ĐẶC điểm các THỂ LOẠI THƠ TRUYỆN NGẮN TIỂU THUYẾT KỊCH - Pdf 11

ĐẶC ĐIỂM CỦA CÁC THỂ LOẠI
VĂN HỌC: THƠ, TRUYỆN NGẮN, TIỂU THUYẾT, KỊCH
PHẦN MỞ ĐẦU
hể loại văn học (genre - phương Tây, thể tài - Trung Quốc) là một hình thức chỉnh thể
của tác phẩm văn học. Tác phẩm văn học nào cũng có một hình thể, có một thể cấu tạo,
thể thức ngôn từ nhất định. Các hình thức cá biệt ấy hết sức đa dạng. Song giữa các tác
phẩm khác biệt ấy lại thấy có những đặc điểm gần gũi nhau về ngôn từ, hình tượng, cấu
tạo, hình thành nên những loại nhất định. Loại - đó là những nét tương đồng loại hình làm nên thể loại
văn học.
T
Thể loại văn học thuộc về phương thức, cách thể hiện cuộc sống trong văn học cũng như cách
cấu tạo và biểu hiện nội dung trong tác phẩm văn học cụ thể. Tác phẩm văn học tồn tại trong những
hình thức của các thể loại văn học : tiểu thuyết, thơ, kịch… Không có tác phẩm nào tồn tại ngoài hình
thức quen thuộc của thể loại. Phân tích một tác phẩm về nội dung cũng như nghệ thuật không thể xem
nhẹ đặc trưng thể loại.
Trong quá trình vận động của văn học, sự hình thành, phát triển và mất đi của các thể loại văn
học là hiện tượng phát triển bình thường. Các thể loại văn học tuy thay đổi qua các thời kì lịch sử song
vẫn có những mặt ổn định tiếp nối nhau từ giai đoạn này qua giai đoạn khác. Sự tiếp nối ấy ở từng thể
loại là do phương thức phản ánh cuộc sống quy định. Người ta thường nói đến 3 phương thức cơ bản :
tự sự, trữ tình và kịch. Trong loại tự sự bao gồm các thể : anh hùng ca cổ điển, trường ca, tráng ca,
diễn ca, truyện thơ, truyện ngắn, truyện vừa, tiểu thuyết, kí sự, phóng sự, hồi kí… Trong loại trữ tình
bao gồm các thể : bi ca, tụng ca, thơ trữ tình, thơ đồng quê, đoản khúc trữ tình… Loại kịch bao gồm
các hình thức bi kịch, hài kịch, hề kịch, chính kịch, ca kịch (tuồng, chèo, cải lương)… Trong báo cáo
này, chúng tôi không đi vào tìm hiểu tất cả các thể loại văn học của các phương thức biểu hiện đã từng
có trong quá trình phát triển của lịch sử văn học mà chỉ tìm hiểu một số thể loại văn học quan trọng
thường bắt gặp trong quá trình nghiên cứu và thưởng thức văn học. Trong loại tác phẩm tự sự chúng ta
sẽ nghiên cứu tiểu thuyết và truyện ngắn. Trong loại tác phẩm trữ tình, chúng ta sẽ tìm hiểu về thơ.
Trong loại tác phẩm kịch chúng ta tìm hiểu thể chính kịch.
PHẦN NỘI DUNG
I. ĐẶC TRƯNG THƠ
• Khái niệm chung

không có màu xanh. Lẽ ra nụ tầm xuân nở ra phải chúm chím ửng hồng. Sao ở đây lại xanh biếc, lại
vô lí đến thế ? Chính cái phi lí này đã nói lên điều hữu lí của tình yêu : sự nuối tiếc của chàng trai, ngỡ
ngàng khi ta chẳng cưới được nhau, khi em đã có chồng.
