Mở đầu
1. Lý do chọn đề tài.
Đảng và Nhà nước đã khẳng định quan điểm chủ đạo mở rộng HTQT về
GD và tổ chức thực hiện tốt chủ trương đầu tư để phát triển GD, nâng cao chất
lượng đào tạo của nước ta: “Nỗ lực phấn đấu để GD - ĐT thực sự là quốc sách
hàng đầu cả về đầu tư tài chính, đầu tư cán bộ, tổ chức quản lý, và chính sách ưu
tiên. Bên cạnh việc tăng đầu tư cho GD từ ngân sách nhà nước Bộ chính trị cho
rằng cần phải đa dạng hoá và chú trọng phát huy các nguồn lực khác, các thành
phần kinh tế, tinh thần hiếu học của từng gia đình và mở rộng HTQT để tăng
mạnh hơn nữa đầu tư cho GD - ĐT, nhằm tăng dần điều kiện và cơ sở vật chất
bảo đảm thực hiện các mục tiêu phát triển GD như: kiên cố hoá trường học. …;
đồng thời phải hết sức chú ý kiểm tra chặt chẽ, nâng cao hiệu quả, chống lãng phí
trong đầu tư phát triển GD - ĐT. [23]
Trên cơ sở quán triệt đường lối chỉ đạo về GD - ĐT của Đảng và Nhà nước,
đặc biệt là Nghị quyết TW 2 của BCH TW Đảng Khoá XIII coi “GD là quốc
sách hàng đầu”, trong những năm qua, ngành GD - ĐT đã nỗ lực phấn đấu và
đạt được nhiều thành tựu quan trọng, tập trung phát triển GD mạnh hơn, khẩn
trương và hiệu quả hơn, theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá, đưa nền
GD nước nhà vào thế ổn định với chất lượng GD toàn diện, nhằm đào tạo có chất
lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đẩy mạnh CNH- HĐH,
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN. Trong đó, công tác GDĐH đã đạt được
những kết quả đáng khích lệ.
Trên quan điểm so sánh hệ thống, trong 20 năm đổi mới vừa qua, cùng với
những thành tựu kinh tế đạt được của cả nước, GDĐH Việt Nam đã làm được
nhiều điều đáng tự hào. Chúng ta đã bám sát xu thế phát triển của thời đại, lựa
chọn các mô hình GDĐH tiên tiến để nghiên cứu áp dụng. So sánh với các nước
trong khu vực đã bước vào nền kinh tế thị trường trước chúng ta, không phải
= 1 =
chuyển đổi cơ cấu kinh tế như ở nước ta, GDĐH Việt Nam đã tiến khá nhanh
trong thế ổn định và hội nhập.
GDĐH đã tranh thủ được sự hỗ trợ và giúp đỡ quý báu của nhiều tổ chức
Đề xuất các biện pháp tăng cường QLTH DA GDĐH góp phần nâng cao
chất lượng đào tạo ở trường ĐH Vinh.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
- Khách thể nghiên cứu: Hoạt động QLTH DA GDĐH trong trường ĐH
Vinh.
- Đối tượng nghiên cứu: các biện pháp tăng cường QLTH DA GDĐH trong
trường ĐH Vinh.
4. Giả thuyết khoa học
Trong quá trình cải cách và xây dựng hệ thống GDĐH Việt Nam, việc khai
thác có hiệu quả sự giúp đỡ của các tổ chức quốc tế, các tổ chức chính phủ và
phi chính phủ là một yêu cầu cấp thiết đối với ngành GD - ĐT. Nếu có được biện
pháp phù hợp để QLTH tốt các nguồn giúp đỡ quý báu về tài chính, cơ sở vật
chất, trang thiết bị và chuyên môn nghiệp vụ ... trong nước và quốc tế thì đó là
điều kiện hết sức thuận lợi để trường ĐH Vinh không ngừng đẩy mạnh và nâng
cao hơn nữa chất lượng đào tạo nguồn nhân lực phục vụ cho sự nghiệp CNH -
HĐH đất nước.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về QLTH DA phục vụ đào tạo ĐH trong trường
ĐH
- Đánh giá thực trạng tình hình QLTH DA GDĐH trong trường ĐH Vinh.
