỹ thuật, con giống mới, có năng suất cao,
trang thiết bị hiện đại vào chăn nuôi.

6
Công ty cổ phần và phát triển Bình Minh nằm trên địa phận xã Phù Lưu
Tế, huyện Mỹ Đức, Hà Nội. Trại được thành lập năm 2008 là trại lợn gia công
của công ty chăn nuôi CP Việt Nam (Công ty TNHH Charoen Pokphand Việt
Nam). Hoạt động theo phương thức chủ trại xây dựng cơ sở vật chất, thuê công
nhân, công ty đưa tới giống lợn, thức ăn, thuốc thú y, cán bộ kỹ thuật. Hiện
nay, trang trại do ông Nguyễn Sĩ Bình làm chủ trại, cán bộ kỹ thuật của công
ty chăn nuôi CP Việt Nam chịu trách nhiệm giám sát mọi hoạt động của trại.
1.1.4.2. Cơ cấu tổ chức của trang trại
Cơ cấu của trại được tổ chức như sau:
01 chủ trại.
01 quản lý trại.
02 quản lý kỹ thuật.
26 công nhân.
Với đội ngũ công nhân trên, trại phân ra làm các tổ nhóm khác nhau
như tổ chuồng đẻ, tổ chuồng nái chửa, nhà bếp. Mỗi một khâu trong quy trình
chăn nuôi, đều được khoán đến từng công nhân, nhằm nâng cao trách nhiệm,
thúc đẩy sự phát triển của trang trại.
1.1.4.3. Cơ sở vật chất của trang trại
Trang trại chăn nuôi của công ty CP Bình Minh nằm ở khu vực cánh
đồng rộng lớn thuộc thôn Trung, có địa hình khá bằng phẳng với diện tích là
10.2 ha. Trong đó:
- Đất trồng cây ăn quả: 2,3 ha
- Đất xây dựng: 2,5 ha- Đất trồng lúa: 2,4 ha
- Ao, hồ chứa nước và nuôi cá: 3 ha

- Trại lợn đã dành khoảng 0,5 ha đất để xây dựng nhà điều hành, nhà ở

Hiện nay, trung bình lợn nái của trại sản xuất được 2,45 - 2,5 lứa/năm.
Số con sơ sinh là 11,23 con/đàn, số con cai sữa: 9,86 con/đàn. Trại hoạt động
vào mức khá theo đánh giá của công ty chăn nuôi CP Việt Nam.
8
Tại trại lợn con theo mẹ được nuôi đến 21 ngày tuổi, chậm nhất là
26 ngày thì tiến hành cai sữa và chuyển sang các trại chăn nuôi lợn giống
của công ty.
Trong trại có 23 con lợn đực giống được chuyển về cùng một đợt, các
lợn đực giống này được nuôi nhằm mục đích kích thích động dục cho lợn nái
và khai thác tinh để thụ tinh nhân tạo. Tinh lợn được khai thác từ 2 giống lợn
Landrace và Yorkshire. Lợn nái được phối 3 lần và được luân chuyển giống
cũng như con đực.
Thức ăn cho lợn nái là hỗn hợp hoàn chỉnh có chất lượng cao, được
công ty chăn nuôi CP Việt Nam cấp cho từng đối tượng lợn của trại.
* Công tác thú y:
Quy trình phòng bệnh cho đàn lợn tại trang trại sản xuất lợn giống luôn
thực hiện nghiêm ngặt, với sự giám sát chặt chẽ của kỹ thuật viên công ty
chăn nuôi CP Việt Nam.
- Công tác vệ sinh: Hệ thống chuồng trại luôn đảm bảo thoáng mát về
mùa hè, ấm áp về mùa đông. Hàng ngày luôn có công nhân quét dọn vệ sinh
chuồng trại, thu gom phân, nước tiểu, khơi thông cống rãnh, đường đi trong
trại được quét dọn, phun thuốc sát trùng, hành lang đi lại được quét dọn và rắc
vôi theo quy định.
Công nhân, kỹ sư, khách tham quan khi vào khu chăn nuôi lợn đều phải
sát trùng tại nhà sát trùng, tắm bằng nước sạch trước khi thay quần áo bảo hộ
lao động.
- Công tác phòng bệnh: Trong khu vực chăn nuôi hạn chế đi lại giữa
các chuồng, hành lang giữa các chuồng và bên ngoài chuồng đều được rắc vôi
bột, các phương tiện vào trại được sát trùng một cách nghiêm ngặt ngay tại
cổng vào. Với phương châm phòng bệnh là chính nên tất cả lợn ở đây đều