2. Tính cá thể hóa của tình cảm trong thơ
Thơ bao giờ cũng tự biểu hiện cái tôi tác giả dù nhà thơ có ý thức điều đó hay không. Thơ là
gương mặt riêng của mỗi người. Qua từng trang thơ, dòng thơ, người đọc được tiếp xúc trực tiếp với
một cá tính, một cuộc đời, một tâm hồn. Thơ Hồ Xuân Hương là tiếng nói của cái tôi phóng khoáng và
nổi loạn, chống lại những phép tắc của lễ giáo phong kiến. Thơ Hàn Mặc Tử lại tiếng kêu của một
hồn thơ đau thương tuyệt vọng nhưng đầy khát vọng sống.
Cái tôi là yếu tố tất yếu để chiếm lĩnh đời sống, nhưng không có nghĩa rằng cái tôi chính là nội
dung của thơ. Nội dung của thơ phải mang ý nghĩa nhân loại : Thơ đi từ chân trời của một người đến
chân trời của tất cả (Pôn Eluya).
3. Chất thơ của thơ
Chất thơ chính là chất dư ba, thơ không nói ở những điều nó viết ra, mà nói ở những chỗ
trống, chỗ trắng, chỗ im lặng giữa các chữ, các lời (ý tại ngôn ngoại). Ví dụ : Chất thơ của bài Mời
trầu của Hồ Xuân Hương không ở những thứ đem mời, cách mời, mà ở cảm nhận đời sống toát ra từ
sự mời trầu ấy. Đó là niềm khao khát giao duyên nhưng không còn ảo tưởng. Nhà thơ Tố Hữu cũng
nói : Thơ là cái đó: sự im lặng giữa các từ. Nếu người ta lắng nghe cái im lặng đó, thì có những tiếng
dội vang rất đa dạng và tinh tế.
II. Đặc trưng hình thức của thơ
1. Thơ biểu hiện bằng biểu tượng, ý tượng
Thơ biểu hiện bằng biểu tượng mang nghĩa, các ý tượng, hình ảnh có ngụ ý. Như trong bài thơ
Tràng giang có các hình ảnh : sóng gợn tràng giang, con thuyền xuôi mái, củi một cành khô. Hình ảnh
củi một cành khô vừa gợi sự khô héo, vô định trên dòng nước, vừa nói lên được cái nhỏ bé của kiếp
người.
Biểu tượng trong thơ thường gián đoạn, không liên tục, có nhiều khoảng trống, khoảng trắng,
tựa như khoảng trắng trong tranh thủy mặc của Tề Bạch Thạch buộc người đọc phải suy đoán. Trong
bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ, khổ 1 là biểu tượng của lời mời tha thiết, khổ 2 là biểu tượng của sự chia lìa,
khổ 3 là biểu tượng của mong đợi và hoài nghi. Biểu tượng cho phép thơ không phải kể lể, không chạy
theo tính liên tục bề ngoài mà nắm bắt thẳng những hình ảnh nổi bật nhất, cô đọng nhất, giàu hàm ý

chyện kể đủ loại tạp nham ngoài phạm vi lục kinh, tuy đã nói tới một đặc điểm quan trọng của tiểu
thuyết là ngoài phạm vi kinh sử, nhưng cũng chưa phải là thể loại văn học. Phải đến thời Đường, Tống
mới có hình thức tiểu thuyết thoại bản. Khái niệm tiểu thuyết hiện đại phải đến cuối thế kỉ XIX, đầu
thế kỉ XX mới có, gọi là tiểu thuyết trường thiên, tiểu thuyết trung thiên, tiểu thuyết đoản thiên…
Ở phương Tây, người ta dùng từ Story để chỉ truyện ngắn, còn từ Novel để chỉ các truyện mới lạ,
tân kì. Người ta dùng Novel để chỉ tiểu thuyết trường thiên, vì truyện dài ở Châu Âu gọi là roman, có
cội nguồn từ thể loại romance (truyện truyền kì thời trung đại).
