Sự giao thoa thể loại trong truyện ngắn Vũ Trọng Phụng - Pdf 29


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
===========
NGUYỄN THỊ LAN HƯƠNG SỰ GIAO THOA THỂ LOẠI
TRONG TRUYỆN NGẮN CỦA VŨ TRỌNG PHỤNG

Chuyên ngành: Lý luận văn học
Mã số: 60 22 01 20

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. Phạm Thành Hưng
HÀ NỘI - 2013

tôi nghiên cứu không trùng với kết quả nghiên cứu của các tác giả khác.

Hà nội, tháng 01 năm 2013
Học viên Nguyễn Thị Lan Hương
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1. Lí do chọn đề tài 1
2. Lịch sử vấn đề 3
3. Mục đích nghiên cứu 4
4. Nhiệm vụ nghiên cứu 4
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
6.Phương pháp nghiên cứu 5
7. Dự kiến đóng góp luận văn 5
8. Cấu trúc luận văn 6
CHƯƠNG 1: TRUYỆN NGẮN VŨ TRỌNG PHỤNG TỪ GÓC NHÌN
ĐẶC TRƯNG THỂ LOẠI 7
1.1. Khái niệm truyện ngắn 7
1.2. Một số nét đặc trưng thể loại 8
1.2.1. Dung lượng 9
1.2.2. Cốt truyện 10
1.2.3 Kết cấu 11
1.2.4. Tình huống trong truyện ngắn 18
1.2.5. Nhân vật. 21
1.3. Truyện ngắn Vũ Trọng Phụng 26
1.3.1. Truyện ngắn – những đường biên thể loại 26
1.3.2 Ranh giới thể loại và vấn đề liên văn bản 32
CHƯƠNG 2: CHẤT PHÓNG SỰ VÀ CHẤT TIỂU THUYẾT TRONG

TÀI LIỆU THAM KHẢO 107
1
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Vũ Trọng Phụng là một tác gia tiêu biểu của nền văn học Việt Nam
hiện đại với những đóng góp ở nhiều thể loại như: phóng sự, tiểu thuyết,
truyện ngắn. Ông là một hiện tượng độc đáo, là nhà văn được giới nghiên cứu
đánh giá, bình luận khác nhau, thậm chí cả trái chiều. Nhưng xưa nay, các
công trình nghiên cứu thường xoáy sâu vào tiểu thuyết của nhà văn này mà
lãng quên mảng truyện ngắn của ông. Trong khi đó, thành tựu truyện ngắn
Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945 không chỉ được tạo nên bởi những cây bút
tài năng với phong cách nghệ thuật độc đáo như Nguyễn Công Hoan, Nhất
Linh, Khái Hưng, Thạch Lam, Tô Hoài, Nguyên Hồng, Nam Cao mà truyện
ngắn Vũ Trọng Phụng cũng đã góp phần xứng đáng vào sự phát triển của nền
văn học Việt Nam thế kỷ XX. Chân dung của nhà văn sẽ hoàn thiện và tỏa
sáng hơn nếu chúng ta đặt lại vị trí cho những truyện ngắn xuất sắc của ông.
Có thể nói, truyện ngắn chính là mối duyên đầu đưa Vũ Trọng Phụng
đến với nghiệp văn. Điều cần thiết để khẳng định giá trị của sự sáng tạo nghệ
thuật của bất kì tác giả nào là phải đi sâu vào toàn bộ sự nghiệp sáng tác của
tác giả. Có như vậy mới tạo được cái nhìn toàn diện, chính xác, khái quát về
những đóng góp đối với nền văn học nước nhà. Vũ Trọng Phụng cũng không
phải là ngoại lệ. Vì vậy, việc nghiên cứu truyện ngắn của Vũ Trọng Phụng là
một yêu cầu hết sức cần thiết, là công việc vô cùng quan trọng giúp đánh giá
chuẩn xác hơn về sự nghiệp văn chương của ông.
Những tiểu thuyết Số đỏ hay Giông tố của Vũ Trọng Phụng đã được
nghiên cứu rất nhiều và ở đó người ta thấy được một tài năng văn chương
tổng hợp của ông. Những tiểu thuyết đó đã thể hiện được tầm vóc và khả năng
đan xen với thể loại khác trong dung lượng lớn của nó. Có nhà nghiên cứu đã
gọi đó là những tiểu thuyết phóng sự. Nhưng có một điều không ai ngờ rằng,
2

