Trường Đại Học Sư Phạm Thành Phố Hồ Chí Minh
Khoa Lịch Sử
BÀI TẬP KẾT THÚC MÔN HỌC
Chuyên đề: “Một số vấn đề lịch sử triều Nguyễn thế kỷ XIX”
Đề tài
GVHD: TS -Trần Thị Thanh Thanh
SVTH: Đỗ Thị Hạt
Lớp: Sử 3a - Khóa 33
Năm học: 2009 - 2010
GVHD: TS - Nguyễn Thị Thanh Thanh SVTH: Đỗ Thị Hạt
Tp. Hồ Chí Minh, tháng 01/2010
Trang 2
GVHD: TS - Nguyễn Thị Thanh Thanh SVTH: Đỗ Thị Hạt
MỤC LỤC
I) Mở đầu....................................................................................................................4
1.1. Lí do chọn đề tài.............................................................................................................4
2) Lịch sử nghiên cứu vấn đề................................................................................................5
3) Phương pháp nghiên cứu.................................................................................................11
II) Nội dung...............................................................................................................12
Phần I: Bối cảnh lịch sử triều Nguyễn (1802-1858)..................................................12
1) Bối cảnh quốc tế và khu vực nửa đầu thế kỉ XIX...........................................................14
2) Bối cảnh trong nước........................................................................................................16
a) Tình hình chính trị.......................................................................................................16
b) Tình hình kinh tế.........................................................................................................19
Nông nghiệp...................................................................................................................19
Công thương nghiệp.......................................................................................................21
Thương nghiệp...............................................................................................................22
c) Tình hình văn hóa tư tưởng.........................................................................................24
d) Tình hình xã hội...........................................................................................................24
đánh giá đúng mức giữa công và tội, nhưng phải đặt nhân vật đó trong bối cảnh lịch
sử cụ thể để có cái nhìn một cách khách quan nhất.
Trong thực tế của cuộc sống, có nhiều nhân vật lịch sử vẫn còn là “khoảng
trống” đối với chúng ta. Bởi lẽ, không phải không có những công trình nghiên cứu về
nhân vật đó, cũng không phải nhân vật đó không có đặc điểm gì nổi bật, mà hình
như chúng ta đã “vô tình” không biết đến, và Nguyễn Công Trứ là một trong số mà
chúng ta đã “vô tình” như vậy. Lời mở đầu trong cuốn cuộc đời và sự nghiệp của Uy
Viễn Tướng công Nguyễn Công Trứ, giải nguyên Lê Thước có nhận xét về ông như
sau: “Thường xét nước ta có một vĩ nhân, nói về công thời công rất lớn, nói về đức
thời đức rất dày, mà nói về ngôn thì ngôn luận văn chương rất có giá trị. Nước nhà
có một bậc vĩ nhân như vậy, quốc dân ta há không nên tôn sùng, nên kỉ niệm, nên
tượng đồng bia đá hay sao? Bậc vĩ nhân ấy là ai? Là cụ Nguyễn Công trứ vậy. Nay
chinh Nam, phạt Bắc, thế là công; tịch thổ thực dân, thế là đức; văn chương lỗi lạc,
ngôn luận hùng hồn thế là ngôn. Công như vậy, đức như vậy, ngôn như vậy, mà cái
danh thơm của Tướng công hình như trong quốc dân còn ít kẻ biết mà ca tụng, xưng
Trang 4
GVHD: TS - Nguyễn Thị Thanh Thanh SVTH: Đỗ Thị Hạt
dương là bởi vì hành trạng của Tướng công ít kẻ hiểu được rõ, văn chương của
Tướng công ít kẻ biết được tường”
1
. Thái Bình - năm xưa nơi đây ông đã có công
khai phá đất Tiền Hải (hiện nay huyện Tiền Hải thuộc tỉnh Thái Bình). Là người con
của quê hương, khi mới bước vào giảng đường Đại học có một đứa bạn trong lớp
đã hỏi tôi: Ai là người khai phá đất Tiền Hải? và câu trả lời của tôi là “mình không
biết”. Lúc đó tôi vừa thấy xấu hổ với bạn bè, vừa cảm thấy có lỗi với ông bà tổ tiên.
Nơi đây không phải quê hương chính của Nguyễn Công Trứ nhưng là nơi mà ông
đã sinh ra. Là một người con của quê hương và sau này là một giáo viên dạy lịch
sử, tôi rất muốn đi sâu tìm hiểu về ông – tôi nghĩ đó là một việc nên làm và cần làm.
Để thông qua đó, tôi được bổ sung và nâng cao kiến thức, mở rộng hiểu biết của
mình để có cái nhìn thấu đáo hơn về con người và sự nghiệp của ông, nó cũng là
tỷ mỷ, bởi vì mỗi hành trạng của ông đều có liên quan chặt chẽ với triều Nguyễn và
lịch sử dân tộc. Phần ghi chép về thời kì nhà Nguyễn khôi phục vương triều đoạn
mất nước (1802-1884) thuộc các tập từ tập II đến tập XXXVII, được chia làm 4 kỷ
theo 4 triều vua: đệ nhất kỷ (Gia Long), đệ nhị kỷ (Minh Mệnh), đệ tam kỷ (Thiệu Trị),
đệ tứ kỷ (Tự Đức). Riêng phần đệ nhị kỷ, từ tập XVIII đến tập XXII, cũng đã có 60
chỗ chép về ông.