Ở Việt Nam, đầu thế lỉ XX người ta mới sử dụng thuật ngữ Tiểu thuyết như ở Trung Quốc. Nhưng
đồng thời vẫn sử dụng thuật ngữ truyện. Truyện dài, truyện vừa, truyện ngắn hoàn toàn đồng nghĩa với
các thuật ngữ trường thiên tiểu thuyết, trung thiên tiểu thuyết, đoản thiên tiểu thuyết. Tuy vậy, thuật
ngữ truyện có cội nguồn sử học và phát triển từ thời trung đại. Thuật ngữ tiểu thuyết mang nội hàm
hiện đại của thể loại văn học Châu Âu. Có thể nói từ truyện đến tiểu thuyết là hai giai đoạn phát triển
của cùng một loại hình văn học. Trong tiếng Việt hiện đại, người ta dùng thuật ngữ tiểu thuyết để chỉ
tác phẩm truyện có quy mô lớn, còn quy mô nhỏ và vừa vẫn gọi là truyện.
1. Đặc trưng nội dung của tiểu thuyết
1.1. Tiểu thuyết miêu tả cuộc sống hiện tại không ngừng biến đổi, sinh thành trên cơ sở kinh
nghiệm của cá nhân.
1.2. Là một thể loại cao cấp nhất thuộc phương thức tự sự, tính chất văn xuôi, vì vậy, trở thành
đặc trưng tiêu biểu cho nội dung của tiểu thuyết. Tính chất đó đã tạo nên trường lực mạnh mẽ để thể loại
dung chứa toàn vẹn hiện thực, đồng hóa và tái hiện chúng trong một thể thống nhất với những sắc màu
thẩm mỹ mới vượt lên trên hiện thực, cho phép tác phẩm phơi bày đến tận cùng sự phức tạp muôn màu
của hiện thực đời sống. Như vậy chất văn xuôi còn có thể hiểu là sự tái hiện cuộc sống không thi vị hóa,
không lãng mạn hóa, không lí tưởng hóa. Tiểu thuyết dường như hấp thụ vào nó mọi yếu tố ngổn ngang,
bề bộn của cuộc đời, bao gồm cái cao cả lẫn cái tầm thường, nghiêm túc và buồn cười, bi và hài, cái lớn
lẫn cái nhỏ… Chất văn xuôi như vậy thể hiện rõ trong tiểu thuyết của Balzac, Tolstoi, Sholokhov, Vũ
Trọng Phụng, Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố, Nam Cao, Nguyễn Khải…
1.3. Nhân vật tiểu thuyết là con người nếm trải trong khi nhân vật của sử thi, kịch là nhân vật
hành động. Nhân vật tiểu thuyết xuất hiện như là con người nếm trải cảm nhận, tư duy, chịu khổ đau,
dằn vặt của đời. Những nhân vật như Gôriô, Raxcônhicôp, Anna Carênina, Thứ, cha Thư… đều là
những con người nếm trải và tư duy, vì vậy mà rất tiểu thuyết. M.Bakhtin nhận xét,con người trong

tưởng khác. v.v. Nhiều thiên tài nghệ thuật đã định hình phong cách từ khả năng tổng hợp này của thể
loại, như Tolstoi với tiểu thuyết-sử thi, Dostoevski với thể loại tiểu thuyết-kịch, Solokhov với tiểu
thuyết anh hùng ca-trữ tình, Gorki với tiểu thuyết thế sự - trữ tình…
2. Đặc trưng hình thức của tiểu thuyết
2.1. Nhân vật
Nhân vật tiểu thuyết được miêu tả về nhiều mặt, tinh tế, chi tiết như con người sống. Các
thuộc tính của nhân vật được miêu tả trong quá trình, trong tổng hòa mọi bình diện, từ ý thức đến vô
thức, từ tư tưởng đến bản năng, từ mặt xã hội đến mặt sinh vật… Sự miêu tả nhân vật ở đây đạt đến
tính lập thể toàn vẹn. Tiểu thuyết không chỉ viết về 1 số người, mà còn viết về cả gia tộc, cả thế hệ,
thậm chí nhiều thế hệ. Số lượng nhân vật trong tác phẩm có thể đạt đến 500 – 600 người như trong
Chiến tranh và hòa bình hay Hồng lâu mộng.
