ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
----------
----------
NGUYỄN VĂN QUÂN
Tên đề tài:
ẢNH HƯỞNG CỦA VIỆC BỔ SUNG KHÁNG SINH
VÀO KHẨU PHẦN ĂN CỦA LỢN NÁI CHỬA ĐẾN KHẢ NĂNG
SINH TRƯỞNG VÀ KHÁNG BỆNH CỦA LỢN CON GIAI ĐOẠN
THEO MẸ TẠI CÔNG TY CP BÌNH MINH, HUYỆN MỸ ĐỨC - HÀ NỘI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy
Chuyên ngành: Chăn nuôi - Thú y
Khoa: Chăn nuôi - Thú y
Khóa học: 2011 - 2015
Thái Nguyên, năm 2015
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
----------
----------
NGUYỄN VĂN QUÂN
SINH TRƯỞNG VÀ KHÁNG BỆNH CỦA LỢN CON GIAI ĐOẠN
THEO MẸ TẠI CÔNG TY CP BÌNH MINH, HUYỆN MỸ ĐỨC - HÀ NỘI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy
Chuyên ngành: Chăn nuôi - Thú y
Lớp: K43 - CNTY (NO2)
Khoa: Chăn nuôi - Thú y
Khóa học: 2011 - 2015
Giảng viên hướng dẫn: TS. Phạm Thị Hiền Lương
Thái Nguyên, năm 2015
ii
LỜI MỞ ĐẦU
Thực tập tốt nghiệp là khâu cuối cùng và quan trọng nhất trong suốt quá trình
học tập của mỗi sinh viên. Đồng thời, thực tập tốt nghiệp là phần cuối cùng trong
chương trình đào tạo của các trường đại học nói chung và Đại học Nông Lâm Thái
Nguyên nói riêng. Đây là thời gian để mỗi sinh viên củng cố và hệ thống lại toàn bộ
kiến thức đã học. Đồng thời giúp cho sinh viên làm quen với thực tế sản xuất, rèn
luyện, nâng cao tay nghề, tích luỹ kinh nghiệm chuyên môn, nắm được phương
pháp tổ chức, tiến hành nghiên cứu, ứng dụng khoa học kĩ thuật vào sản xuất. Thực
tập tốt nghiệp cũng là thời gian để mỗi sinh viên tự rèn luyện, tu dưỡng phẩm chất
đạo đức, trang bị cho bản thân những hiểu biết xã hội, để khi ra trường sẽ trở thành
những cán bộ kĩ thuật vừa có trình độ chuyên môn, vừa có năng lực công tác. Vì
vậy, thực tập tốt nghiệp rất cần thiết đối với mỗi sinh viên cuối khoá học.
Xuất phát từ những lí do trên, được sự đồng ý của Ban giám hiệu Trường Đại học
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 4.1: Đồ thị sinh trưởng tích lũy của lợn con thí nghiệm ........................ 33
Hình 4.2: Biểu đồ sinh trưởng tuyệt đối của lợn con thí nghiệm ................... 35
Hình 4.3: Đồ thị sinh trưởng tương đối của lợn con thí nghiệm .................... 36
v
DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT
CP
: Charoen Pokphan
Cs
: Cộng sự
ĐC
: Đối chứng
ĐVT
: Đơn vị tính
KL
: Khối lượng
KPCS
TB
: Trung bình
TN
: Thí nghiệm
TNHH
: Trách nhiệm hữu hạn
TS
: Tiến sĩ
TT
: Thể trọng
VSV
: Vi sinh vật
vi
MỤC LỤC
PHẦN 1: MỞ ĐẦU .....................................................................................................1
i
LỜI CẢM ƠN
Sau 6 tháng thực tập tốt nghiệp, đến nay em đã hoàn thành xong khóa luận
của mình, em đã nhận được sự giúp đỡ quý báu của Nhà trường và địa phương. Qua
đây em xin trân trọng bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất tới :
Ban giám hiệu trường Đại học Nông Lâm – Thái nguyên, Khoa Chăn Nuôi Thú
Y, các thầy cô giáo trong khoa chăn nuôi Trường Đại học Nông Lâm – Thái Nguyên .