Sang đến thế kỷ XX, năm 1928 có “Sự nghiệp và thi văn của Uy viễn Tướng
Công Nguyễn Công Trứ” của Lê Thước, nhà in Lê Văn Tân, 136 Rue du Conton,
HN. Nội dung tác phẩm gồm 2 phần. Phần thứ nhất là phần mở đầu nói về lịch sử cụ
Nguyễn Công Trứ từ thời hàn vi, thời hiển đạt đến thời hưu trí và công nghiệp của
cụ đó là công đánh giặc và công khẩn hoang. Phần thứ hai đề cập đến thơ văn của
cụ là tập hợp các bài thơ, bài phú, câu đối, ca trù, tuồng, tấu sớ nói về chính trị.
Phần thứ ba là phần phụ lục là các bài thơ, bài ca trù còn nghi ngờ có kẻ nói là của
cụ, có kẻ nói là của người khác; các bài Hán văn, bài Việt nói về chính trị Nguyễn
Công Trứ. Trong lời mở đầu của tác giả: “Người xưa có nói có nói rằng: ở đời có ba
điều bất hủ : Một là lập công, hai là lập đức, ba là lập ngôn. Lập công tất là công
nghiệp vẻ vang trong bốn cõi; lập đức tất là đức - trạch lưu truyền đến muôn đời, lập
ngôn là ngôn luận văn chương, có bổ ích cho nhân dân thế đạo. Trong ba điều ấy,
có được một vẫn đã khó, mà gồm được cả ba chưa dễ mấy ai. Thường xét nước ta
có một bậc vĩ nhân, nói về thời công rất lớn, nói về đức thời rất dày, mà nói về ngôn
thì ngôn luận văn chương rất có giá trị. Nước nhà có một bậc vĩ nhân như vậy, quốc
dân ta há không nên tôn sùng, nên kỷ niệm, nên tượng đồng bia đá hay sao? Bậc vĩ
nhân ấy là ai? Là cụ Uy viễn Tướng công Nguyễn Công Trứ vậy. Nay chinh Nam,
phạt Bắc, thế là công; tịch thổ thực dân, thế là đức, văn chương lỗi lạc, ngôn luận
Trang 6
GVHD: TS - Nguyễn Thị Thanh Thanh SVTH: Đỗ Thị Hạt
hùng hồn thế là ngôn. Công như vậy, đức như vậy, ngôn như vậy, mà cái danh thơm
của Tướng công hình như trong quốc dân còn ít kẻ biết mà ca tụng, xưng dương là
bởi vì hành trạng của Tướng công ít kẻ biết được tường. Vì lẽ ấy chúng tôi đã ra
công khảo sát biên tập thành quyển sách này, trước chép rõ hành trạng của Tướng
trang 3.
3
Thơ văn Nguyễn Công Trứ, Trương Chính biên soạn và giới thiệu, Nxb Văn học, 1983, trang 4
Trang 7
GVHD: TS - Nguyễn Thị Thanh Thanh SVTH: Đỗ Thị Hạt
khá đầy dủ qua bản của gia đình, qua các bản chữ Nôm và các bản chữ Quốc ngữ,
trong đó có bản của cụ Lê Thước. Các tác giả đã sắp xếp các tác phẩm của ông
theo thể loại và thứ tự thời gian sáng tác như: thơ, phú,câu đối, ca trù. Có những bài
Nguyễn Công Trứ làm “đùa cho vui” các tác giả đã đưa vào phần Giai thoại. Phần
Giai thoại cũng xếp theo thứ tự thời gian. Giai thoại là những câu chuyện có thật,
cũng có thể là chuyện hư cấu, nhưng cũng phản ánh phần nào tâm sự, tính cách
của nhà thơ. Không phải nhân vật lịch sử nào cũng có giai thoại, phải là những
người có đặc điểm nổi bật và được mọi người ưa thích, mới có giai thoại mà truyền
như Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát là những con người như thế. Cuối cùng, tác
phẩm “Thơ văn Nguyễn Công Trứ” là những lời bình phẩm của người đương thời.
Qua tác phẩm chúng ta có thể có được những nhận định tương đối đúng về thân
thế, tư tưởng và sự nghiệp nhà thơ.