Nhân vật tiểu thuyết là con người nếm trải mặc dù họ cũng hành động, thậm chí còn tích cực
tham gia cải tạo môi trường nhưng với tư cách là đặc trưng thể loại, nhân vật ấy lại xuất hiện như là
con người nếm trải tư duy, chịu khổ đau, dằn vặt của đời. Lão Gôriô trong Tấn trò đời của Banzac vì
tình thương yêu dành cho đứa con gái của mình đã liên tục có những hành động: lao động vất vả cả
một đời để tạo dựng cơ nghiệp cho chúng để rồi những năm tháng cuối đời phải đến trọ ở một quán trọ
tồi tàn, phải bán đi những tài sản cuối cùng để lấy tiền cho con. Nhưng dẫn thế, lão vẫn triền miên
trong những khổ đau, dằn vặt, âm thầm nếm trải, âm thầm chịu đựng vì chưa bao giờ lão nguôi nỗi lo
cho con và cũng tương tự như vậy, chưa bao giờ lão nhận được từ những đứa con của mình sự quan
tâm thật sự. Khác với nhân vật trong sử thi là con người hành động. Đăm Săn sống mãi trong niềm tự
hào của người Êde với những chiến công chống lại các tù trưởng khác để bảo vệ quyền lợi của bộ tộc
mình.
2.2. Cốt truyện
Cốt truyện tiểu thuyết có thể đơn tuyến hay nhiều tuyến, đan bện nhiều quãng thời gian. Cốt
truyện có thể giàu kịch tính như tiểu thuyết của Đôtxtôiepxki hay có thể pha loãng để thể hiện chất
triết lý hay chất trữ tình như L.Tônxtôi
2.3. Hoàn cảnh
Hoàn cảnh trong tiểu thuyết được khắc họa, phân tích rất chi tiết. Ngoài việc cung cấp không
gian cho nhân vật hoạt động, làm phương tiện bộc lộ tính cách, phân tích tâm lí, phân tích xã hội, tạo
không khí chung cho tác phẩm. Ví dụ việc miêu tả hoàn cảnh trong tiểu thuyết Lão Gôriô của

người. Chính vì vậy trong truyện ngắn thường rất ít nhân vật, ít sự kiện phức tạp. Chỗ khác biệt quan
trọng giữa tiểu thuyết và truyện ngắn là, nếu nhân vật chính của tiểu thuyết thường là một thế giới, thì
nhân vật truyện ngắn là một mảnh nhỏ của thế giới. Truyện ngắn không nhằm tới việc khắc họa những
tính cách điển hình có cá tính đầy đặn và nhiều mặt trong tương quan với hoàn cảnh. Nhân vật truyện
ngắn thường hiện thân cho một trạng thái quan hệ xã hội, ý thức xã hội hoặc trạng thái tồn tại của con
người. Mặt khác, do đó, truyện ngắn lại có thể mở rộng diện tích nắm bắt các kiểu loại nhân vật đa
dạng trong cuộc sống, chẳng hạn như chức nghiệp, xuất thân, gia hệ, bạn bè… những kiểu loại mà
trong tiểu thuyết thường hiên ra thấp thoáng trong các nhân vật phụ.