- Đề xuất các biện pháp QLTH DA GDĐH có hiệu quả ở trường ĐH Vinh
trong giai đoạn mới.
6. Phương pháp nghiên cứu
= 3 =
Để giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu, sử dụng 3 nhóm phương pháp nghiên
cứu sau:
6.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận:
Phân tích, tổng hợp, phân loại, hệ thống hoá, khái quát hoá văn kiện của
Đảng, Nhà nước, các chỉ thị, nghị quyết của ngành GD - ĐT, các ngành khác và
các công trình nghiên cứu, các tài liệu khoa học có liên quan đến vấn đề nghiên
9. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, khuyến nghị, luận văn gồm có 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý DA phục vụ đào tạo ĐH
Chương 2: Thực trạng công tác QLTH DA GDĐH nhằm nâng cao chất lượng
GD ĐT ở trường ĐH Vinh
Chương 3: Các biện pháp tăng cường QLTH DA GDĐH nhằm nâng cao chất
lượng đào tạo ở trường ĐH Vinh
Cuối luận văn có: danh mục tài liệu tham khảo và phần phụ lục.
= 5 =
Chương 1:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ DỰ ÁN PHỤC VỤ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC
1.1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu
DA GDĐH nhằm nâng cao chất lượng đào tạo ĐH là một trong những
hoạt động quan trọng đối với ngành GD - ĐT nói chung và trường ĐH Vinh nói
riêng, góp phần không nhỏ trong việc đào tạo nguồn nhân lực có trình độ phục
vụ cho đất nước trong thời kỳ mới.
Nghị quyết TW 2 khoá VIII đã khẳng định: “Muốn tiến hành CNH - HĐH
thắng lợi phải phát triển mạnh về GD - ĐT, phát huy nguồn lực con người, yếu tố
cơ bản của sự phát triển bền vững”[23]. Ngành GD đứng trước thử thách và khó
khăn mới, những nhiệm vụ hết sức nặng nề, chính vì vậy, công tác HTQT càng
trở nên quan trọng, góp phần vào sự nghiệp phát triển của ngành và mở rộng hợp
tác GD - ĐT, động viên cao độ các nguồn lực trong nước và tranh thủ tối đa
nguồn lực bên ngoài.
Tại Điều 109 Luật GD 2005 “khuyến khích hợp tác về GD với Việt
Nam” qui định: Tổ chức, cá nhân nước ngoài, tổ chức quốc tế, người Việt Nam
định cư ở nước ngoài được Nhà nước Việt Nam khuyến khích, tạo điều kiện để
giảng dạy, học tập, đầu tư, tài trợ, hợp tác, ứng dụng khoa học, chuyển giao công
nghệ về GD ở Việt Nam ….[36]
Công tác QLTH các DA đầu tư về GDĐH đóng vai trò đặc biệt quan
trọng đối với trường ĐH Vinh trong việc nâng cao chất lượng đào tạo nguồn
thủ sự hỗ trợ tối đa của các cá nhân, tổ chức quốc tế về GD thông qua quá trình
= 7 =
nghiên cứu hoạt động HTQT nói chung chứ chưa có các công trình nghiên cứu
về tăng cường công tác QLTH các DA đầu tư giáo dục.
Để cải cách và xây dựng nền GD Việt Nam XHCN tiến vào thế kỷ 21,
quan điểm xem GD là quốc sách hàng đầu là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, tác động
mạnh mẽ đến các hoạt động trên các lĩnh vực, đặc biệt quan trọng đối với việc
tăng cường xã hội hoá GD và đẩy mạnh QHQT để bổ sung thêm nguồn lực cho
GD - ĐT và sớm hội nhập khu vực và quốc tế.