Nghiên cứu về nhân vật lịch sử này còn có “Đôi điều về tồn chất Nguyễn Công
Trứ” của Mai Khắc Ứng. Trong lời kết tác giả có nhận định rằng: “Nguyễn Công Trứ
là con người của hôm trước và con người của hôm sau xuất hiện trong giai đoạn đặc
trưng nhất của lịch sử dân tộc. Ông là dấu nối giữa hai thời kỳ phân liệt tan rã (bởi
nội chiến) và hàn gắn phục hưng (bởi nhu cầu thống nhất) trở thành người tiên
phong dẹp loạn, tiên phong khai hoang lập ấp, tiên phong đề xuất tổ chức lại quân
đội và xây dựng pháo đài phòng thủ. Từ bối cảnh đó, một con người văn võ song
toàn như ông, mặc nhiên phải đứng về phía ngày mai của một quốc gia thịnh vượng,
hùng cường. Bởi thế, ở bất kì lĩnh vực nào, nếu ông có mặt, dù gián tiếp vẫn đọng lại
những dấu ấn mang tầm trí tuệ, mang tính thời đại điển hình”
4
. Năm 1990, Nguyễn
Cảnh Minh- Đào Tố Uyên có “Công cuộc khẩn hoang thành lập huyện Kim Sơn” (Kỉ
tra cứu tài liệu dễ dàng hơn. Phần hai là những công trình nghiên cứu tiêu biểu qua
các thời kì của các thế hệ nhà nghiên cứu khác nhau. Trật tự thời gian công bố các
bài viết, các cuốn sách về Nguyễn Công Trứ sẽ giúp bạn đọc theo dõi quá trình vận
động, diễn biến, thay đổi của tư tưởng, phương pháp và quan điểm nghiên cứu về
Nguyễn Công Trứ qua các thời kì lịch sử, chỉ ra đâu là những đóng góp riêng cá
nhân từng nhà nghiên cứu trong việc nghiên cứu, lí giải Nguyễn Công Trứ.
Nguyễn Công Trứ trong dòng lịch sử (NXB Nghệ An), Uy viễn Tướng công
Nguyễn Công Trứ qua 81 giai thoại (NXB Lao động), Nguyễn Công Trứ 36 bài thơ
(NXB Lao động) - 3 tập sách về danh hào Nguyễn Công Trứ đã được Trung tâm Văn
hoá ngôn ngữ Đông Tây trình làng đúng vào dịp kỷ niệm 230 năm ngày sinh và 150
năm ngày mất của ông. Đây là bộ sách hay giúp bạn đọc có được những hiểu biết
hữu ích về cuộc đời, tác phẩm của vị danh nhân này.
Trang 9
GVHD: TS - Nguyễn Thị Thanh Thanh SVTH: Đỗ Thị Hạt
Cuốn thứ nhất: “Nguyễn Công Trứ trong dòng lịch sử” là tập sách dày dặn và
công phu đã ra mắt vào tháng 12/2008 (chủ biên Đoàn Tử Huyến, NXB Nghệ An)
mang lại một chân dung toàn diện và trung thực nhất về con người ông, sàng lọc
những nhận định, đánh giá về cuộc đời và các phạm vi hoạt động của danh nhân
Nguyễn Công Trứ, để tìm ra những giá trị nhân cách và bài học xã hội cần thiết cho
sự tiếp tục phát triển của đất nước.
Nhóm biên soạn gồm nhà sử học Chương Thâu, nhà nghiên cứu Trần Nho
Thìn, dịch giả Đoàn Tử Huyến và Ths Nguyễn Hoàng Diệu Thủy, với sự giúp đỡ của
TS Nguyễn Thị Lâm (Viện nghiên cứu Hán Nôm), TS Nguyễn Đức Mậu (Viện nghiên
cứu văn học), cùng nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước. Tập sách, ngoài bài
tiểu luận mở đầu mang tính khái quát về Nguyễn Công Trứ với thời đại chúng ta”
của PGS –TS Trần Nho Thìn, là hai phần lớn: Phần thứ nhất: Tác phẩm Nguyễn
Công Trứ - tập hợp trên cơ sở khảo cứu kỹ lưỡng (đối chiếu, khảo dị với các nguồn
chữ Nôm và Quốc ngữ các văn bản gốc và các văn bản tồn nghi của Nguyễn Công
Trứ mà chúng ta biết được cho đến ngày nay gồm thơ Nôm, thơ chữ Hán, hát nói,
phú, câu đối, tuồng, văn sách, tấu sớ...Đọc một câu thơ nào đó, độc giả có thể biết
Nguyễn Công Trứ khá rõ nét với lý tưởng kẻ sĩ lớn lao, niềm tự tin vào bản thân, vẻ
ngông nghênh ngạo đời và cuối cùng, đọng lại một nụ cười ung dung, thanh thản.
Có thể nói, bộ sách về Nguyễn Công Trứ đã giúp người đọc hình dung một
chân dung thống nhất trong sự đa dạng của con người ông: Một nhà thơ, một văn
quan, một võ tướng, một nhà khẩn hoang, mà ở lĩnh vực nào cũng để lại thành tựu
to lớn; đồng thời lại là một "tay chơi" ngang tàng, ngạo nghễ.