Đặc biệt, em xin trân trọng cảm ơn sự quan tâm, giúp đỡ của TS. Phạm Thị
Hiền Lương - người đã nhiệt tình hướng dẫn em hoàn thành luận văn tốt nghiệp này .
Em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban lãnh đạo và toàn thể các cán
bộ, công nhân của trang trại lợn Công ty Bình Minh, huyện Mỹ Đức- Hà Nội.
Nhân dịp này em cũng xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành nhất tới gia đình,
bạn bè đã động viên, khuyến khích em trong quá trình học tập và nghiên cứu .
Em xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành trước mọi sự giúp đỡ quý báu đó .
Em xin trân trọng gửi tới các thầy cô, các quý vị trong hội đồng chấm khóa luận lời
cảm ơn chân thành và lời chúc tốt đẹp nhất .
Thái Nguyên, ngày …. tháng … năm 2015
Sinh viên
Nguyễn Văn Quân
1
PHẦN 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Trong thực tế chăn nuôi lợn nái sinh sản hiện nay rất nhiều vấn đề nan dải
được đặt ra, tỉ lệ lợn con mắc bệnh nhiều làm tăng tỷ lệ chết, tăng tỷ lệ còi cọc, làm
giảm năng suất chăn nuôi lợn nái. Xuất phát từ thực tiễn đồng thời để làm rõ hơn
vấn đề bổ sung kháng sinh vào khẩu phần ăn của lợn nái ngoại, ảnh hưởng như thế
nào đến khả năng sinh trưởng và kháng bệnh của lợn con giai đoạn theo mẹ, chúng
tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài: “Ảnh hưởng của việc bổ sung kháng sinh vào
khẩu phần ăn của lợn nái chửa đến khả năng sinh trưởng và kháng bệnh của
lợn con giai đoạn theo mẹ, tại Công ty CP Bình Minh, huyện Mý Đức, Hà Nội”.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu và yêu cầu của đề tài
Xác định được khả năng sinh trưởng và kháng bệnh của lợn con giai đoạn theo mẹ.
Xác định hiệu quả sử dụng kháng sinh bổ sung vào khẩu phần ăn của lợn nái
ngoại phù hợp, nhằm tăng năng suất và hiệu quả chăn nuôi lợn nái sinh sản, lợn con
theo mẹ.
1.3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
1.3.1. Ý nghĩa khoa học:
- Đóng góp thêm những cơ sở khoa học về sử dụng kháng sinh trong chăn nuôi,
tăng khả năng sinh trưởng và sức đề kháng của lợn.
- Kết quả của đề tài là tài liệu tham khảo hữu ích cho cán bộ kỹ thuật và các
công ty sản xuất thức ăn chăn nuôi.
1.3.2. Ý nghĩa trong thực tiễn:
- Góp phần giảm tỷ lệ lợn con mắc bệnh, còi cọc.
- Tăng hiệu quả chăn nuôi lợn con giống ngoại.
3
PHẦN 2
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
2.1. Cơ sở khoa học
2.1.1. Đặc điểm sinh lý của lợn con
Theo Vũ Đình Tôn, Trần Thị Thuận (2006) [16], lợn con ở 7 - 10 ngày tuổi đã
gấp 2 lần khối lượng sơ sinh, lúc 21 ngày tuổi gấp 4 lần, lúc 30 ngày tuổi gấp 5 lần
và đến 60 ngày tuổi gấp 10 - 15 lần khối lượng sơ sinh.
Lợn con sinh trưởng phát dục nhanh nên khả năng tích luỹ các chất dinh dưỡng
rất mạnh. Lợn con 3 tuần tuổi mỗi ngày tích luỹ được 9 - 14 g protein/kg khối lượng
cơ thể. Trong khi lợn trưởng thành chỉ tích luỹ được 0,3 - 0,4 g protein/kg khối lượng
cơ thể.
Lợn con bú sữa sinh trưởng phát triển nhanh, nhưng không đồng đều qua các
giai đoạn, sinh trưởng nhanh trong 21 ngày tuổi đầu, sau đó giảm. Có sự giảm này
do nhiều nguyên nhân, nhưng chủ yếu do lượng sữa mẹ bắt đầu giảm dần và hàm
lượng hemoglobin trong máu của lợn con giảm. Thời gian bị giảm sinh trưởng
thường kéo dài khoảng 2 tuần tuổi, còn gọi là giai đoạn khủng hoảng của lợn con.