với công trình Truyện ngắn Việt Nam 1930-1945, Nxb Giáo dục, 2008, Trần
Đình Sử, Phương Lựu, Nguyễn Xuân Nam với Lý luận văn học, tập 2, Nxb
Giáo dục, 1987; Bùi Việt Thắng với Bình luận truyện ngắn, Nxb Văn học,
1999; và Truyện ngắn những vấn đề lý thuyết và thực tiễn thể loại, Nxb Đại
học Quốc gia, Hà nội, 2000; Vương Trí Nhàn với Sổ tay truyện ngắn, Nxb
Thành phố Hồ Chí Minh, 2001;
Bên cạnh đó cũng có rất nhiều các nghiên cứu về vấn đề lý luận thể loại
như: Năm bài giảng về thể loại, Hoàng Ngọc Hiến, Nxb Giáo dục, H, 1999,
Lý luận văn học, Hà Minh Đức chủ biên, Nxb Giáo dục, H, 2003, Các từ điển,
thuật ngữ viết về khái niệm các thể loại khác nhau như: Lại Nguyên Ân với
150 thuật ngữ văn học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2004;
Hầu hết các công trình vừa nêu đều tập trung đi sâu phân tích khái niệm
thể loại, chức năng thể loại, cũng như những đặc trưng của truyện ngắn hiện
đại, trong đó có truyện ngắn hiện đại Việt Nam, tuy nhiên vấn đề giao thoa
các thể loại trong một tác phẩm hay một chuỗi tác phẩm truyện ngắn của một
tác giả thì gần như vắng bóng.
Là một trong những tác gia tiêu biểu của văn học Việt Nam hiện đại,
Vũ Trọng Phụng cũng được nhiều nhà nghiên cứu, phê bình tìm hiểu. Có rất
nhiều công trình nghiên cứu về ông như: Văn Tâm với Vũ Trọng Phụng, nhà
văn hiện thực, Nxb Kim Đức, Hà Nội, 1975; Tạp chí văn học số 2, 1990 có
bài của Vương Trí Nhàn với tiêu đề Vũ Trọng Phụng và một lớp người thành
thị, một nền văn chương đô thị; Đỗ Đức Hiểu – Nguyễn Huệ Chi – Phùng
Văn Tửu – Trần Hữu Tá (chủ biên)
Tác phẩm của Vũ Trọng Phụng đã trở thành một hiện tượng “nóng” và
là đề tài quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu nhưng họ lại chủ yếu hướng tới
4
các tiểu thuyết và phóng sự của ông mà đôi khi quên mất rằng ông có một số
lượng truyện ngắn và kịch cũng không kém phần xuất sắc. Cũng vì vậy,
những công trình nghiên cứu riêng về truyện ngắn Vũ Trọng Phụng không
nhiều. Truyện ngắn Vũ Trọng Phụng chỉ mới xuất hiện gần đây bằng những