3) Phương pháp nghiên cứu
Về phương pháp nghiên cứu, trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tôi
sử dụng hai phương pháp cơ bản trong nghiên cứu lịch sử là phương pháp lịch sử
và phương pháp logic. Ngoài ra phương pháp so sánh, phương pháp liên ngành có
liên quan đến đề tài như triết học, quân sự, văn học, xã hội… cũng đã được vận
dụng trong quá trình thực hiện đề tài.
Từ nguồn tư liệu có liên quan, tôi xác định đề tài theo quan niệm tư liệu quyết
định nội dung nghiên cứu. Chủ đề chính của bài tiểu luận tìm hiểu về cuộc đời và sự
nghiệp của Nguyễn Công Trứ. Đặt ông trong bối cảnh lịch sử để nhìn nhận, đánh giá
ở nhiều góc độ và khía cạnh khác nhau.
Để thực hiện đề tài này, bên cạnh phương pháp lịch sử, tôi còn sử dụng
phương pháp logic, là phương pháp xem xét vấn đề theo quan điểm vận động, phát
triển theo quy luật nội tại của nó, trong mối liên hệ phổ biến với các vấn đề khác
Trang 11
GVHD: TS - Nguyễn Thị Thanh Thanh SVTH: Đỗ Thị Hạt
nhằm đi sâu để đưa ra những nhận xét, đánh giá của bản thân về vấn đề muốn
nghiên cứu.
Bài tiểu luận này chỉ là tập hợp các nguồn tư liệu khác nhau có liên quan đến
cuộc đời và sự nghiệp của Nguyễn Công Trứ để đi sâu tìm hiểu về ông. Nhìn chung
cũng chưa có đóng góp gì mới cho nghiên cứu khoa học.Tuy nhiên, giữa mong
muốn tìm hiểu, nghiên cứu và năng lực thực tế của cá nhân còn có một khoảng cách
không nhỏ, đề tài nghiên cứu của tôi chắc chắn còn nhiều điều bất cập, thiếu xót cần
phải chỉnh sửa, kính mong thầy cô và các bạn đóng góp ý kiến xây dựng để đề tài
này được hoàn thiện hơn.
Nguyễn, ghi nhận những đóng góp nhất định của triều đại này đối với lịch sử.
Để tìm hiểu và đánh giá một nhân vật lịch sử nào đó chúng ta phải đặt nhân vật lịch
sử đó trong bối cảnh lịch sử cụ thể. Do đó trong quá trình tìm hiểu về đề tài này
chúng ta cũng nên biết được bối cảnh mà Nguyễn Công Trứ đang sống?
Triều Nguyễn là triều đại cuối cùng của lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam. Có thể
nói lịch sử 143 năm của vương triều cuối cùng đó là lịch sử của những trang bi hùng
lẫn lộn. Lịch sử triều Nguyễn có thể tạm thời chia làm hai giai đoạn chính. Giai đoạn
thứ nhất (1802-1884) triều Nguyễn tồn tại với tư cách là một vương triều độc lập,
giai đoạn thứ hai (1885-1884) triều Nguyễn tồn tại chủ yếu với tư cách là một vương
triều tay sai của thực dân Pháp. Trong giai đoạn thứ nhất (1802-1884), các vua nhà
Nguyễn từ Gia Long đến (1802-1819), Minh Mạng (1820-1840) đến Thiệu Trị (1841-
1847), Tự Đức (1848-1883) kế tiếp nhau xây dựng và củng cố nền thống trị, bảo vệ
chế độ phong kiến trong bối cảnh khủng hoảng suy vong. Tuy nhiên, trong hơn nửa
thế kỉ tồn tại dưới triều Nguyễn, xã hội Việt Nam hầu như không phát triển lên được
theo chiều hướng tiến bộ của thời đại, mâu thuẫn xã hội sâu sắc làm bùng lên hàng
loạt cuộc khởi nghĩa lớn của nông dân, của các dân tộc ít người và cuối cùng trở
thành đối tượng xâm lược của chủ nghĩa thực dân phương Tây. Nhiệm vụ đặt ra
cho nhà Nguyễn lúc này là phải bảo vệ quốc gia thống nhất, giữ an ninh chính trị vừa
phải lo phát triển kinh tế- văn hoá, củng cố và phát triển tiềm lực quốc gia dân tộc
nhằm bảo vệ độc lập dân tộc, củng cố quyền lực của mình. “Dưới thời các vua
Nguyễn, đặc biệt là vào các giai đoạn đầu thế kỉ XIX, tình hình kinh tế, chính trị xã
hội nước ta diễn biến khá phức tạp, những cái xấu cái tốt, tiến bộ và bảo thủ, mạnh
và yếu…dường như đan xen vào nhau khiến cho sự nhận thức về triều đại này gặp
không ít những khó khăn. Nhiều cuộc tranh luận về một hiện thực lịch sử triều
Nguyễn cho đến nay vẫn chưa được giải quyết”
6
. Tuy nhiên, lúc này đứng trước
6
Lịch sử nhà Nguyễn - Một cách tiếp cận mới, NXB ĐHSP, 2005, trang 7
Trang 13
vùng đất đông dân, giàu có này. Trong cuộc chiến này không ít các quốc gia trong
khu vực kể cả các quốc gia lớn mạnh có nền văn minh văn hoá lớn như Ấn Độ,
Trang 14
GVHD: TS - Nguyễn Thị Thanh Thanh SVTH: Đỗ Thị Hạt
Trung Hoa… đã lần lượt gánh chịu thất bại, trở thành các nước thuộc địa của các
nước đế quốc trong chừng mực khác nhau. Trung Quốc, Nhật Bản, Xiêm, Việt
Nam….. đều từ chối thông thương với bên ngoài. Tại Trung Quốc chính sách này
được tăng cường từ giữa đời Thanh. Cuối thế kỷ XVIII đến đầu thế kỷ XIX nhà
Thanh chỉ mở một cửa biển Quảng Châu để thông thương với nước ngoài…..trong
khi đó sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế đã tạo tiền đề để các nước phương
Tây mở rộng bành trướng thuộc địa và “Chủ nghĩa tư bản không thể tồn tại và phát
triển rộng nếu không thường xuyên mở rộng phạm vi thống trị của nó, không khai
thác những xứ sở mới và không lôi cuốn các xứ sở cũ không phải là tư bản chủ
nghĩa và cơn lốc kinh tế thế giới”.