Chúng ta có thể hạn chế sự khủng hoảng này bằng cách tập cho lợn con tập ăn sớm
(Trần Văn Phùng và Cs. 2004) [10].
Khả năng miễn dịch của lợn con trong giai đoạn cũng có những đặc điểm đặc biệt.
Lợn con mới đẻ, trong máu không có γ - globulin nhưng sau 24 giờ bú sữa đầu, hàm
lượng γ - globulin trong máu đạt tới 20,3mg/100ml máu. Do đó, lợn con cần được bú sữa
đầu càng sớm càng tốt. Nếu lợn con không được bú sữa đầu thì từ 20 - 25 ngày tuổi mới có
khả năng tự tổng hợp kháng thể (Trần Cừ, 1972) [1].
* Hệ vi sinh vật đường ruột ở lợn.
Vi khuẩn đường ruột đã được Salmole và Smith phân lập năm 1885 từ lợn
mắc bệnh tiêu chảy. Đó là vi khuẩn Salmonella spp mà đại diện là Salmonella
cholerasuis. Cùng năm đó Escherichia đã phát hiện ra vi khuẩn gây bệnh đường
ruột. Ông đặt tên là Escherichia coli.
Hằng ngày đã có một số loài vi khuẩn theo thức ăn vào ruột, sống và sinh sản ở
đây, chúng có thể bị biến đổi ít nhiều, nhưng căn bản vẫn tồn tại đến khi con vật chết.
5
- Vi khuẩn Streptococcus
6
Theo Nguyễn Quang Tuyên, (2008) [18] Liên cầu khuẩn là những hình cầu
xếp thành chuỗi uốn khúc, uốn khúc dài hay ngắn như chuỗi hạt... Liên cầu khuẩn
có ở khắp mọi nơi trong tự nhiên. Trong cơ thể động vật liên cầu khuẩn có ở da,
niêm mạc, sống hoại sinh ở đường tiêu hóa, hô hấp, xoang âm đạo và một số có khả
năng gây bệnh
Ở động vật, liên cầu khuẩn thường gây nên những chứng mưng mủ, những
bệnh biến chứng hay cục bộ. Streptococcus gây bệnh viêm não ở lợn cai sữa và lợn
vỗ béo, xảy ra khi chúng được nuôi nhốt chung, có thể gây chết đột ngột, sốt, triệu
chứng thần kinh, gây viêm khớp ở lợn con. Viêm khí quản phổi do Streptococcus
suis làm dung huyết β yếu gây ra.
- Vi khuẩn Pasteurella multocida (gây bệnh viêm phổi lợn).
Theo Nguyễn Quang Tuyên, (2008) [18] Pasteurella multocida gây bệnh bại
huyết, xuất huyết cho gia súc, gia cầm thường gọi là bệnh tụ huyết trùng.
Pasteurella multocida là một cầu trực khuẩn nhỏ, ngắn, hình trứng, hay bầu
dục, có kích thước 0,25- 2,4 x 0,4 – 1,5µ, không có lông, không di động, không
hình thành nha bào, sính sản bằng cách nhân đôi, khi nhuộm màu bắt màu Gram
âm. Trong cơ thể động vật mắc bệnh có hình thành giáp mô, nhưng khi nhuộm màu
khó quan sát thấy.
Bệnh viêm phổi do Pasteurella multocida gây ra là kết quả của sự lay nhiễm
vi khuẩn vào phổi. Bệnh thường thấy ở giai đoạn cuối của bệnh viêm phổi cục bộ
hay ở những bệnh ghép ở đường hô hấp của lợn. Vi khuẩn thường xuyên cư trú trên
đường hô hấp của lợn do vậy thường rất khó tiêu diệt. Vi khuẩn Pasteurella
multocida thường kết hợp với những tác nhân khác như vi khuẩn Mycoplasma
hyopneumoniae, làm cho quá trình viêm phổi càng thêm phức tạp.
- Vi khuẩn Mycoplasma hyopneumonia (gây suyễn lợn)
nạc, hướng mỡ.