Đối với trường ĐH Vinh, trong xu thế hội nhập quốc tế ngày càng mạnh
mẽ như hiện nay, nhà trường đã thiết lập và đẩy mạnh các mối quan hệ hợp tác
với một số tổ chức, cá nhân nước ngoài nhằm huy động mọi nguồn lực để hỗ trợ
nâng cao chất lượng đào tạo ĐH. Trong bối cảnh đó, Nhà trường đã tiếp nhận,
QLTH một số các DA đầu tư về GDĐH , NCKH…. Tuy vậy, từ trước đến nay,
chưa có tác giả nào cũng như chưa có công trình nào nghiên cứu về vấn đề
QLTH DA GD nói chung trong các trường ĐH và trong trường ĐH Vinh nói
riêng. Chính vì vậy, việc tổ chức nghiên cứu để tài: “MỘT SỐ BIỆN PHÁP TĂNG
CƯỜNG QLTH TIỂU DỰ ÁN GIÁO DỤC ĐẠI HỌC TRONG TRƯỜNG ĐH VINH” là đòi
hỏi cấp thiết nhằm tìm ra các biện pháp phù hợp để tăng cường công tác QLTH
TDA GDĐH trong trường ĐH Vinh, từng bước hoàn chỉnh cơ chế quản lý công
tác thực hiện DA giáo dục, góp phần thiết thực vào nâng cao chất lượng đào tạo,
đúng như tên gọi của nguồn đầu tư là Quỹ NCCL đào tạo, nhằm đào tạo nguồn
nhân lực có trình độ cao phục vụ cho công cuộc CNH - HĐH đất nước.
Để làm sáng tỏ cơ sở lý luận của việc tăng cường công tác QLTH Tiểu
DA GDĐH trong trường ĐH Vinh, cần xác định rõ những khái niệm liên quan
đến tăng cường biện pháp QLTH TDA GDĐH và những yếu tố ảnh hưởng đến
công tác QLTH TDA GDĐH trong trường ĐH Vinh.
1.2. Một số khái niệm cơ bản có liên quan đến vấn đề nghiên cứu.
1.2.1. Quản lý và quản lý giáo dục
= 8 =
- Chức năng quản lý: Là loại hình đặc biệt của hoạt động điều hành, là sản
phẩm của tiến trình phân công lao động và chuyên môn hoá quá trình quản lý.
Quản lý có 4 chức năng cơ bản quan hệ khăng khít, tác động qua lại lẫn nhau
và tạo thành chu trình quản lý, đó là chức năng kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và
kiểm tra cùng các hoạt động chung khác là thông tin và ra quyết định. Mỗi
chức năng có vai trò, vị trí riêng trong chu trình quản lý. Thông tin là mạch
máu của quản lý. Ra quyết định là hoạt động thường xuyên của quản lý.
Quản lý GD - ĐT là hoạt động điều hành công tác đào tạo trong phạm vi của
ngành giáo dục.
- Thuật ngữ “giáo dục” thường được hiểu như một khái niệm chung để chỉ
nhận thức, học vấn về những giá trị nhân cách trong một giai đoạn phát triển
lịch sử. Nhân cách được cụ thể hoá bằng hàng loạt những giá trị, nhất là
những giá trị tiêu biểu. Hệ thống giá trị nhân cách được định hướng theo
những chuẩn mực cho từng thời kỳ phát triển KT - XH, cho các cấp bậc đào
tạo.
- Giáo dục/đào tạo ĐH được hiểu là bồi dưỡng đào tạo nhân cách ở bậc sau
phổ thông (bậc ĐH ). Bậc ĐH theo nghĩa rộng gồm cấp cao đẳng, ĐH , thạc
sỹ, tiến sỹ. Thông thường còn sử dụng khái niệm đào tạo ĐH và đào tạo sau
ĐH. Đào tạo ĐH gồm cấp cao đẳng và ĐH. Đào tạo sau ĐH gồm cấp thạc
sỹ và tiến sỹ.