Các nước tư bản phương Tây đã đưa ra nhiều lý do để biện mình cho việc
đi tìm và xâm chiếm thuộc địa của mình. Chính sách bành trướng thuộc địa là động
cơ chung lôi cuốn các quốc gia phương Tây xâm lược thuộc địa, bất chấp mọi luật
lệ, quyền lợi của các dân tộc phương Đông để xâm nhập vào vùng đất giàu có - nơi
có ý nghĩa đặc biệt với các nước này, nơi cung cấp lương thực ,nguyên liệu, nhiên
liệu nhân công, nơi tiêu thụ hàng hoá của chính quốc và đem lại nguồn lợi nhuận
kếch xù cho nhà tư bản. Chính sự giàu có của vùng đất này cùng với nhu cầu thuộc
địa gia tăng, các nước tư bản phương Tây đã tìm mọi cách mở cửa vào thị trường
châu Á, trong khi xã hội Châu Á vẫn tiếp tục giấc mộng “bế quan toả cảng” cố thủ
trong một đường lối ngoại, tự cô lập. Và các nước phương Tây đã lợi dụng sự lạc
hậu, yếu kém về kinh tế, chính trị xã hội của các quốc gia này, dùng sức mạnh quân
sự buộc các nước mở cửa, tiến tới xâm lược.
Khu vực Đông Nam Á, một khu vực địa lý, lịch sử quan trọng, từ thế kỷ XVI đến
đầu thế kỷ XIX cũng bắt đầu quá trình suy thoái. Đối diện với văn minh phương Tây
và với nguy cơ xâm nhập của tư bản nước ngoài, giai cấp phong kiến cầm quyền ở
các quốc gia này tỏ ra lúng túng, bế tắc. Và trong thế kỷ XIX, Đông Nam Á đã trở
chúa Trịnh và Tây Sơn từng phải giương cao ngọn cờ “phù Lê”. Trong khi đó lãnh
thổ nước ta do nhiều năm bị chia cắt, chịu ảnh hưởng của nhiều thế lực, không có
được một sự phát triển đồng đều”… “Nguyễn Ánh và các cận thần thân tín của ông
tuy có thừa mưu lược chinh chiến để giành quyền lực, nhưng lại thiếu uy tín, kinh
nghiệm trong tổ chức quản lí đất nước. Tuy vậy việc xây dựng một nhà nước quân
chủ trung ương tập quyền vẫn là mục tiêu phấn đấu của Nguyễn Ánh sau khi diệt
7
Lịch sử nhà Nguyễn - Một cách tiếp cận mới, NXB ĐHSP, 2005,Trang 7
Trang 16
GVHD: TS - Nguyễn Thị Thanh Thanh SVTH: Đỗ Thị Hạt
nhà Tây Sơn, đồng thời cũng là trách nhiệm của ông trước một đất nước độc lập,
thống nhất có chủ quyền”
8
.
Sau khi lên ngôi vua Gia Long đã thiết lập lại bộ máy chính trị quân chủ. Gia
long, Minh Mạng giữ nguyên hệ thống cơ quan cũ của các triều đại trước. Triều đình
do vua đứng đầu, dưới nhà vua có 6 bộ (Bộ Lại, Bộ Hộ, Bộ Lễ, Bộ binh, Bộ hình, Bộ
công ), đứng đầu mỗi bộ là một vị quan thượng thư rồi đến các chức tả hữu tham tri,
tả hữu thị lang. Ngoài ra còn có các cơ quan chuyên môn như: Đô Sát Viện, Hàn
Lâm Viện.. đến đời vua Minh Mạng,có đặt thêm cơ mật viện để cùng vua bàn bạc
những việc quan trọng và Tôn Nhân Phủ để cai quản việc hoàng gia. Sợ quyền thần
lấn át hoàng đế từ thời gia long nhà nguyễn đã đặt lệ “tứ bất”: không đặt tể tướng,
không lấy trạng nguyên, không lập hoàng hậu và không phong tước vương.