nước thải của trại còn nhiều khó khăn. 10
1.2. Nội dung và biện pháp phục vụ sản xuất
1.2.1. Nội dung công tác phục vụ sản xuất
1.2.1.1. Công tác chăn nuôi
- Nắm vững các đặc điểm của giống lợn nuôi thịt
- Tham gia công tác vệ sinh, chăm sóc nuôi dưỡng đàn lợn
- Tham gia đỡ đẻ cho lợn nái, cắt tai, cắt đuôi cho lợn con, làm ổ úm
cho lợn con.
- Tiến hành đề tài nghiên cứu khoa học trên đàn lợn thí nghiệm của trại.
1.2.1.2. Công tác thú y
- Tiêm phòng vaccine cho đàn lợn theo quy trình tiêm phòng của trại.
- Phun thuốc sát trùng chuồng trại, vệ sinh dụng chăn nuôi theo quy
trình vệ sinh thú ý.
- Chẩn đoán và điều trị một số bênh mà đàn lợn mắc phải trong quá
trình thực tập.
- Tham gia vào các công tác khác
1.2.2. Biện pháp thực hiện
Để thu được kết quả tốt nhất trong thời gian thực tập và thực hiên tốt
những nội quy trên tôi đã đưa ra một số biện pháp để thực hiện như sau:
- Tuân thủ nội quy của khoa, của trường, của trại và yêu cầu của giáo
viên hướng dẫn.
- Tích cực học hỏi kiến thức, kinh nghiệm của cán bộ kỹ thuật trong
trại và những người chăn nuôi để nâng cao tay nghề và củng cố kiến thức
chuyên môn.
- Vận dụng những kiến thức lý thuyết ở trường vào công việc chăm
sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho đàn lợn.
- Thực hiện, bám sát cơ sở sản xuất và đi sâu kiểm tra, tìm hiểu quy

cuối giờ chiều phải chở phân ra khu xử lý phân. Lợn nái chửa được ăn loại
thức ăn 566, 567SF với khẩu phần ăn phân theo tuần chửa, thể trạng, lứa đẻ
như sau:
12
Đối với nái chửa từ tuần 1 đến tuần chửa 12 ăn thức ăn 566 với tiêu
chuẩn 1,5 - 2 kg/con/ngày, cho ăn 1 lần trong ngày.
Đối với nái chửa từ tuần 13 đến tuần chửa 14 ăn thức ăn 566 với tiêu
chuẩn 2,5 - 3 kg/con/ngày, cho ăn 1 lần trong ngày.
Đối với nái chửa từ tuần 15 trở đi ăn thức ăn 567SF với tiêu chuẩn 3,5-
4 kg/con/ngày, cho ăn 1 lần trong ngày.
+ Quy trình chăm sóc nái đẻ:
Lợn nái chửa được chuyển lên chuồng đẻ trước ngày đẻ dự kiến 7- 10
ngày. Trước khi chuyển lợn lên chuồng đẻ chuồng phải được dọn dẹp và rửa
sạch sẽ. Lợn chuyển lên phải được ghi đầy đủ thông tin lên bảng ở đầu mỗi ô
chuồng. Thức ăn của lợn chờ đẻ được cho ăn với tiêu chuẩn ăn 3 kg/ngày,
chia làm 2 bữa sáng, chiều.
Lợn nái chửa trước ngày đẻ dự kiến 3 ngày, giảm tiêu chuẩn ăn xuống
0,5 kg/con/bữa.
Khi lợn nái đẻ được 2 ngày tăng dần lượng thức ăn từ 0,5 - 5
kg/con/ngày chia làm hai bữa sáng, chiều mỗi bữa tăng lên 0,5 kg. Đối với nái
nuôi con quá gầy hoặc nuôi nhiều con có thể cho ăn tăng lượng thức ăn lên 6
kg/con/ngày.
+ Quy trình chăm sóc đàn lợn con theo mẹ đến khi cai sữa:
Ngay sau khi đẻ ra lợn được tiến hành cắt rốn, bấm nanh.
- Lợn con 2 - 3 ngày tuổi được cắt số tai, cắt đuôi và tiêm sắt, cho uống
thuốc phòng phân trắng lợn con và tiêu chảy.
Lợn con 3 - 4 ngày tuổi cho lợn con uống thuốc phòng cầu trùng.
Lợn con 4 - 5 ngày tuổi tiến hành thiến lợn đực.
Lợn con được từ 4 - 6 ngày tuổi tập cho ăn bằng thức ăn hỗn hợp hoàn
chỉnh 550SF.