- Thuật ngữ “đào tạo” thường được hiểu như một khái niệm để chỉ những giá
trị hiểu biết về kỹ năng nghề nghiệp, về khoa học, kỹ thuật, công nghệ...
Khái niệm đào tạo không nằm ngoài khái niệm giáo dục. Đào tạo phải có giá
trị nhân cách, vì mục tiêu đào tạo là toàn diện, phải có đức, có tài, có phẩm
chất chính trị.
= 10 =
Quản lý đào tạo bao gồm các lĩnh vực quản lý mục tiêu, nội dung, chương
trình, các chuẩn mực đào tạo, quy trình tổ chức đào tạo, việc giảng dạy, học tập
cũng như việc kiểm tra, đánh giá, kiểm soát các chuẩn mực đảm bảo chất lượng.
Nhiệm vụ trung tâm của nhà trường là đào tạo. Chất lượng đào tạo quyết định sự
- Một DA có bản chất tạm thời; có nghĩa là nó có một điểm xuất phát và đích
đến cụ thể. Một DA được định nghĩa kỹ gồm các công việc nhỏ (các phần
việc) và thường rốt cuộc dẫn đến việc tạo ra một sản phẩm hoặc sản phẩm
chung cuộc (Các sản phẩm bàn giao). Sẽ có một trình tự thi hành được ưu tiên
đối với các công việc của DA (lịch biểu).
- Một DA là một công việc duy nhất, một lần; nó sẽ không bao giờ được thực
hiện lại y như vậy, bởi những người như vậy và trong một môi trường như
vậy nữa.
Sẽ luôn có một mức độ không chắc chắn nào đó kết hợp với DA của bạn.
Tính không chắc chắn này tiêu biểu cho sự rủi ro – một mối đe doạ luôn có mặt
đối với khả năng lập các kế hoạch cuối cùng và tiên đoán các kết quả có các mức
độ tin tưởng cao. Tất cả các DA đều tiêu thụ các tài nguyên – các tài nguyên
theo dạng thời gian, tiền bạc, các vật tư và các lao động. Một trong những nhiệm
vụ chính của nhà quản lý DA là phục vụ như người quản lý chung các tài nguyên
này một cách có hiệu quả.
Quản lý DA :
Các tài liệu về quản lý DA hiện đại không đề cập đến định nghĩa DA mà
đi ngay vào việc giải quyết những vấn đề cụ thể [53].
- Viện quản lý DA định nghĩa quản lý DA là “… ứng dụng kiến thức, các kỹ
năng, các công cụ và các kỹ thuật vào các hoạt động DA để đáp ứng các yêu
cầu của DA ” [48].
Các DA thường có các giai đoạn DA (vòng đời DA ) có thể định danh và
mỗi giai đoạn có một loạt các thách thức duy nhất đối với nhà quản trị DA . Nếu
= 12 =
xem tiến trình DA từ cấp cao nhất, ta có thể định danh bốn giai đoạn DA cơ bản
và nên tiếp cận quản lý DA theo mô hình bốn giai đoạn dưới đây:
- Trong giai đoạn đầu tiên, giai đoạn Khởi đầu, nhu cầu được định danh. Một
đáp ứng thích hợp đối với nhu cầu được định danh. Một đáp ứng thích hợp
đối với nhu cầu được xác định và được mô tả. ( Đây thực tế là nơi DA bắt
đầu). Các nhóm làm việc tham gia được định danh.
hành chính.
Thực hiện DA :
Việc thực hiện DA được tiến hành thông qua người quản lý DA. Ban điều
hành sử dụng nguồn lực được cung cấp cùng với những nguồn lực sẵn có hoặc
bổ sung thêm để đạt các mục tiêu của DA. Đối với các tổ chức khác nhau, việc
thực hiện DA phải tính đến những yếu tố: cấu trúc tổ chức, mối quan hệ giữa
đơn vị thực hiện DA và tổ chức.