Về tổ chức hành chính
Sau khi thành lập triều Nguyễn, Gia Long đã chọn Phú Xuân, đặt dinh Quảng
Đức tách từ trấn Thuận Hóa làm kinh đô. Trên cơ sở các đơn vị hành chính đã có,
Gia Long sắp đặt lấy Phú Xuân làm trung tâm, đặt miền Trung từ Thanh Hóa đến
Bình Thuận dưới quyền trực tiếp quản lí của triều đình. Phía Bắc từ Sơn Nam hạ trở
ra bao gồm 11 trấn gọi là Bắc thành, phía Nam từ trấn biên trở vào gồm 5 dinh, trấn
gọi là Gia Định thành. Chính quyền trung ương cai quản cả nước. “Có thể nghĩ rằng
.
Thực tế xã hội Việt Nam đầu thế kỷ XIX là một xã hội nông nghiệp chưa có điều
kiện kinh tế xã hội để xa rời đạo Khổng nhằm tìm đến một học thuyết khác mới hơn.
Ban đầu, quan lại được tuyển chọn từ những người trước đây theo Nguyễn Ánh
như còn sử dụng một số quan lại cao cấp là những người ngoại quốc như Senho
(Chaigneau), vanie (Vanier), Baridi (Barisy). “Đây không phải là chính sách cởi mở
trong việc dùng người mà chỉ là sự đền đáp công lao cho những người Pháp đã theo
Nguyễn Ánh trong thời kì chiến tranh Tây Sơn. Trong khi đó đối với nhà Tây Sơn, họ
Nguyễn đã thực thi chính sách trả thù khốc liệt”
11
. Những sự kiện đó chỉ làm cho đất
nước thêm rối ren.
Về quân sự
Nhà Nguyễn chủ trương xây dựng một quân đội thường trực mạnh. Vào cuối thời
Gia Long cả nước có tới trên 20 vạn quân, chia ra ít nhất là 4 binh chủng (bộ binh,
thủy binh, pháo binh và tượng binh). Binh lính phục vụ trong quân đội được hưởng
các chế độ ưu đãi. Nét mới trong nghệ thuật quân sự thời Nguyễn là bắt đầu có ảnh
hưởng của tư tưởng quân sự phương Tây. Quân đội tuy đông nhưng kém về luyện
tập, vũ khí thiếu và lạc hậu. Vì tầm mắt hạn hẹp, đến thời Tự Đức, các vua Nguyễn
còn bỏ nhiều tiền sang châu Âu mua súng mà không hề biết rằng những thứ vũ khí
mua được đều sản xuất trước năm 1848, thời gian trước khi châu Âu làm cuộc cách
mạng về vũ khí.
10
Theo PGS TS viện sử học Nguyễn Danh Phiệt, Một số vấn đề triều Nguyễn và xã hội Việt Nam
thế kỉ XIX, trang 15
11
Nguyễn Quang Ngọc (cb), Tiến trình lịch sử Việt Nam, NXB Giáo dục, 2007, trang 191
Trang 18
GVHD: TS - Nguyễn Thị Thanh Thanh SVTH: Đỗ Thị Hạt
Về luật pháp:
GVHD: TS - Nguyễn Thị Thanh Thanh SVTH: Đỗ Thị Hạt
quyết vấn đề ruộng đất. Một trong những phương thức quen thuộc nhằm mở rộng
ruộng đất của nhà Nguyễn là lập đồn điền khẩn hoang và khuyến khích nhân dân
khai hoang, phục hóa. Vấn đề càng trở nên cấp bách hơn là diện tích ruộng đất bỏ
hoang tăng thất thường. Ngay từ những năm 1802, 1803, Gia Long đã nhiều lần hạ
lệnh cho quan lại khuyến khích nhân dân, quân sĩ phục hóa, thế nhưng theo báo cáo
của quan lại Bắc Thành, ngay từ khi mới thiết lập được chính quyền, nhà Nguyễn đã
phải đối phó với tình trạng dân bỏ làng đi lưu tán, nhất là ở miền Bắc. “Năm 1806, số
làng bị đi phiêu tán ở Bắc Hà lên tới con số 370. Gia Long đã ban hành những chính
sách khuyến khích nông dân trở về làng cũ làm ăn, nhưng tình trạng dân bỏ làng
vẫn không được giải quyết. Năm 1862, riêng trong 13 huyện thuộc trấn Hải Dương
đã có 108 làng bị siêu tán. Chính sách ruộng đất của nhà Nguyễn không xuất phát từ
yêu cầu phát triển của sản xuất nông nghiệp mà chủ yếu nhằm làm bệ đỡ kinh tế
cho một Nhà nước tập quyền chuyên chế lấy nông nghiệp làm nền tảng.
Trong các biện pháp trọng nông, có hiệu quả nhất là chính sách Doanh điền.