Phạm vi nghiên cứu: Trên cơ sở tìm hiểu những truyện ngắn trong
tuyển tập trên của Vũ Trọng Phụng, chúng tôi có sự đối chiếu, so sánh với đặc
trưng của các thể loại khác để tìm ra sự đan xen, hòa quyện của các thể loại
trong sáng tác truyện ngắn của Vũ Trọng Phụng. Qua đó, cũng có những liên
hệ với các tác phẩm thuộc thể loại khác của ông.
6.Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được mục đích và giải quyết được những nhiệm vụ mà luận văn
đặt ra, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau: Phương pháp cấu
trúc hệ thống, Phương pháp phân tích tổng hợp, Phương pháp đối chiếu và so
sánh. Trong ba phương pháp trên , phương pháp đối chiếu so sánh là phương
pháp ưu tiên sử dụng, vì chúng tôi xuất phát từ quan niệm cho rằng, chỉ có thể
thấy được tính giao thoa thể loại trong tác phẩm của nhà văn khi những đặc điểm
nghệ thuật truyện ngắn đó được tham chiếu từ những tiêu chí thể loại khác.
7. Dự kiến đóng góp luận văn
Việc thực hiện đề tài này có khả năng giúp chúng ta có một cái nhìn
toàn diện, chính xác hơn về những đóng góp của Vũ Trọng Phụng cho sự phát
triển của nền văn học dân tộc, đặc biệt đóng góp trong lĩnh vực truyện ngắn
và nghệ thuật viết truyện ngắn. Đồng thời cũng giúp ta hiểu sâu hơn về những
vấn đề liên quan đến giao thoa thể loại.
Bên cạnh đó, đề tài cũng góp phần khẳng định giá trị truyện ngắn Vũ
Trọng Phụng, tạo cái nhìn khách quan và chính xác về tài năng cũng như sức
sáng tạo nghệ thuật trong toàn bộ sự nghiệp sáng tác của ông, thấy được bản
chất nghệ thuật được bồi đắp trong chính con người Vũ Trọng Phụng.
6
8. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phần nội dung
luận văn gồm 3 chương sau:
Chương 1: Truyện ngắn Vũ Trọng Phụng từ góc nhìn đặc trưng
thể loại.
Chương 2: Chất phóng sự và chất tiểu thuyết trong truyện ngắn Vũ

Về phía các nhà văn sáng tác truyện ngắn thì mỗi người lại có những
quan niệm truyện ngắn rất riêng. Nhà văn Nguyễn Kiên: “ Tôi cho rằng mỗi
truyện ngắn là một trường hợp Trường hợp ở đây là một màn kịch chớp
nhoáng, có khi là một trạng thái tâm lý, một biến chuyển tình cảm kéo dài,
chậm rãi trong nhiều ngày. Nhưng nhìn chung thì vẫn có thể gọi là một trường
hợp” [28,tr.38]. Như vậy, chúng ta có thể thấy, cụm từ một trường hợp đã thể
hiện được tính chất của truyện ngắn, một: dung lượng thuộc về số ít, trường
hợp thể hiện rõ ý nghĩa điển hình của sự vật, sự việc, tình huống
Nhà văn Nguyên Ngọc lại có quan niệm: “ Truyện ngắn là một bộ phận
của tiểu thuyết nói chung” vì thế “ không nên nhất thiết trói buộc truyện ngắn
vào những khuôn mẫu gò bó. Truyện ngắn vốn nhiều vẻ. Có truyện viết về cả
một đời người, lại có truyện chỉ ghi lại một vài giây phút thoáng qua”
8
[56,tr.23]. Và thực tế, trong văn học Việt Nam, giới nghiên cứu đã nhận xét
về những mầm mống tiểu thuyết trong một số truyện ngắn của các tác giả như
Nguyễn Minh Châu, Nam Cao và còn có cả những tác giả của giai đoạn văn
học trước đó mà chúng ta sẽ tìm hiểu trong phần sau.
Tuy có những quan niệm rất khác nhau về truyện ngắn như vậy, nhưng
trên cơ sở của những nghiên cứu có tính hàn lâm, được rút ra từ những cuốn
từ điển văn học, thuật ngữ nghiên cứu văn học, chúng ta vẫn có những định
nghĩa truyện ngắn mang tính nền tảng cho mọi nghiên cứu, mọi quan niệm.
Từ điển văn học (tập 2, Nxb Khoa học xã hội, H, 1984) đã đưa ra cách hiểu
truyện ngắn: “Hình thức tự sự cỡ nhỏ. Truyện ngắn khác với truyện vừa ở
dung lượng nhỏ hơn, tập trung mô tả một mảnh cuộc sống: một biến cố hay
một vài biến cố xảy ra trong một giai đoạn nào đó của đời sống nhân vật, thể
hiện một khía cạnh nào đó của vấn đề xã hội. Cốt truyện của truyện ngắn
trường diễn ra trong một không gian và thời gian hạn chế. Kết cấu của truyện
ngắn cũng không chia thành nhiều tuyến phức tạp. Truyện ngắn được viết ra
để tiếp thu liền một mạch, đọc một hơi không nghỉ nên đặc điểm của truyện
ngắn là tính ngắn gọn ”. Từ điển thuật ngữ Văn học ( Nxb Đại học Quốc gia