Quá trình thực hiện DA phải tuân theo tiến độ đã đưa ra. Mẫu biểu dùng
trong quản lý phải thống nhất. Nguồn lực được sử dụng theo kế hoạch và được
cung cấp theo các điều khoản đã được ký kết. Các báo cáo tiến độ thực thi và các
điều kiện bảo đảm cũng những khó khăn xuất hiện được gửi định kỳ đến các cơ
quan chức năng.
1.3. Tổng quan về DA GDĐH
1.3.1. Tổng quan về DA GDĐH Việt Nam
Để đạt được các mục tiêu cải cách GDĐH trong giai đoạn mới, chính phủ
Việt Nam với sự hỗ trợ tín dụng của Hiệp hội phát triển quốc tế (IDA) – Ngân
hàng Thế giới (WB) thực hiện DA GDĐH .
Mục tiêu của DA GDĐH chủ yếu dựa trên các nội dung sau đây:
= 14 =
- Nâng cao tính gắn kết, tính linh hoạt và thích ứng của hệ thống GDĐH đối
với các nhu cầu đa dạng, ngày càng cao của sự nghiệp phát triển KT -XH.
- Nâng cao chất lượng đào tạo và nghiên cứu của các trường ĐH
- Nâng cao hiệu quả của việc sử dụng nguồn lực trong toàn hệ thống và trong
từng trường ĐH .
DA GDĐH gồm có 3 thành phần hợp thành, như sau:
Tên thành phần Nội dung của các thành phần
Thành phần 1: Hỗ trợ việc nâng cao năng lực quản lý, điều hành ở cấp hệ
thống và ở các trường ĐH (thuộc phạm vi DA )
Thành phần 2:
(Quỹ NCCL –
các mục tiêu sau:
- Khuyến khích việc củng cố và phát triển các ĐH đa ngành.
- Cải tiến chương trình đào tạo, nâng cấp và trang bị mới thiết bị, cập nhật các
tài liệu giáo trình – hiện đại hoá phương pháp giảng dạy và chương trình đào
tạo nhằm đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động trong thời kỳ đổi mới của
đất nước.
Quỹ NCCL có 3 mức tài trợ là: mức A, mức B và mức C. Một trường ĐH
đủ tiêu chuẩn tham dự có thể đề nghị và cũng có thể nhận được cả 3 mức tài trợ
A, B, C nếu các đề nghị thoả mãn các tiêu chuẩn đánh giá của từng mức.
Thành phần 3 nhằm trợ giúp năng lực về điều phối, thực hiện, mua sắm,
quản lý tài chính cùng với các dịch vụ tư vấn cần thiết để thực hiện DA . Thành
phần 3 đươc chia thành 3 thành tố:
- Ban Điều phối DA ;
- Các dịch vụ về mua sắm - đấu thầu;
- Các dịch vụ tư vấn về đơn xin tài trợ của Quỹ NCCL .
1.3.2. DA GDĐH với việc nâng cao chất lượng đào tạo của trường ĐH.
Bước vào thế kỷ XXI, chúng ta đang chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ
của KH - CN , sự phát triển năng động của các nền kinh tế, quá trình hội nhập và
toàn cầu hoá đang làm cho việc rút ngắn khoảng cách về trình độ giữa các nước
= 16 =
trở nên hiện thực hơn. KH - CN trở thành động lực cơ bản của sự phát triển kinh
tế xã hội. GD là nền tảng của sự phát triển KH - CN, các nước đang phát triển
tiến hành CNH - HĐH đất nước, để theo kịp các nước phát triển bằng cách sử
dụng các thành quả của KH - CN của thế giới hiện đại, bằng việc phát huy tiềm
năng lao động dồi dào được đào tạo chất lượng cao.