“Năm 1828, theo đề xuất của Tham tán quân vụ Bắc Thành là Nguyễn Công Trứ một
hình thức khai hoang mới được ra đời: hình thức doanh điền. Đây là một hình thức
kết hợp giữa nhà nước và nhân dân trong khai hoang, theo đó dưới sự chỉ đạo của
một quan chức nhà nước và có sự góp vốn ban đầu của nhà nước, nhân dân cùng
nhau khai hoang. Ruộng đất sau khi khai hoang sẽ được phân phối cho những
người có công tùy theo thời điểm cho phép. Được sự đồng ý của Minh Mạng, Doanh
điền sứ Nguyễn Công Trứ đã tổ chức nhiều cuộc khai hoang lập làng lớn, trong đó
lớn nhất là việc thành lập hai huyện mới: Tiền Hải (Thái Bình) với 18 970 mẫu và
2350 đinh; Kim Sơn (Ninh Bình) với 14 620 mẫu và 1 260 đinh. Đồng thời ở đây xuất
hiện hai hình thức tư điền thế nghiệp và tư điền quân ấp. Hình thức doanh điền
được mở rộng ra các tỉnh phía Nam, diện tích ruộng đất tăng lên đáng kể.”
12
Ngoài
ra, triều Nguyễn còn khuyến khích nhân dân tự động tổ chức khai hoang theo nhiều
phương thức khác nhau, kết hợp với việc tích cực phục hóa. Có lẽ nhờ đó mà tổng
nặng nề.
Thủ công nghiệp: Cũng như các triều đại trước, bộ phận thủ công nghiệp thời
Nguyễn giữ một vị trí rất quan trọng được tiếp tục phát triển. đặc biệt là các nghề
gốm, sứ, kéo sợi, dệt vải lụa, nấu đường, khai mỏ. Có hai bộ phận thủ công nghiệp
là tư nhân và nhà nước – quan xưởng đều nằm trong vòng cương tỏa của biển tiểu
phong kiến.
Nhà nước rất quan tâm đến thủ công nghiệp. Minh chứng là việc Minh Mạng
tha thuế thân cho thợ mộc, thợ cửa thợ đóng thuyền ở Bắc Thành và Nghệ An;
thưởng cho các thợ khéo và cấp vốn cho một số ngành (ngành nấu đường ở Quảng
Ngãi, Quảng Nam …) Ở kinh đô nhà Nguyễn lập xưởng chế tạo lớn( tượng cục) ,
trưng tập các thợ giỏi trong cả nước,sản phẩm làm ra đạt chất lượg cao.
14
Nguyễn Quang Ngọc cb, tiến trình lịch sử Việt Nam, NXB Giáo dục, 2007, trang 194
Trang 21
GVHD: TS - Nguyễn Thị Thanh Thanh SVTH: Đỗ Thị Hạt
Nhìn chung, thủ công nghiệp nửa đầu thế kỷ XIX có sự phát triển mạnh song do
chính sách của nhà nước đã hạn chế sự phát triển này, những chính sách luật lệ
phong kiến làm cho những yếu tố kinh tế mới phát tiển khó khăn, chậm chạp.
Thương nghiệp
Từ cuối thế kỷ XVIII, thương nghiệp suy dần nhưng sang thế kỷ XIX đất nước
thống nhất, yên bình là điệu kiện thuận lợi cho việc buôn bán trao đổi.
Nội thương
Nhà Nguyễn đã thống nhất đơn vị đo lường tiền tệ, là cơ sở để hoạt động nội
thương phát triển. Việc sửa chữa hệ thống giao thông thủy bộ, khai đào hệ thống
sông ngòi, đắp đường…không chỉ phục vụ đắc lực cho nhu cầu hành chính và quân
sự mà còn thúc đẩy giao lưu kinh tế giữa các vùng, miền. Nhiều thị trấn, đô thị, phố
chợ xất hiện buôn bán sầm uất. Biểu hiện của sự phát triển này là sự giao lưu hàng
hóa trên một đất nước thống nhất, sự mở rộng và phát triển của thị trường địa
phương, sự ổn định tương đối của giá cả, tiền tệ. Tuy nhiên, chính sách độc quyền
một số mặt hàng, thể lệ thuế khóa phức tạp đã ảnh hướng không ít đến hoạt động
Philippines… ) để tiếp xúc giao thương.
Đối với việc buôn bán với các nước phương Tây, từ chỗ mở rộng thông thương
đến chỗ chủ trương “bế quan toả cảng” khước từ giao thương dã cho thấy chính
sách đối ngoại của triều Nguyễn, dù đã tiếp xúc với văn minh phương Tây sớm hơn
các nước phương Đông khác nhưng nhà Nguyễn vẫn chọn cho mình con đường
bảo thủ, đóng cửa vì nhận ra những mưu đồ của thực dân đằng sau việc lập các
thương điểm, mở rộng buôn bán. Điều này làm cho nhà Nguyễn cảnh giác và lo sợ
trước những âm mưu bành trướng của chủ nghĩa thực dân.