Trên đây là những đặc trưng chung nhất về mặt nội dung của thể loại truyện ngắn. Chúng tôi
muốn đi sâu vào một khía cạnh làm nên đặc trưng loại thể của truyện ngắn trong bài viết nhỏ này, đó
là chất thơ trong truyện ngắn. Thông thường, người ta chỉ chú ý đến tính chất tự sự (kể chuyện) của
truyện ngắn, tệ hơn là coi truyện ngắn như một thứ văn xuôi nôm na mách qué, hoặc thứ văn xuôi bò
sát ngọn cỏ. Đó là một quan niệm sai lầm. Truyện ngắn đích thực không bao giờ là những chuyện vặt
vãnh mà mỗi chi tiết dù nhỏ bé cũng ẩn tàng hơi thở của thời đại, nỗi đau, niềm vui của nhân thế…
Những cách tân, sáng tạo của các nhà văn bậc thầy về truyện ngắn đã khẳng định rằng, truyện ngắn,
về tạng chất của nó rất gần với thơ, thậm chí có thể nói một cách không đến nỗi quá đáng rằng, truyện
ngắn là một dạng cấu trúc đặc biệt của thơ. Có thể lấy những truyện ngắn của K.Pauxtôpxki là sự
chứng minh rõ ràng ý đặc trưng này: được cảm hứng trữ tình sâu lắng dẫn dắt, những câu truyện rất
giản dị mà Pauxtôpxki kể ra đã mất đi cái chất nôm na ngày thường của nó mà lấp lánh cái cấu trúc kỳ
ảo của những tứ thơ thể hiện những nỗi niềm ưu tư, trắc ẩn về số phận con người, thời đại… Chất thơ
trong truyện ngắn Hai đứa trẻ của Thạch Lam trước tiên toả ra từ cảnh vật quê hương được khắc hoạ
bằng ngòi bút miêu tả tài hoa của tác giả : …Khi tiếng trống thu không gọi buôỉ chiều, phương tây đỏ
rực như lửa cháy, tre làng cắt hình rõ rệt lên nền trời… Chất thơ còn toả ra trong cách tác giả miêu tả
hồn người, tinh tế trong việc nắm bắt những rung cảm tinh tế nơi tâm hồn nhân vật, tác giả dường như
hoá thân vào nhân vật Liên, cảm nhận được những tác động rất nhẹ nhàng của cảnh vật vào tâm trạng.
Có thể nói Hai đứa trẻ là một bài thơ trữ tình trọn vẹn mang trong mình sự trìu mến đối với cảnh vật
và lòng thương cảm đối với những kiếp người bình thường, nhó bé của Thạch Lam. Người ta nói
truyện ngắn của Nguyễn Tuân thường bao gồm những cảnh miêu tả hào hùng xen lẫn những giấc mơ
vời vợi. Truyện ngắn Chữ người tử tù có cái chất thơ mênh mang của bóng dáng người khởi nghĩa,
làm nền cho hành tung, hoạt động dữ dội của đám người hảo hán, những tay giang hồ phóng khoáng,

tính thời sự sát sạt, càng không phải là chuyện lạ đó đây của môi trường báo chí. Yếu tố mới lạ của
truyện ngắn là phải tạo nên được sự cuốn hút đối với người đọc vào những sự kiện đang diễn ra một
cách đầy biến động của cả đời thường và những chuyện lớn lao của thời đại. Điều cần nhấn mạnh là,
yếu tố mới lạ đó là sự xâu chuỗi cái đời thường và những cái lớn lao thành một cấu trúc nghệ thuật
hoàn chỉnh đặc biệt ngắn gọn, cô đọng của truyện ngắn khiến cho cái cụ thể và cái trừu tượng, cái cá
biệt và cái điển hình ở truyện ngắn khác hẳn tiểu thuyết : nó hòa vào nhau và dường như là một để tạo
nên sức cuốn hút mạnh mẽ ở người đọc – đọc liền một mạch. Chính ở cách đọc truyện ngắn này, một
lần nữa cho ta thấy cái phẩm chất gắn bó với thơ của nó.