Đảng và Nhà nước đề ra chủ trương phải xây dựng cho được một nền kinh
tế hàng hoá theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Như vậy, cũng với sự phát triển
của thế giới, chúng ta đang xây dựng một nền kinh tế tri thức tuân theo sự điều
tiết bởi cơ chế thị trường. Đào tạo ĐH trở thành một loại “sản xuất nguồn nhân
lực” cũng phải tuân theo quy luật cạnh tranh của nền kinh tế thị trường và do đó
từ Ngân hàng Thế giới (WB), Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB), các tổ chức
quốc tế và các nước [5]. GDĐH với vị trí quan trọng riêng biệt của mình trong
hệ thống GD quốc dân và vị trí nòng cốt trong đào tạo nguồn nhân lực trình độ
cao để thoả mãn nhu cầu phát triển của xã hội, nên hầu hết các nước trong khu
vực và trên thế giới, nhất là các nước có nền kinh tế phát triển luôn quan tâm đến
GDĐH. Thực tế cho thấy, thông qua cải cách, GDĐH ở những nước này mà
nguồn nhân lực đào tạo ra có trình độ, thích ứng với việc làm trong xã hội, năng
lực tự tạo việc làm cho mình và cho người khác. Sản phẩm của GDĐH thời kỳ
mới là nguồn nhân lực có chất lượng cao và thực sự giữ vị trí vô cùng quan
trọng, nếu không nói là hàng đầu trong việc phát KT - XH và xây dựng đất nước.
DA GDĐH ra đời góp phần hỗ trợ kinh phí cho GDĐH Việt Nam thực
hiện nhiệm vụ và mục tiêu cơ bản đã đề ra.
1.3.3. Các dự án giáo dục ở Việt Nam
GD ở Việt Nam đã và đang nhận được sự hỗ trợ từ bên ngoài (DA GD
tiểu học thông qua vay tín dụng IDA hiện đang được tiến hành; DA về GD
trung học thông qua một DA của Ngân hàng Phát triển Á Châu – ADB). Tuy
nhiên, Chính phủ không thể giải quyết tất cả các vấn đề ở trên và cần sự hỗ trợ từ
= 18 =
bên ngoài để khởi xướng những sự thay đổi đáng kể trong hệ thống GDĐH. Bản
báo cáo phân tích được tiến hành giữa Chính phủ Việt Nam và Ngân hàng Thế
giới đã cho thấy những vấn đề thuộc lĩnh vực này có liên quan đến hai vấn đề
chủ yếu: (i) thiếu sự điều phối và gắn kết trong hệ thống GDĐH với tính chất là
một tổng thể; và (ii) thiếu sự tự chủ, sự tự chịu trách nhiệm, năng lực quản lý và
giảng dạy ở cấp nhà trường. Hai vấn đề cơ bản này bản thân chúng đã được thể
hiện theo 3 cách sau đây: (a) thiếu sự đáp ứng của hệ thông GDĐH với những
nhu cầu đòi hỏi đang được thay đổi của xã hội và của nền kinh tế thị trường; (b)
hiệu quả thấp của GDĐH; (c) chất lượng nghèo nàn của GDĐH. Sự tác động của
Ngân hàng Thế giới vào lĩnh vực GDĐH tập trung chủ yếu vào những vấn đề
trên và hướng vào những vấn đề có liên quan ở trong lĩnh vực GDĐH.
Các Bộ ngành ở Trung ương và Bộ GD - ĐT đã thể hiện khả năng của
ĐH đa ngành; (b) đã đưa ra chế độ học phí đối với sinh viên đồng thời cung cấp
học bổng trên cơ sở kết quả học tập và nhu cầu của sinh viên nghèo, đồng thời
tạo cơ hội học tập cho sinh viên nghèo bằng cách tạo cơ hội để sinh viên nghèo
có thể tiếp cận được với hệ thống tín dụng, vay tiền để đảm bảo sự công bằng
trong việc nhập học ĐH; (c) chuyển từ ĐH tinh hoa sang đào tạo đại chúng, cho
phép thành lập các ĐH gần như là tư thục (ĐH dân lập); và (d) cấu trúc lại tổ
chức giảng dạy trong một số trường ĐH lớn bằng cách chuyển sang đào tạo theo
moduyn/tín chỉ đã được xác định trong khuôn khổ văn bằng quốc gia đã được đề
ra.