Đây cũng là lý do rất quan trọng ảnh hưởng đến chính sách cấm đạo của các
vua đầu triều Nguyễn.
Đến nửa đầu thế kỷ XIX, vấn đề canh tân đã trở thành vấn đề sống còn của
dân tộc, tuy nhiên các vua nhà Nguyễn đã không đủ quyết tâm, điều kiện để lựa
chọn giái pháp khó khăn đó dù đã ý thức được. Mặt khác, đây là lựa chọn khó khăn
nhưng lại không có khẳng định, đảm bảo nào cho sự thành công của những kế
hoạch canh tân đó nên nhà Nguyễn quyết định lựa chọn con đường thủ cựu, hoà
hiếu với Pháp. Canh tân đất nước nhà Nguyễn đã không làm trong khi đó lại thực
hiện chính sách “ức thương”, hạn chế thương nghiệp phát triển làm nguy hại đến
tiềm lực quốc gia và tạo cớ cho thực dân Pháp tiến hành can thiệp vũ trang vào
15
Dẫn theo Nguyễn Kim Tường Vy - Nguyên nhân Việt Nam mất nước vào tay thực dân Pháp
1802-1884, luận án Thạc sĩ trường ĐHSP TP.HCM, 2006, trang 33.
Trang 23
GVHD: TS - Nguyễn Thị Thanh Thanh SVTH: Đỗ Thị Hạt
nước ta. Như vậy việc cấm đạo không phải là nguyên nhân duy nhất đễ Pháp lấy cớ
xâm lược mà còn có nhiều nguyên nhân khác, trong đó có chính sách “ ức thương”
của triều đình.
Sự phát triển hạn chế của công thương nghiệp ở nửa đầu thế kỷ XIX đã không
tạo nên được những điều kiện cần thiết cho sự chuyển biến xã hội, đưa đất nước
thoát khỏi nguy cơ xâm lược của tư bản phương Tây mà chỉ tạo thêm cớ cho chúng
can thiệp vũ trang mà thôi.
đối lập hoàn toàn với lợi ích của dân tộc và nhân dân. Quyền lợi giai cấp ích kỉ và
những chính sách đối nội cực kì phản động làm cho chính quyền đó không tranh thủ
được một cơ sở xã hội vững mạnh”
17
. Phong trào nông dân nổi lên gần như trong
suốt đời Gia Long (1802-1819). Với truyền thống đấu tranh kiên cường và kinh
nghiệm phong phú của cuộc sống, nhân dân đã sớm nhận rõ bộ mặt nhà Nguyễn và
có thái độ rõ rệt ngay từ đầu. Gia Long là người sáng lập ra triều Nguyễn, được các
sử thần nhà Nguyễn ca ngợi như một “vĩ nhân”, dưới con mắt của người nông dân
Việt Nam là tên phản nước, hại dân. Chính các cuộc khởi nghĩa nông dân từ thời
Gia Long đến Tự Đức làm thước đo lòng dân đối với triều Nguyễn trong bối cảnh
nước nhà đang bị các nước thực dân phương Tây đe dọa xâm lược. Vương triều
Nguyễn tồn tại chỉ hơn một nửa thế kỉ nhưng đã chứng kiến hơn 400 cuộc khởi
nghĩa (đời Gia Long là 33 cuộc; đời Minh Mạng 234 cuộc; đời Thiệu Trị 58 cuộc; đời
Tự Đức tính đến 1862 là 40 cuộc). Hàng loạt các cuộc nổi dậy chống triều đình nổ ra
khắp nơi làm xáo trộn xã hội như tiêu biểu khởi nghĩa Phan Bá Vành, khởi nghĩa
Nông Văn Vân, Cao Bá Quát lãnh đạo.
Vì sao có quá nhiều cuộc nổi dậy vũ trang chống lại triều đình như vậy? Chính sử
sách nhà Nguyễn đã ghi nhận phần nào tình trạng cơ hàn thống khổ của nhân dân.
Do sưu cao thuế nặng, ruộng đất bị địa chủ quan lại kiêm tính nặng nề, đa số nông
dân vào cảnh bần cùng không lối thoát, phải liên tục nổi dậy để tìm đường sống.
Lịch sử cũng ghi nhận không chỉ nông dân mà một số nho sĩ trí thức, thậm chí cả
người trong hoàng tộc cũng nổi dậy chống triều đình (như loạn Hồng Tập, Hồng
Bảo, giặc Chày Vôi, giặc Châu Chấu…).
e) Ngoại giao
Nhà Nguyễn chủ trương thần phục nhà Thanh. Trong khi đó, các vua Nguyễn lại
sử dụng lực lượng quân sự bắt Cao Miên thần phục. Năm 1813, nhà Nguyễn thiết
lập chế độ bảo hộ ở Cao Miên. Năm 1835, Minh Mạng lập ra trấn Tây thành , định
sáp nhập đất Cao Miên vào hẳn lãnh thổ Việt Nam. Nhưng sau khi Minh Mạng qua
17