1.2.1. Dung lượng
Dung lượng được hiểu là kích cỡ, sức chứa, lớn nhỏ, là khả năng bao
quát hiện thực, là sức chứa chất liệu đời sống, dung lượng được hiểu theo
nghĩa khả năng của nội dung phản ánh hiện thực của thể loại. Nếu tiểu thuyết
là một hình thức tự sự cỡ lớn, miêu tả cuộc sống trong quá trình phát triển với
một cấu trúc phức tạp (nhiều cốt truyện, chủ đề, nhân vật) với nhiều số phận,
tính cách đan xen thì truyện ngắn là một hình thức tự sự cỡ nhỏ, chỉ thể hiện
một bước ngoặt, một trường hợp hay một tâm trạng nhân vật. Nếu tiểu thuyết

10
miêu tả quá trình thì truyện ngắn miêu tả kết quả, nếu tiểu thuyết mở ra một
diện rộng thì truyện ngắn tập trung xoáy vào một điểm. Tuy nhiên, dung
lượng nhỏ gọn đó của truyện ngắn không ảnh hưởng đến hiệu quả và chất
lượng tác phẩm, mà ngược lại nhiều tác phẩm truyện ngắn nhưng về dung
lượng và chất lượng không hề thua kém tiểu thuyết như các sáng tác của
Nguyễn Minh Châu, nguyễn Huy Thiệp
Hiện nay, các nhà văn Việt Nam đã dần khẳng định xu thế tiểu thuyết
hóa truyện ngắn: “Dung lượng truyện ngắn hiện nay rất lớn, trong độ ba trang
mấy nghìn chữ mà rõ mặt cuộc đời, một kiếp người, một thời đại. Các truyện
ngắn bây giờ rất nặng. Dung lượng của nó là dung lượng của cả cuốn tiểu
thuyết” [56,tr.67]. Sự thay đổi dần về dung lượng và sự mở rộng về khả năng
phản ánh, tái hiện của truyện ngắn đã giúp nó tiến gần đến với tiểu thuyết
hơn. Tuy nhiên, dù có chứa đựng những đặc trưng của tiểu thuyết thì truyện
ngắn vẫn có sự khác biệt để khu biệt nó với tiểu thuyết.
1.2.2. Cốt truyện
Arixtốt, nhà triết học vĩ đại của Hy Lạp cổ đại trong tác phẩm Nghệ
thuật thi ca đã định nghĩa cốt truyện như sau: “ cốt truyện dùng để mô phỏng
hành động cũng phải là sự miêu tả một hành động, hành động hoàn chỉnh và
các phần của sự kiện cần phải sắp xếp như thế nào để khi thay đổi hay bỏ đi
một phần thì cái chỉnh thể cũng biến động theo bởi cái gì mà có hoặc thiếu nó

1.2.3.1. Kết cấu trần thuật dạng “truyện lồng trong truyện”
Trong bài viết “Sự di chuyển của kết cấu truyện lồng truyện và kiểu
truyện khung trong văn học từ Ấn Độ sang Đông Nam Á (trích từ trang web
www. khoavanhocngonngu.edu.vn), tác giả Nguyễn Ngọc Bảo Trâm cho ta
biết được kết cấu truyện lồng truyện ở góc độ một thủ pháp văn chương đã
xuất hiện rất sớm trong lịch sử văn học thế giới. Nói một cách đơn giản, đây