Tăng cường công tác QLTH DA GDĐH với mục đích đáp ứng yêu cầu
nâng cao chất lượng GDĐH đối với chất lượng, số lượng nguồn nhân lực phục
vụ cho đất nước trong thời kỳ mới.
Theo điều 39 Luật GD 2005 “Mục tiêu của GDĐH và sau ĐH là đào tạo
người học có phẩm chất chính trị, đạo đức, có ý thức phục vụ nhân dân, có kiến
= 20 =
thức và năng lực thực hành nghề nghiệp tương xứng với trình độ đào tạo, có sức
khoẻ, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ tổ quốc”[36].
Trong xu thế hội nhập, dù muốn hay không thì Việt Nam cũng phải chịu
sự tác động mạnh mẽ của xu thế toàn cầu hoá. Trong Nghị quyết Đại hội IX của
Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục xác định 4 nguy cơ tụt hậu mà trong đó nguy
cơ tụt hậu về kinh tế được nhấn mạnh, để phát triển về kinh tế thì không có con
đường nào khác là phải đào tạo nguồn nhân lực đủ về số lượng, đạt về chất
lượng phục vụ sự nghiệp CNH - HĐH đất nước. DA GDĐH với các mục tiêu
chính được thiết kế phù hợp với yêu cầu đổi mới GDĐH, đáp ứng yêu cầu xã hội
đặt ra. Chính vì vậy, tăng cường QLTH DA GDĐH là hết sức cần thiết, nhằm
thực hiện tốt các mục tiêu góp phần nâng cao chất lượng đào tạo trong trường
ĐH .
1.4. Sự cần thiết của việc tăng cường quản lý DA trong GD ĐH
DA GDĐH là DA đầu tiên về GDĐH dùng vốn vay của Ngân hàng Thế giới và
là DA thứ hai về GD có sự hỗ trợ từ các ngân hàng quốc tế về nguồn kinh phí để
trường ĐH II
5 Tăng cường chất lượng và hiệu quả Inđônexia: GDĐH II
Chương 2:
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ THỰC HIỆN GIÁO DỤC ĐẠI HỌC
NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
2.1. Khái quát về sự hình thành và phát triển của trường Đại học Vinh
= 22 =
Trường ĐH Vinh được thành lập năm 1959 với tên gọi là Phân hiệu ĐHSP
Vinh, theo Nghị định 375/NĐ của Bộ GD (nay là Bộ GD - ĐT ), là trường
ĐHSP thứ 2 của nước Việt Nam Dân chủ Công hoà. Phân hiệu ĐHSP Vinh được
đặt tại thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An. Năm đầu tiên thành lập, trường có 17 cán
bộ, công chức và 158 sinh viên thuộc hai ban Toán - Lý và Văn – Sử. Sau 3 năm
xây dựng và trưởng thành, ngày 28/8/1962, Bộ trưởng Bộ GD ký quyết định số
637/QĐ đổi tên Phân hiệu ĐHSP Vinh thành Trường ĐHSP Vinh. Qua quá trình
xây dựng và phát triển, sau gần 42 năm kể từ ngày thành lập, ngày 25/4/2001,
Thủ tướng Chính phủ ký quyết định số 62/2001/QĐ-TTg đổi tên trường ĐHSP
Vinh thành trường ĐH Vinh và giao nhiệm vụ cho trường:
- Đào tạo giáo viên có trình độ ĐH và từng bước mở thêm các ngành đào tạo
khác phù hợp với khả năng của Trường và nhu cầu nhân lực của xã hội;
- Nghiên cứu khoa học phục vụ phát triển KT - XH.