Theo quan điểm di truyền học thì hầu hết các tính trạng về sản xuất của gia
súc, gia cầm như: Sinh trưởng, cho lông, cho thịt, trứng, sản lượng sữa, sinh sản...
đều là tính trạng số lượng. Tính trạng số lượng là những tính trạng ở đó có sự sai
khác giữa các cá thể là sự sai khác nhau về mức độ hơn là sự sai khác nhau về
chủng loại. Darwin đã chỉ rõ sự sai khác này chính là nguyên liệu cho quá trình
chọn lọc tự nhiên và chọn lọc nhân tạo. Tính trạng số lượng còn gọi là tính trạng đo
lường (metriccharacter), sự nghiên cứu chúng phụ thuộc vào sự đo lường như: Khối
8
lượng cơ thể, tốc độ tăng trọng, sản lượng trứng, kích thước các chiều đo... (Trần
Đình Miên 1982) [9].
Yếu tố thứ hai ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát dục của lợn là quá trình trao
đổi chất trong cơ thể. Quá trình trao đổi chất xảy ra dưới sự điều khiển của các
hormone. Hormone tham gia vào tất cả các quá trình trao đổi chất của tế bào và giữ
cân bằng các chất trong máu. Trong thời kỳ đầu tiên của quá trình sống, kể cả khi
chưa có sự hoạt động của tuyến giáp đã có sự tham gia của tuyến ức trong điều
khiển quá trình sinh trưởng. Về sau điều khiển quá trình sinh trưởng có sự tham gia
của tuyến yên. Hormone của thuỳ trước tuyến yên STH (Somatotropin hormone) là
loại hormone rất cần thiết cho sinh trưởng của cơ thể. Theo Hoàng Toàn Thắng và
Cao Văn (2006) [13]: STH có tác dụng sinh lý chủ yếu kích thích sự sinh trưởng
của cơ thể bằng cách làm tăng sự tổng hợp protein và kích thích sụn liên hợp phát
triển, tăng tạo xương (nhất là các xương dài). Khi thiếu hoặc thừa loại hormone này
sẽ dẫn đến cơ thể quá nhỏ bé (nanismus) hoặc quá to (gigantismus).
* Các yếu tố bên ngoài
- Dinh dưỡng: Các yếu tố di truyền không thể phát huy tối đa, nếu không có một
môi trường dinh dưỡng và thức ăn hoàn chỉnh. Khi chúng ta đảm bảo đầy đủ về thức ăn,
bao gồm cả số lượng và chất lượng thức ăn thì sẽ góp phần thúc đẩy quá trình sinh
cơ thể, mà còn đối với các chức năng sinh sản, như biểu hiện động dục, sự phát
triển của phôi ở lợn nái, quá trình sinh tinh và các phản xạ nhảy giá của lợn đực.
Trong chăn nuôi công nghiệp, khi thiết kế chuồng trại cần chú ý đảm bảo đủ ánh
sáng theo nhu cầu của các loại lợn, đặc biệt đối với lợn con và lợn sinh sản.
- Các yếu tố khác: Ngoài các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển
của lợn đã nêu trên, còn có các yếu tố khác như vấn đề chuồng trại, chăm sóc, nuôi
dưỡng, tiểu khí hậu chuồng nuôi như: Không khí, tốc độ gió lùa, nồng độ các khí
thải... Nếu chúng ta cung cấp cho lợn các yếu tố đủ theo yêu cầu của từng loại lợn
sẽ giúp cho cơ thể lợn sinh trưởng, phát triển đạt mức tối đa.
2.1.1.3. Sinh lí tiết sữa của lợn nái
Khả năng tiết sữa là một chỉ tiêu quan trọng khi đánh giá sức sản suất của lợn
nái, vì nó ảnh hưởng đến tỷ lệ nuôi sống cũng như khối lượng cai sữa của lợn con
sau này.
10
Quy luật tiết sữa của lợn mẹ có đặc điểm là năng suất sữa tăng dần từ lúc mới
đẻ và đạt sản lượng cao nhất vào lúc 21 ngày tuổi, sau đó giảm dần. Căn cứ vào đặc
điểm này, trong thực tế sản xuất người ta lấy khối lượng lợn con toàn ổ lúc 21 ngày
tuổi để đánh giá khả năng tiết sữa của lợn mẹ.