Ngắn ở truyện ngắn đồng nghĩa với cô đọng, tinh chất – nhìn vào đó có thể thấy cuộc sống
hiện ra với đủ sắc màu của nó. Sự thách đố ở đây là ai viết được ngắn gọn nhất ! Lep Tonxtoi nói : Tôi
không có thời gian để viết ngắn. Còn A. Tsekhop nói : Để có một truyện ngắn tốt, trong truyện đó,
không có cái gì được thừa, cũng y như trên boong tàu quân sự, ở đó tất cả đâu vào đấy, không có gì
được thừa, truyện ngắn cũng vậy. Nghệ thuật viết, nói cho đúng ra, không phải ở chỗ viết như thế nào,
mà là nghệ thuật vứt bỏ đi những gì dở kém như thế nào… Ta sẽ dễ dàng tìm thấy không ít những ý
kiến về đặc trưng của thể loại truyện ngắn gần với quan niệm này. Chẳng hạn như : Trong các thể
loại văn chương, truyện ngắn đóng vai trò hổ báo trong đại gia đình các loài vật. Ở loài thú dữ này,
không được có chút mỡ thừa dính vào mọi cơ bắp, nếu không chúng không thể săn mồi được. Ngắn
gọn là qui luật của việc cấu tạo truyện ngắn. Nhờ có khả năng phản ánh hành động một cách ngắn
gọn, truyện ngắn có khi còn có thể đạt tới trình độ anh hùng ca và đó là cả một bí mật của nó (Hoan
Bốtsơ), Truyện ngắn là một thứ giọt nước mà không có nó không thể có đại dương . Theo tôi hiểu toàn
bộ truyện ngắn là một tấm thảm lớn lao về cả thời đại. Với những mảnh tưởng như rất nhỏ bé, nó góp
phần tạo nên cả tấm chân dung hoàn chỉnh. Truyện ngắn giống như tranh khắc gỗ, lao động nghệ
thuật ở đây đòi hỏi chặt chẽ, cô đọng, các phương tiện phải được tính toán một cách tinh tế, nét vẽ
phải chính xác. Đây là một công việc vô cùng tinh tế. Xoay xỏa trên một mảnh đất chật hẹp, chính đó
là chỗ làm cho truyện ngắn phân biệt với các thể loại khác (Ts. Aitmatốp), v.v… Sêkhôp – bậc thầy
truyện ngắn cũng quan niệm rằng truyện ngắn là biết nói ngắn những truyện dài, lời chật ý rộng.
Truyện ngắn Người trong bao của ông được đưa vào giảng dạy ở chương trình phổ thông chính là tiêu
biểu cho một truyện ngắn theo quan điểm này : Cô đọng, hàm xúc, có sự lựa chọn chi tiết đắt để có
sức biểu hiện cao nhất, gợi mở nhiều nhất.
A. Tônxtôi nhận định : truyện ngắn là một trong những thể tài văn học khó nhất. Về nội dung

mở rộng có khả năng biểu hiện đời sống mang tính hoành tráng và một nhịp trần thuật chậm rãi, trầm
tính. Ta hiểu vì sao, dẫu có phản ánh những mâu thuẫn, xung đột gay gắt của hiện thực xã hội, thì kịch tính
vẫn không phải là đặc điểm thể loại của tác phẩm tự sự. Âm mưu và tình yêu của Si- le, Vũ Như Tô của
Nguyễn Huy Tưởng, Hồn Trương Ba da hàng thịt của Lưu Quang Vũ… là những tác phẩm giàu kịch tính,
vì khi phản ánh mâu thuẫn, xung đột của hiện thực đời sống, các vở kịch ấy làm nổi bật sức mạnh của
hành động có lí do, có ý đồ, có động cơ thể hiện khuynh hướng tính cách cùng ý chí tự do của con người,
và vì hành động ấy, con người phải gánh chịu một hậu quả, một trách nhiệm nào đó. Cốt truyện của vở
kịch Âm mưu và tình yêu được xây dựng trên cơ sở mâu thuẫn giữa tình yêu trong trắng, thắm thiết của một
đôi trai tài gái sắc với những âm mưu xấu xa, đen tối của triều đình phong kiến cùng bọn quan lại nhằm
hủy hoại nó. Nhưng mâu thuẫn ấy chỉ trở nên đầy kịch tính khi nó hiện hình thành những hành động đối
nghịch giữa cha và con, giữa gia đình ông nhạc sư nghèo và tể tướng Phôn- van- te.Vở kịch là một chuỗi
những hành động liên tục, có lí do, có động cơ, có ý đồ thúc đẩy nhau và các nhân vật đều nhận được ngay
kết quả hành động của mình.