Hiện nay, Trường Đại học Vinh có 18 khoa đào tạo với 34 ngành, 64 tổ bộ
môn, gần 23 nghìn học sinh – sinh viên, 1 khối phổ thông chuyên Toán – Tin, 15
đơn vị Phòng, Ban, Trung tâm và các đơn vị phục vụ trực thuộc Trường, khoa
Đào tạo Sau ĐH có 31 chuyên ngành đào tạo Thạc sỹ, 09 chuyên ngành đào tạo
Tiến sỹ, với gần 798 cán bộ, công chức, trong đó cán bộ công chức hành chính
306 chiếm khoảng 38%, cán bộ giảng dạy 492 chiếm gần 62% gồm: 2 Giáo sư,
28 Phó giáo sư, 4 giảng viên cao cấp, 4 giáo viên phổ thông trung học cao cấp,
89 tiến sỹ, 113 giảng viên chính, 261 thạc sỹ, số còn lại có trình độ ĐH và CĐ,
trong đó số công chức dưới trình độ ĐH và CĐ là 90.
Từ ngày thành lập đến nay Trường đã đào tạo được 42 khoá sinh viên,
Hoạt động HTQT của trường ĐH Vinh trong những năm qua được đẩy
mạnh, Tháng 12 năm 2003, Trường đã thành lập phòng Quan hệ Quốc tế. Hiện
tại, Trường đã thiết lập được mối quan hệ với các trường ĐH, viện nghiên cứu
= 24 =
trong nước và trên thế giới như Lào, Thái Lan, Hàn quốc, Pháp, Đức, Canada,
Na-uy, Hà Lan, các nước trong khối Liên xô và Đông âu (cũ)…
Thông qua các quan hệ hợp tác nhiều mặt với các tổ chức trong và ngoài
nước, nhất là các tổ chức quốc tế, Nhà trường thường xuyên nhận được sự trợ
giúp hỗ trợ về mặt KH - KT, NCKH, tài chính…. Nhiều DA như : DA GDĐH ,
DA nghiên cứu xoá đói giảm nghèo, DA công nghệ sinh học, DA công nghệ
thông tin … đã và đang triển khai có hiệu quả, góp phần nâng cao chất lượng đào
tạo ĐH , đồng thời tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học cho các
phòng thí nghiệm cũng như các giảng đường dạy học, Trung tâm Thông tin –
Thư viện.
Chiến lược phát triển của ĐH Vinh từ nay đến năm 2010 là “xây dựng nhà
trường trở thành một trung tâm đào tạo đa ngành, đa lĩnh vực có uy tín”. Để làm
được điều này, trường tập trung mở rộng quy mô cùng với nâng cao chất lượng
đào tạo đang là mục tiêu ưu tiên hàng đầu. Bởi vậy, trường luôn tìm các biện
pháp đổi mới và hiện đại hoá nội dung, chương trình, phương pháp giảng dạy và
cơ sở vật chất kỹ thuật.
Trường ĐH Vinh đang tập trung mọi nỗ lực để nâng cao chất lượng đào
tạo toàn diện đối với tất cả các ngành và các hệ đào tạo trong trường. Nhà trường
huy động mọi nguồn lực để hỗ trợ cho GD - ĐT. Một trong những hỗ trợ có hiệu
quả đó là các DA đầu tư hỗ trợ về tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy
học đổi mới phương pháp giảng dạy… Các DA được thực hiện sẽ góp phần
quan trọng trong việc tăng cường năng lực cho Trường ĐH Vinh nhằm nâng cao
chất lượng đào tạo nhân lực KH - CN, đẩy mạnh hoạt động NCKH, ứng dụng
KH - CN tiến bộ vào thực tiễn sản xuất và đời sống. Đây sẽ là sự đột phá cho
quá trình chuyển đổi theo hướng đào tạo đa ngành, đa lĩnh vực trên cơ sở một
môi trường học tập và giảng dạy hiện đại, phát huy sáng tạo và gắn với thực tiễn