12
là thủ pháp để lồng ghép một câu chuyện độc lập (có liên quan hoặc không về
mặt nội dung) vào tác phẩm chính trong quá trình diễn tiến của tác phẩm. Có
thể thấy biểu hiện xa xưa của nó trong sử thi Odysseus của Hy Lạp (khoảng
thế kỷ IX - VIII trước công nguyên) khi người anh hùng Uylix tự kể lại những
chuyện phiêu lưu của mình trong bữa tiệc. Từ thời cổ đại, kết cấu truyện lồng
truyện đã được văn học Ấn Độ sử dụng triệt để để tạo nên hai thiên sử thi đồ
sộ nhất trong lịch sử nhân loại là Mahabharata (thế kỷ V trước công nguyên)
và Ramayana (khoảng thế kỷ IV-III trước công nguyên).
Với truyện ngắn Việt Nam đầu thế kỷ XX, kết cấu truyện lồng trong
truyện là một lối kết cấu mới mẻ, thể hiện việc chịu ảnh hưởng phương Tây
rõ nét, mà tác phẩm đầu tiên cần kể là Truyện thầy Lazarô Phiền của
Nguyễn Trọng Quản. Trong Truyện Thầy Lazarô Phiền có tới hai chuyện:
chuyện thứ nhất là của nhân vật “tôi” kể cho bạn đọc nghe về cuộc gặp gỡ
giữa bản thân và thầy Phiền, chuyện thứ hai chính thầy Phiền đã kể lại
chuyện đời mình cho nhân vật “tôi” nghe từ việc thầy đã lấy được một người
vợ đáng yêu như thế nào, thầy đã nghi ngờ và tìm cách giết vợ ra sao, và
những ăn năn dằn vặt của thầy …).
Một đặc điểm đáng lưu ý nữa là ở những tác phẩm có kết cấu truyện lồng
trong truyện như vừa nêu trên là những câu chuyện trong một truyện không tách
rời mà luôn được đan cài vào nhau rất linh hoạt, tự nhiên, cho người đọc những
ấn tượng về sự chân thực của chuyện được kể, kéo họ lại gần với thế giới nghệ
thuật của tác phẩm hơn, đồng thời tạo sự sinh động cho truyện.

Trọng Phụng đã dựng lên sự đối lập gay gắt giữa quá khứ và thực tại, giữa
thiện tâm và ác tâm, giữa vị tha và ích kỉ để phê phán sự bội bạc, bất nhân của
người đời và tố cáo cái nghèo làm nhân cách con người dần thảm hại như nó.

14
Mỗi một truyện ngắn có kết cấu “truyện lồng trong truyện” dường như
đều mang trong đó một nghĩa lí nào đó mà tác giả muốn đem lại cho người
đọc. Lồng ghép những mảnh đời vào câu chuyện, tác giả không chỉ làm đa
dạng hóa kết cấu trần thuật mà phần nào đó đã nêu bật được tình cảm, thái độ
của ông dành cho cuộc đời, cho kiếp người. Có cảm giác đọc truyện ngắn Vũ
Trọng Phụng như đến với một quyển sách với nhiều chương, mỗi một chương
lần giở ra lại thấy hiện lên một cảnh đời, một câu chuyện khác nhau. Điều ấy
khiến quyển sách chưa bao giờ nhàm chán, luôn mới lạ, hấp dẫn, kích thích
người đọc khám phá tiếp tục để hiểu thêm bao nhiêu trang đời đã nén chặt, đã
được lồng ghép trong quyển sách số phận ấy. Lại có một hình dung khác về
những câu chuyện trên, nó cứ như những bông hoa đang chớm nở. Ta phải
bóc dần từng cánh từng cánh để thấy được cái nhụy bên trong – một cái nhụy
mang ý nghĩa nhân sinh sâu sắc như một hạt giống lành để lại mùa sau.
1.2.3.2. Kết cấu đảo trình tự thời gian
Trong truyện ngắn Người có quyền, tác giả lại kể về cuộc đời một nhân
vật “văn dốt, vũ dát, hai mươi bảy tuổi đầu còn ăn bám vào mẹ, cả ngày đi
tìm mấy gia đình nhàn cư bất thiện để gạ đánh cờ không tiền hay là chầu rìa
tổ tôm”, nói tóm lại là dở ông dở thằng. Nhưng ông không bắt đầu câu chuyện
từ điều ấy mà khơi nguồn từ tâm trạng hớn hở của nhân vật khi hôm nay anh
ta đã được làm cha một đứa trẻ con – kết quả mối tình của anh và “một người
đàn bà góa chồng rất trẻ, cũng vui vẻ, nhí nhảnh…mà anh đã chim”. Để nhân
vật triết lí về hạnh phúc, sung sướng với thực tại trong sự hồi tưởng ngược
dòng về quá khứ, Vũ trọng Phụng cho người đọc những bất ngờ: con người
như thế mà sao may mắn đến vậy? Nhưng không, đó chỉ là cách nhà văn che
giấu cho một tương lai gần rất bi kịch mà hợp lí: con là con người ta, nhân