Muốn khám phá được những vấn đề thuộc về bản chất của đời sống xã hội, người viết kịch phải
tạo được những xung đột mang ý nghĩa xã hội sâu sắc. Từ những mâu thuẫn đang tồn tại trong lòng
hiện thực, người viết kịch phải tiến hành quá trình chọn lọc, tổng hợp và sáng tạo nên những xung đột
vừa mang tính khái quát lớn lao, vừa phải hết thức chân thực: nghĩa là xung đột trong tác phẩm kịch
phải được tổ chức trên cơ sở của phương thức điển hình hóa. Vở kịch Hồn Trương Ba da hàng thịt đã
khái quát được một vấn đề xã hội bức thiết lúc bấy giờ: đó là mối quan hệ giữa con người tinh thần với
con người thể xác. Những thành tựu rực rỡ của kịch thế giới đều là những tác phẩm xoáy sâu vào
những xung đột xã hội sâu sắc : bi kịch cổ đại Hi Lạp là xung đột giữa khát vọng của con người với
những quy luật nghiệt ngã của định mệnh. Bi kịch của Sêxpia là xung đột giữa lí tưởng nhân văn cao
cả với những trở lực đen tối của xã hội.
2. Hành động kịch
Theo Arixtot : Hành động là đặc trưng của kịch. Theo ông, nếu anh hùng ca phản ánh bằng hình
thức kể chuyện thì bi kịch là bằng hành động. Hêghen khi đề cập đến các phương thức phản ánh trong
văn học cũng cho rằng : nội dung chủ yếu của tự sự là sự kiện, của trữ tình là tâm trạng và của kịch là
hành động.
Hành động kịch chính là cốt truyện kịch được tổ chức một cách thống nhất, chặt chẽ trong khuôn
khổ của một chỉnh thể nghệ thuật. Hành động kịch không phải là những hành động đơn lẻ, ngắt quãng

mô tả chân dung nhân vật kịch bằng một loạt các thao tác hành động. Xem chèo Quan Âm Thị Kính, chỉ
cần nghe lời thoại trong đoạn Xã trưởng và mẹ Đốp là nhận ra ngay cái hóm hỉnh của người bình dân và sự
xảo quyệt, ngu xuẩn của tên xã trưởng. Ngôn ngữ Thị Mầu trong các cảnh Thị Mầu lên chùa, Thị Mầu đùa
anh nô… vừa thể hiện được sự lẳng lơ, đằng sau sự lẳng lơ là một bản năng sống mãnh liệt, bị dồn nén, lại
vừa thể hiện được nỗi đau của người phụ nữ, nạn nhân của xã hội cũ.
Ngôn ngữ kịch là một hình thái ngôn ngữ hội thoại gần gũi với đời sống: súc tích, dễ hiểu và ít
nhiều mang tính khẩu ngữ. Các nhân vật kịch đối đáp nhau một cách tự nhiên giản dị theo cách đối
thoại trong đời sống hằng ngày. Tuy nhiên, sự giản dị, tự nhiên ấy không hề mâu thuẫn với những
cách nói năng giàu ẩn ý, giàu hình tượng và ý nghĩa triết lí sâu xa mà chúng ta thường bắt gặp trong
tác phẩm kịch.
PHẦN KẾT LUẬN
Sáng tác văn học hết sức đa dạng, phong phú, vì thế để thưởng thức, nghiên cứu, phê bình, nắm
bắt các quy luật của văn học, người ta có nhu cầu phân loại các thể loại của tác phẩm văn học. Thể loại
văn học có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với sáng tác, thưởng thức và phê bình văn học. Dù thưởng
thức hay phê bình người đọc đều phải tuân thủ các quy tắc thể loại, không thể thường thức lệch pha
các thể loại. Chúng ta thưởng thức một bài thơ thì phải biết đến các đặc điểm của thể loại thơ, chú ý
đến vẻ đẹp của âm thanh, nhịp điệu, vẻ đẹp của cấu tứ, tình cảm, ý tứ sâu xa. Đọc một thiên tiểu thuyết
thì phải biết đến nhân vật, cốt truyện, tâm lí, các chi tiết ngoại hình, mối quan hệ nhân vật với hoàn
cảnh, kết cấu của trần thuật. Nếu dùng con mắt thơ mà đi đọc tiểu thuyết, hoặc ngược lại, dùng con
mắt tiểu thuyết mà đọc thơ thì chằng những không lĩnh hội được vẻ đẹp của tác phẩm mà còn gây ra
những hiểu lầm. Như vậy khi phân tích tác phẩm, chúng ta phải đặt ngôn từ văn học trong quy luật thể
loại thì mới hiểu đúng nghĩa của nó.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status