Thứ 3
Rắc vôi + quét
đường đi

Thứ 4
Rắc vôi +quét
đường đi
Rắc vôi Rắc vôi
Thứ 5
Phun ghẻ
Rắc vôi + quét
đường đi

Thứ 6
Phun sát trùng
Rắc vôi + quét
đường đi
Phun sát trùng Phun sát trùng
Thứ 7 Vệ sinh tổng khu Vệ sinh tổng khu
14
* Công tác phòng bệnh
Quy trình tiêm phòng, phòng bệnh cho đàn lợn của trang trại được thực
hiện tích cực, thường xuyên và bắt buộc. Tiêm phòng cho đàn lợn nhằm tạo ra
trong cơ thể chúng miễn dịch chủ động, chống lại sự xâm nhập của vi khuẩn,
tăng sức đề kháng cho cơ thể.
Tiêm vaccine cho heo:
- Tuần tuổi thứ 5: Tiêm vaccine dịch tả lần 1 (SFV1) 2ml/con
- Tuần tuổi thứ 7: Tiêm vaccine LMLM lần 1 (SND1) 2ml/con
- Tuần tuổi thứ 9: tiêm vaccine dịch tả lần 2 (SFV2) 2ml/con
- Tuần tuổi thứ 11: Tiêm vaccine LMLM lần 2 (SND2) 2ml/con

đầu tiên như: Lượng axit trong dạ dày lợn con rất ít nên không đủ ngăn cản sự
tấn công, xâm nhập và tăng sinh của vi khuẩn vào ruột và gây bệnh.
Do việc nuôi dưỡng chăm sóc lợn mẹ chưa hợp lý, chuồng trại ẩm ướt,
rét mướt, vệ sinh kém, sữa mẹ kém
+ Triệu chứng: Bệnh thường gặp ở lợn con từ 5 - 21 ngày tuổi. Lợn tiêu
chảy phân màu vàng trắng, trắng xám, sau đó là vàng xanh, mùi phân hôi
tanh. Lợn mất nước và mất chất điện giải gầy sút nhanh, bú kém, đi lại không
vững. Bệnh kéo dài thì bụng tóp lại, lông xù, hậu môn và đuôi dính phân bê
bết. Nếu không điều trị kịp thời thì lợn con chết rất nhanh.
+ Điều trị:
Bệnh phân trắng lợn con có nhiều loại thuốc điều trị nhưng tại trang trại
có điều trị bằng thuốc sau:
Nova-Ampicol: 2 g/lít nước cho uống.
Điều trị liên tục trong 3 - 4 ngày.
- Bệnh viêm phổi
+ Nguyên nhân: Do Mycoplasma hyopneumoniae gây ra. Bệnh xảy ra
trên lợn con ngay từ khi mới sinh ra. Bệnh xâm nhập chủ yếu qua đường hô
hấp. Do điều kiện chăn nuôi vệ sinh chuồng trại kém, thời tiết thay đổi…, do
sức đề kháng của lợn giảm. Bệnh thường lây lan do nhốt chung giữa con
nhiễm bệnh và mắc bệnh do bú sữa của lợn mẹ bị bệnh.
+ Triệu chứng: lợn con còi cọc chậm lớn, lông xù, khi thở hóp bụng lại.
Bình thường nghỉ ngơi lợn không ho, chỉ khi xua quấy rầy heo mới ho (ho
vào lúc sáng sớm hay chiều tối), nhiệt độ cơ thể bình thường hay tăng nhẹ.
+ Điều trị:
16
Tylogenta : 1,5ml/con. Tiêm bắp ngày/lần
Hoặc Vetrimoxin : 1,5ml/con. Tiêm bắp 2 ngày/lần.
Nếu lợn có hiện tượng ho nhiều, thở gấp thì tiêm Bromhexine (HCl): 2ml/con.
Điều trị trong 3 - 6 ngày.
1.3.3. Công tác khác