đã khiến chúng ta thêm ngậm ngùi buồn đau cho số phận con người.

16
Những truyện ngắn trên là minh chứng tiêu biểu cho lối trần thuật đảo
trình tự thời gian của Vũ Trọng Phụng. Xét ở khía cạnh kết cấu trần thuật,
cách kể chuyện này ít nhiều cũng đã hình thành nên một nét đặc sắc cho
truyện ngắn của tác giả.
1.2.3.3. Kết cấu theo diễn biến tâm lí của nhân vật
Có thể nói đây là kiểu kết cấu mới mẻ nhất trong văn học Việt Nam
giai đoạn đầu thế kỷ XX. Đó là kiểu kết cấu của những tác phẩm có cốt truyện
tâm lí nhằm miêu tả những diễn biến tinh vi, phức tạp của đời sống nội tâm
con người. Trong những truyện này, chỉ có một vài sự việc, còn lại là cảm
giác, suy nghĩ của nhân vật với những hồi ức, liên tưởng và độc thoại nội tâm.
Nếu có sự kiện thì sự kiện chỉ đóng vai trò khơi gợi cho dòng chảy tâm lý.
Tiêu biểu cho truyện có kết cấu tâm lý này là những truyện của tác giả thuộc
dòng truyện ngắn trữ tình như Thạch Lam, Thanh Tịnh và sau này được tiếp
nối, phát huy, thành công rực rỡ với Nam Cao.
Hẳn nhiên mạch truyện được triển khai theo tâm lý nhân vật nhưng vẫn
phải bám sát vào cá sự kiện, dựa vào sự kiện. Do vậy, để có một truyện hay,
người viết không chỉ miêu tả tâm lý mà là phân tích tâm lý, phân tích gắn với
sự kiện, vì sao chỉ có sự kiện ấy thì tâm lý nhân vật mới có biểu hiện như vậy.
Dẫu không nhiều nhưng một số truyện ngắn của Vũ Trọng Phụng đã
được cấu trúc theo chính diễn biến tâm lý của nhân vật. Rửa hờn, nhân quả,
Duyên không đi lại, Chống nạng lên đường…là những truyện ngắn như vậy.
Với Chống nạng lên đường, tác giả cấu trúc truyện ngắn này phần lớn
theo diễn biến tâm lý nhân vật Hai Xuân. Câu chuyện bắt đầu với nỗi buồn,
dần chuyển sang hoài niệm xa xôi về một quá khứ đẹp tươi, rồi ai oán khi
nghĩ đến cảnh nhà túng thiếu và phận ăn nhờ của mình. Dần dần tác giả mở
rộng ra những cảnh mà Hai Xuân đã trông thấy ở trên cầu, bao nhiêu cảnh
tượng yên bình mở ra nhưng thực chất đó là cố nhìn, cố quên để qua cơn đói