Qua theo dõi, sản lượng và chất lượng sữa ở các vị trí vú khác nhau cũng
không giống nhau. Các vú ở phía trước ngực sản lượng sữa cao, phẩm chất tốt còn
các vú phía sau nhìn chung thấp. Theo Trương Lăng (2003) [7]: vú trước lượng sữa
tiết ra nhiều hơn. Trong chu kỳ tiết sữa, lợn con bú vú sau được 32 - 39 kg sữa thì
lợn con bú vú trước được khoảng 36 - 45 kg sữa, vì oxytoxin theo máu đến tuyến vú
phía trước sớm hơn, kéo dài hơn nên vú trước nhiều sữa hơn.
Trần Văn Thịnh (1982) [15] cho rằng: Thức ăn đầu tiên của lợn con là sữa
đầu. Sữa đầu có màu trong hơi vàng và đặc, tiết ra trong 2 - 3 ngày đầu khi đẻ.
Trong sữa đầu, các thành phần hoá học đều đặc hơn sữa thường như: lượng protein
2.1.2.1. Hiểu biết chung về kháng sinh
• Nguồn gốc
Kháng sinh là những chất có nguồn gốc từ vi sinh vật, được bán tổng hợp hoặc
tổng hợp hóa học.
Kháng sinh hay còn gọi là chất trụ sinh có khả năng tiêu diệt vi khuẩn, hay
kìm hãm sự phát triển của vi khuẩn một cách đặc hiệu, có tác dụng lên vi khuẩn ở
cấp độ phân tử, thường là một vị trí quan trọng hay một phản ứng trong quá trình
phát triển của vi khuẩn.
• Phân loại:
* Phân loại dựa trên cơ chế tác động gồm:
+ Ức chế tổng hợp vách tế bào vi khuẩn: do tác động lên quá trình trình tổng
hợp vách nên làm cho vi khuẩn dễ bị đại thực bào, phá vỡ do thay đổi áp suất thẩm
thấu.
+ Ức chế tổng hợp protein vi khuẩn: làm cho quá trình sinh mã hóa không
chính xác, ngăn cản việc gắn các acid amin vào chuối polypeptid
+ Ức chế tổng hợp acid nhân vi khuẩn: ngăn cản quá trình sao mã, ngăn cản
quá trình nhân đôi của AND, ngăn cản ức chế quá trình tạo acid nucleic.
+ Ức chế tổng hợp vách tế bào vi khuẩn
+ Làm thay đổi tính thấm của màng tế bào
* Phân loại dựa theo cấu trúc hóa học gồm:
+ Nhóm Beta lactam
+ Nhóm Aminoglycosid
+ Nhóm Macrolid
+ Nhóm Phenicol
ii
LỜI MỞ ĐẦU
Thực tập tốt nghiệp là khâu cuối cùng và quan trọng nhất trong suốt quá trình
hợp nhiếm khuẩn nặng di vi khuẩn Gram âm, đặc biệt là nhiễm Pseudomonas
aeruginosa . Phổ kháng khuẩn và cơ chế của Colisin cũng như Polymicin B, nhưng
colistin sulface thì có tác dụng hơi kém hơn, còn colistin sulformethat thì có tác
dụng yếu hơn nhiều polymycin.
Colistin tác dụng tại phổi chỉ giới hạn ở các vi khuẩn Gram âm : Pseudomonas
aeruginosa, E.coli, klebsiella, enterobacter, salmonella, sigella…chưa thấy nói đến
vi khuẩn trở nên kháng thuốc theo cơ chế di truyền qua trung gian plasmid.
Colistin được hấp thu qua đường tiêu hóa và không được hấp thu qua da lành.
Sau khi uống hay được truyền từ sữa mẹ với lợn con theo mẹ thì thuốc đào thải qua
phân dưới dạng không đổi.
Colistin sulformethat đào thải chủ yếu ở cầu thận dưới dạng không đổi hoặc
dạng chuyển hóa.
Nova - amoxicol là kháng sinh kết hợp, phổ rộng. Thuốc có tác dụng chống
các bệnh nhiễm khuẩn chung và các bệnh gây ra do vi khuẩn Gram (-), Gram (+),
sprirochele…
Sự kết hợp Amoxicillin và Colistin là một nghiên cứu khoa học đem lại hiệu
quả cao trong phòng trị bệnh, thuốc có phổ kháng khuẩn rộng.