2.2 Bệnh viêm phổi 135 120 88,75
3. Công tác khác
An toàn
3.1. Đỡ lợn đẻ 195 195 100
3.2. Xuất lợn con 2600 2600 100
3.3 Tiêm Dextran – Fe 1654 1654 100
3.4 Thiến lợn đực 786 786 100 17
1.4. Kết luận và đề nghị
1.4.1. Kết luận
Về chuyên môn: Đã biết cách sử dụng một số loại vaccine, chẩn đoán
và điều trị một số bệnh thông thường xảy ra trên lợn, biết cách sử dụng thuốc,
vận dụng một cách hợp lý giữa lý thuyết với thực tế.
Học hỏi được cách quản lý và sử dụng nguồn nhân lực, biết cách phân
công công việc một cách hợp lý, có hiệu quả cao.
Qua đó, giúp tôi mạnh dạn hơn, tự tin hơn vào khả năng của mình,
hoàn thành tốt công việc được giao. Từ đó làm cho tôi cảm thấy yêu ngành,
yêu nghề hơn, chịu khó học hỏi kinh nghiệm của thầy cô giáo, bạn bè, đồng
nghiệp đi trước kết hợp với kiến thức đã học ở trường.
Trong quá trình thực tập, tôi thấy từ lý thuyết đến thực hành còn một
khoảng cách rất xa, nếu chỉ học lý thuyết thì chưa đủ, mà cần phải làm được
để giúp ngành chăn nuôi ngày càng phát triển. Vì vậy, tôi thấy việc đi thực tập
tại các cơ sở sản xuất là rất cần thiết đối với bản thân nói riêng, cũng như tất
cả mọi sinh viên nói chung trước khi tốt nghiệp ra trường.
1.4.2. Đề nghị
Trong thời gian thực tập tại trang Công ty CP Bình Minh, xã Phù
LưuTế, huyện Mỹ Đức, Hà Nội, tôi thấy có một số tồn tại cần khắc phục, vì
vậy tôi có một số ý kiến đề xuất như sau:

dùng trong nước và trên thế giới.
Để tiến tới một nền nông nghiệp chất lượng, hiện đại đáp ứng nhu cầu
của người tiêu dùng thì yêu cầu được đặt ra đó là: các hoạt động chăn nuôi và
nuôi trồng thủy sản, ngoài cơ cấu tổ chức, quy mô hợp lí còn phải đáp ứng các
quy định về đảm bảo an toàn sinh học, an toàn thực phẩm và an toàn môi
trường, trong đó việc ứng dụng rộng rãi những thành tựu khoa học và công
nghệ vào sẩn xuất nông nghiệp là điều kiện tiên quyết. Qua đó hạn chế sử
dụng các chất hoormone, hóa chất, kháng sinh gây ảnh hưởng đến sức khỏe
con người, thay vào đó là tăng cường sử dụng các loại chế phẩm sinh học.

Trích đoạn Ảnh hưởng của chế phẩm sinh học đến khả năng kháng bệnh của Hiệu quả sử dụng chế phẩm sinh học đến chi phí thuốc thú y/kg
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status