18
chịu cùng, chịu hơn thế thì mới hả. Khám phá, cắt nghĩa và rồi tái hiện cụ thể
tâm lý ấy qua diễn biến câu chuyện, Vũ Trọng Phụng khiến ta khó lòng nhẹ
nhõm dù tác phẩm đã kết lại bằng cái cười to sung sướng của nhân vật.
1.2.4. Tình huống trong truyện ngắn
Vấn đề tình huống đã được giới nghiên cứu quan tâm từ rất sớm. Thế
kỷ thứ XIX nhà triết học, mỹ học lỗi lạc người Đức Hêghen (1770 – 1831),
trong công trình Triết học về Mỹ học đã dành nhiều trang bàn về tình huống
trong nghệ thuật.
Các nhà văn Việt Nam quen dùng chữ tình thế hơn là tình huống. tình
huống chính là tạo hành động cho nhân vật của mình. Các nhà văn coi trọng
việc lựa chọn tình huống đặc thù cho các nhân vật. Các tình huống truyện
không mở ra cái thế thúc đẩy hành động thông thường cho nhân vật phát triển
mà nhằm thúc đẩy một hành động khác – hành động tâm lý.
Tóm lại, tình huống là cái “khoảnh khắc cốt yếu”, khi nhân vật đặt
trong hoàn cảnh đó, nhất định phải bộc lộ tính cách chủ yếu của mình,
tính cách ấy chi phối cách sống, cách nghĩ, cách ứng xử, đường đi nước
bước và cả số phận của cuộc đời mình.
1.2.4.1. Tình huống hài kịch
Hài kịch thiên về phê phán cái xấu, cái lố bịch, cái lỗi thời để tống tiễn
nó ra khỏi đời sống xã hội. Nhân vật của tình huống hài kịch thường không có
sự tương xứng giữa thực chất bên trong với danh nghĩa bên ngoài của mình
nên trở thành lố bịch.
Qua khảo sát của chúng tôi, tình huống “hài kịch” ở truyện ngắn của
Vũ Trọng Phụng xuất hiện khá nhiều. Trong Sư cụ triết lý, tình huống bắt đầu
từ nguy cơ nhà chùa quẫn bách đến nơi bởi lẽ ít lâu nay khách thập phương
không năng lui tới cửa thiền. Song, điều đó đối với Sư Tăng Sương không
phải là vấn đề: đã có chí tu đến thành Phật, ai nỡ đâu quan tâm đến chuyện

19

công chúng…kết thúc bi thảm của số phận nhân vật bi kịch thường có ý nghĩa
thức tỉnh…”[18-19]
Khảo sát từ thực tế truyện ngắn Vũ Trọng Phụng, chúng tôi thấy tình
huống này không nhiều nhưng có. Cụ thể chúng ta có thể thấy ở Bà lão lòa;
Một cái chết; Chống nạng lên đường.
Trong truyện ngắn Một cái chết , bi kịch ở cuộc đời Hợi là mâu thuẫn
và sự đối lập giữa trái tim nhân hậu, giàu tình thương của một đứa bé mười
một. mười hai tuổi với sự phũ phàng, lạnh lùng của người cha và cuộc đời.
Một khối óc còn non mà đã thấy cái chân tướng cuộc đời, trong lòng xúc cảm
bao mối thương tâm mà chỉ biết phát lộ ra bằng một tiếng thở dài.[2,tr.553].
Vũ Trọng Phụng là một nhà văn, một nhà văn đích thực, viết về sự tha hóa
của con người. Tác phẩm của ông, xuất phát từ xã hội Việt Nam dưới thời
Pháp thuộc, những năm 1930 – 1940, với tất cả những tệ đoan của thời đó. Từ
những truyện ngắn đầu tiên như Một cái chết (1931), Bà lão lòa (1931), ông
đã nêu đích danh thủ phạm của những cái chết bi thương, đói khát, là lòng dạ
ác độc, không cưu mang nhau, sự nhẫn tâm giữa người với người.
1.2.4.3 Tình huống bi hài kịch
Tình huống “bi hài kịch” chính là sự phối trộn giữa hai yếu tố: bi và
hài. Nếu như tình huống “bi hài” trong truyện ngắn lãng mạn thường là cái
cười nhẹ nhàng thi vị, trữ tình, thì cái “bi hài” của truyện ngắn hiện thực phê
phán là cái cười chua chát trước thực tại đời sống.
Xã hội Việt Nam từ những năm 1930 – 1940 “không thiếu những tiếng
não nùng, ai oán, nỉ non, tiếng thở dài và cả tiếng khóc”. Trong những truyện
ngắn của mình, Vũ Trọng Phụng không chỉ cười cợt, phê phán trước những
mặt trái của xã hội mà ông cười cả trong sự buồn.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status