* Cách sử dụng
Bổ sung vào thức ăn của lợn nái, tác động lên lợn con qua việc bú sữa mẹ.
Đây là các hợp chất có tác dụng hạn chế hoặc ngăn chặn vi khuẩn phát triển. Bao
gồm các kháng sinh (các chất nấm men, mốc và các vi sinh vật khác tạo ra một cách
tự nhiên), các hóa chất trị liệu, các chất được tổng hợp bằng phương pháp hóa học.
Chúng được bổ sung vào thức ăn với hàm lượng thấp, dưới liều điều trị để kích
thích sinh trưởng, tăng cường hiệu quả sử dụng thức ăn, giảm tỷ lệ chết và còi cọc,
tăng khả năng sinh sản. Các chất kháng khuẩn cũng được dùng từ liều trung bình tới
14
liều cao để ngăn ngừa lợn có mang mầm bệnh và để trị bệnh của lợn. Hiện tại có 17
15
thuốc (FDA) coi là thuốc. Hướng dẫn mức sử dụng, sự kết hợp và thời gian cho giết
mổ, được FDA quy định và xuất bản hàng năm.
Theo Hays, (1978) [20]; Zimmerman, (1986) [23] và Cromwell, (1991) [19]
đã nghiên cứu tác dụng của các chất kháng khuẩn làm tăng năng suất và hiệu quả ở
lợn đã được công bố trên nhiều tài liệu. Tóm tắt từ 1194 thí nghiệm trên 32555 con
lợn cho thấy tác dụng của chất kháng khuẩn làm tăng tốc độ sinh trưởng 16,4% đối
với lợn sau cai sữa (7 – 25kg), 10% đối với lợn choai (17 – 49kg) 4,25 đối với lợn
vỗ béo (64 – 89kg).
Theo Madox, (1985) [21] đã tóm tắt trong 67 thí nghiệm ở lợn con khi bổ
sung kháng khuẩn tỷ lệ chết giảm một nửa (4,3% so với 2%), ngay cả khi bệnh nặng
lợn con cũng chết ít hơn (15,6% so với 3,1%).
Theo Cromwell, (1991) [19] cho biết chất kháng khuẩn cũng có tác dụng
trong việc cải thiện năng suất sinh sản. Tóm tắt 9 thí nghiệm (1931 nái) thấy tỷ lệ đẻ
tăng từ 75,4% ở lô đối chứng lên 82,15% ở lô thí nghiệm số con đẻ ra sống tang từ
10 lên 10,4 con khi bổ sung kháng khuẩn. Trong 11 thí nghiệm (2105 nái) có dùng
chất kháng khuẩn trong khẩu phần ăn lúc nuôi con, tỷ lệ sống đến lúc cai sữa tăng
(84,9% so với 87,1% sơ sinh sống) và trọng lượng cai sữa cũng tăng.
Theo Smith, (1969) [22] cho biết vi khuẩn ở động vật không tấn công một
cách hiệu quả ở người, nếu không dùng các liều cực lớn và mặc dù vậy chúng cũng
chỉ có hiệu lực thoảng qua.
2.2.2. Tình hình nghiên cứu trong nước
Trong chăn nuôi, kháng sinh được dùng để chữa bệnh và cũng được dùng như
một chất kích thích tăng trưởng theo con đường bổ sung vào thức ăn. Kháng sinh bổ
sung vào thức ăn chăn nuôi có tác dụng ức chế và loại bỏ sự hoạt động của vi khuẩn
bệnh, đặc biệt vi khuẩn gây bệnh đường tiêu hóa và hô hấp trên động vật non, nhờ
vậy làm cho chúng khỏe mạnh, tăng trưởng tốt (cải thiện 4-16% tốc độ tăng trưởng
và 2-7% hiệu suất lợi dụng thức ăn), sử dụng kháng sinh cho lợn hay gia cầm trong
vật luôn ổn định đảm bảo sự cân bằng cho hệ tiêu hóa. Nếu sự cân bằng này bị phá
vỡ thì những vi khuẩn có hại cạnh tranh phát triển gây rối loạn đường tiêu hóa, gây